1
\
Luận văn: “Ngân hàng trung ương với chính sách
tiền tệ ở Việt Nam"
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương I: Tổng quan về Ngân hàng Trung ương
và chính sách tiền tệ 1
1. Ngân hàng Trung ương 1
1.1. Khái niệm Ngân hàng Trung ương 1
1.2. Chức năng của Ngân hàng Trung ương 1
2. Chính sách tiền tệ 3
4.2. Hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ 24
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO 5 MỞ ĐẦU
Cùng với việc chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN, nhiều chính
sách kinh tế mới được ban hành và phát huy tác dụng tích cực đáp ứng được nhu
cầu phát triển kinh tế, trong đó chính sách tiền tệ là một trong những chính sách
kinh tế có vai trò trung tâm và chủ yếu. Là tổ chức duy nhất có quyền hoạch
định và điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương đưa ra những quyết
sách về chính sách tiền tệ nhằm đối phó với những bất ổn định trong nước và cú
chính phủ, gánh trách nhiệm kiểm soát việc cung ứng tiền tệ và việc tài trợ cho
7
thâm hụt ngân sách Nhà nước của chính phủ, là cơ quan duy nhất có quyền phát
hành tiền.
1.2.1. Phát hành tiền và điều tiết mức cung tiền.
NHTW là ngân hàng độc quyền phát hành tiền và là ngân hàng đóng vai
trò quan trọng nhất trong điều tiết mức cung tiền có nghĩa là NHTW là người
duy nhất được phép phát hành tiền theo các quyết định trong luật hoặc được
chính phủ phê duyệt nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu
thông tiền tệ của quốc gia, mọi hoạt động cung ứng tiền của NHTW sẽ ảnh
hưởng đến tổng phương tiện thanh toán trong xã hội và do đó ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế. Trách nhiệm của NHTW ở chức năng này đó là việc xây
dựng số lượng tiền cần phát hành và thời điểm phát hành cũng như phương thức
phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế.
Ba công cụ quan trọng nhất mà NHTW có thể sử dụng để tác động vào
lượng cung ứng tiền tệ đó là: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ suất triết khấu và nghiệp
vụ thị trường mở.
+Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền mặt với tiền gửi
mà NHTW yêu cầu các NHTM phải duy trì
+Tỷ suất triết khấu: là lãi suất mà NHTW tính với các NHTM khi họ
muốn vay tiền.
+Nghiệp vụ thị trường mở phát sinh khi NHTW thay đổi cơ số tiền bằng
cách mua hoặc bán ra các chứng khoán tài chính trên thị trường mở.
1.2.2. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng.
8
Khi thực hiện chức năng này, NHTW cung ứng đầy đủ các dịch vụ của
một ngân hàng cho các Ngân hàng trung gian (NHTG). Bao gồm:
+ Mở tài khoản tiền gửi và quản lý tiền dự trữ của hệ thống NHTM. Tiền
+ NHTW quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
NHTW là người xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT).
Cụ thể: NHTW là người chủ trì thiết kế và thực thi CSTT quốc gia, kế hoạch
cung ứng lượng tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm, điều hành các công cụ
thực hiện CSTT, thực hiện việc đưa tiền ra lưu thông, rút tiền từ lưu thông về
theo tín hiệu của thị trường làm tác động đến điều kiện tín dụng và do đó tác
động đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
2. Chính sách tiền tệ (CSTT).
2.1. Khái niệm và cơ chế thực hiện chính sách tiền tệ.
2.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ.
10
CSTT là một hệ thống những quan điểm, giải pháp, những cách thức mà
NHTW thực hiện nhằm tác động tới cung ứng tiền trong nền kinh tế và ảnh
hưởng đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW,
thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng
tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu về sản lượng, giá cả và công ăn việc
làm.
2.1.2. Cơ chế thực hiện CSTT.
Quá trình thực hiện CSTT bao giờ cũng được diễn ra theo một cơ chế nhất
định. Trong cơ chế này, NHTW sẽ là người thiết kế và điều hành CSTT. Một
CSTT của một quốc gia có thể được thực hiện theo hai hướng:
+ CSTT “nới lỏng” là chính sách nhằm tăng thêm khối lượng tiền tệ cung
ứng cho nền kinh tế làm cho tiền trở nên dồi dào, lãi suất hạ xuống từ đó kích
thích tiêu dùng và đầu tư. Kết quả của CSTT “nới lỏng” là sản lượng tăng, nền
kinh tế tăng trưởng cao với tỉ lệ thất nghiệp thấp.
+ CSTT “thắt chặt” là chính sách nhằm giảm khối lượng tiền tệ cung ứng cho
nền kinh tế làm cho tiền tệ trở nên khan hiếm về số lượng, lãi suất bị đẩy lên
cao, tổng cầu giảm và do đó giá cả trên thị trường giảm sút, lạm phát bị đẩy lùi.
và lãi suất danh nghĩa sẽ thấp hơn, do đó sản xuất sẽ có vốn với chi phí hạ về
mặt dài hạn và nền kinh tế sẽ có sức bật đầu tư về lâu dài. Khi giá cả có tỷ lệ lạm
phát thấp, hiện tượng đầu cơ sẽ biến mất, giá trị tiền nội địa sẽ được ổn định.
Ngược lại, khi giá cả lạm phát cao, thu nhập người lao động sẽ không tăng
kịp với phần tăng giá sẽ làm cho đời sống họ thêm khó khăn, nạn đầu cơ sẽ phát
sinh làm cho một số bộ phận giàu lên rất nhanh trong khi đại đa số nhân dân trở
nên nghèo hơn. Khoảng cách giàu và nghèo lớn dần và nhân dân mất niềm tin
vào chính quyền.
Ổn định giá cả vì thế là một mục tiêu quan trọng nhất của CSTT .
2.2.3. Công ăn việc làm cao.
Việc làm cao cho người lao động là một mục tiêu kinh tế - xã hội của mọi
quốc gia hiện nay. Nếu xã hội có ít công ăn việc làm, tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ dẫn
đến hậu quả: lãng phí các nguồn lực, làm giảm sản lượng quốc gia, làm giảm thu
nhập trong dân chúng gây khó khăn cho đời sống của họ thậm chí có thể làm
tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy việc làm cao là một yêu cầu bức thiết của mọi
quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như đang phát triển.
Một chính sách tiền tệ đúng thúc đẩy sản xuât, khuyến khích đầu tư sẽ tạo
ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Kết quả là tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống.
2.2.4. Ổn định thị trường tài chính.
Nền tảng tài chính ổn định là mục tiêu chủ đạo của CSTT ngoài những
mục tiêu nói trên. NHTW phải ổn định hoạt động tài chính của hệ thống tài
chính trong nước một cách gián tiếp. Tăng cường hiệu quả cho nó, kể cả thu
13
thập thông tin, hướng dẫn, ngăn ngừa rủi ro cho các tổ chức tài chính trong
chiều hướng quản lý hoạt động của nó phù hợp vơí các mục tiêu của nền kinh tế.
Bản thân hệ thống tài chính có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi những
mục tiêu này đối chọi với những mục tiêu chung của nền kinh tế. Vậy vai trò của
CSTT là phải hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu nói trên để phục vụ tốt
nhất cho lợi ích chung mà không làm tổn hại hay hạn chế khả năng phát triển
Khi NHTW đem tiền mặt hoặc séc ra thị trường mở mua chứng khoán,
ảnh hưởng hoàn toàn ngược lại. Lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, làm
tăng dự trữ, tăng lượng tín dụng được cấp phát bởi hệ thống NHTM. Lượng
chứng khoán được NHTW mua làm khan hiếm chứng khoán và đẩy giá nó lên.
Giá chứng khoán tăng làm giảm lãi suất của nó và đến lượt giảm lãi suất của hệ
thống NHTM. Cung ứng tiền tăng làm tăng tỷ giá và giá cả leo thang.
Như vậy, NHTW thực hiện nghiệp vụ mua mở rộng cung ứng tiền, giảm
lãi suất, tăng dự trữ, tăng tỷ giá và chỉ số lạm phát gia tăng.
15
Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ quan trọng để thực thi việc “nới lỏng”
hay “thắt chặt” cung tiền. Nó có nhiều ưu điểm như: linh hoạt, có thể tiến hành
thường xuyên và đặc biệt có thể dễ dàng đảo ngược lại.
+ Lãi suất cho vay triết khấu
Lãi suất cho vay triết khấu có hai tác dụng, một gián tiếp, một trực tiếp.
Tác dụng gián tiếp là nó làm tăng hay giảm lãi suất cho vay của NHTM và do đó
tác động đến cung ứng tiền và tín dụng. Tác động trực tiếp là nó làm tăng hay
giảm dự trữ của NHTM và do vậy tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu
tư trong nền kinh tế.
Khi NHTW quyết định tăng lãi suất triết khấu, đó là một biến cố quan
trọng giống như thay đổi CSTT. Lãi suất triết khấu tăng sẽ làm cho NHTM
không thể vay của NHTW nhiều và dễ dàng như trước. Do vậy nó phải giảm bớt
cho vay để đảm bảo dự trữ trở lại. Như vậy, tác động thứ nhất là nó trực tiếp làm
tăng dự trữ, giảm cho vay và hiệu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo. Tác
động thứ hai là nó làm cho NHTM ý thức rằng trong trường hợp khẩn cấp cần
vay nóng của NHTW, NHTM phải trả lãi suất cao, do vậy các NHTM sẽ từ từ
nâng lãi suất lên theo để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay của NHTW. Lãi suất
tăng tiếp tục thắt chặt cung ứng tiền và tác động đến nền kinh tế.
Khi NHTW tuỷên bố giảm lãi suất triết khấu, nó khuyến khích các NHTM
đến vay nhiều hơn, điều này trước hết làm tăng cung ứng tiền, tăng dự trữ. Dự
tăng. Ngược lại, để “thắt chặt” cung tiền, NHTW có thể hạn chế tín dụng đối với
các NHTM nhằm giảm khối lượng tiền cho vay trong nền kinh tế.
+ Lãi suất
Lãi suất là chi phí phải bỏ ra cho việc vay tiền hay là giá cả của quyền sử
dụng tiền tệ trong một thời gian nhất định. Lãi suất có tác dụng mạnh mẽ đến
nhu cầu tiền tệ dùng cho tiêu dùng và đầu tư, từ đó tác động đến các biến số
kinh tế vĩ mô khác. Thông qua việc thay đổi mức lãi suất quy định (mức trần lãi
suất cho vay tối đa và mức sàn lãi suất huy động tối thiểu), NHTW buộc các
NHTM phải thay đổi mức lãi suất cho vay và lãi suất huy động của mình. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của các nhà doanh nghiệp cũng như của dân
chúng, tức là có ảnh hưởng tới đầu tư và tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các
biến số kinh tế vĩ mô khác.
Tuy nhiên, hai công cụ hạn mức tín dụng và lãi suất chỉ được sử dụng để
điều tiết CSTT ở một số nước đang phát triển. ở các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển cao, các công cụ truyền thống (công cụ gián tiếp) của CSTT đã
hoàn thiện, thì NHTW không sử dụng các công cụ trực tiếp để điều hanh CSTT .
Như vậy là có nhiều công cụ để điều hành CSTT. Mỗi công cụ tác động
đến cung tiền ở mức độ, phạm vi khác nhau. Trong quá trình sử dụng các công
cụ này, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ các công cụ đó với nhau, tạo thành hệ
thống công cụ đồng bộ thì mới điều tiết kinh tế vĩ mô một cách có hiệu quả.
18
2.4. Vị trí của CSTT trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Trong hệ thống các CSKT vĩ mô, CSTT giữ vị trí đặc biệt quan trọng và
trung tâm. Thể hiện:
+ CSTT được sử dụng một cách thường xuyên trước bất kỳ một biến đổi nào
của tín hiệu thị trường. CSTT có tác động nhanh chóng đến các biến số tiền tệ,
có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực hoạt động.
+ Chỉ khi có một CSTT đúng đắn thì các CSKT vĩ mô khác mới được sử
dụng hiệu quả, chi phối việc thực hiện các chính sách khác.
Qua các phiên giao dịch, số thành viên tham gia dự thầu là nhỏ, phiên giao dịch
đông nhất có 5 thành viên dự thầu, thấp nhất là một thành viên, trong đó các
NHTM quốc doanh tham gia dự thầu và trúng thầu là chủ yếu, còn các TCTD
khác hầu như chưa tham gia dự thầu. Khối lượng giao dịch qua NVTTM từ
12/07/2000 đến ngày 15/11/2000 của Ngân hàng công thương Việt Nam là
810,420 tỷ đồng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là 228,020 tỷ đồng, Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam là 393,390 tỷ đồng.
Về hàng hoá giao dịch, theo quy chế hiện hành thì chỉ có các giấy tờ có giá
ngắn hạn mới được mua bán ở thị trường mở, song cho đến nay, chỉ có tín phiếu
kho bạc và tín phiếu NHNN được mua bán. Tín phiếu NHNN được mua bán
nhiều nhất với số lượng 1.070 tỷ/1.448.500 tỷ đồng. Tín phiếu kho bạc Nhà
nước chỉ có 378,500 tỷ đồng nếu tính theo giá trị khi đến hạn thanh toán. Như
vậy hàng hoá ở thị trướng mở là khá đơn diệu và chỉ tập trung ở các NHTM
quốc doanh.
Về phương thức giao dịch, các phiên giao dịch vừa qua chỉ áp dụng phương
thức mua bán hẳn với tín phiếu NHNN, phương thức mua có kỳ hạn đối với tín
phiếu kho bạc nhà nước, còn phương thức bán hẳn ít được thực hiện và đặc biệt
phương thức bán có kỳ hạn chưa được thực thi . Tính đến ngày 15/11/2000,
doanh số trúng thầu ở hình thức mua hẳn ở 13 phiên giao dịch là 480 tỷ đồng,
21
doanh số mua có kỳ hạn là 418,50 tỷ đồng, doanh số bán hẳn là 550 tỷ đồng.
Phương thức đấu thầu thường là đấu thầu lãi suất .
1.2. Công cụ lãi suất cho vay triết khấu.
Lãi suất tái triết khấu là một công cụ quan trọng giúp NHTƯ thực hiện
CSTT. Nhưng việc áp dụng công cụ này ở Việt Nam những năm vừa qua còn
đang ở trạng thái giản đơn do các phương tiện làm căn cứ để NHNN thực hiện
cho vay triết khấu còn chưa hoàn thiện (đó là các thương phiếu, hối phiếu).
Trong quá trình cho vay triết khấu, NHNN luôn luôn điều chỉnh lãi suất cho
vay lãi suất phù hợp với mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ. Có thể nói trong
Công cụ hạn mức tín dụng được NHNN áp dụng để điều hành CSTT trong
những năm đầu của thời kỳ đổi mới, do các công cụ gián tiếp để điều hành
CSTT chưa phát huy đầy đủ hiệu quả.Việc đưa ra và áp dụng công cụ này trong
những năm qua đã có những kết quả nhất định, chứng tỏ công cụ này phù hợp
với điều kiện cụ thể của Việt Nam những năm đầu chuyển sang kinh tế thị
trường.
23
Chẳng hạn, do lạm phát những năm 1990-1991 còn ở tỷ lệ cao, để khống chế
lạm phát, NHNN chủ trương giảm bớt lượng tiền cung ứng hạn mức tín dụng
đối với tất cả NHTM là 34,5% (năm1992) và đã đạt được kết quả thực tế rất khả
quan là mức tăng trưởng kinh tế tăng gấp 2 lần so với dự kiến, mức lạm phát
thấp hơn dự kiến rất nhiều tiền tệ dần đi vào ổn định. Những năm sau đó, để
kiểm soát lạm phát, NHNN cũng đưa ra tỷ lệ hạn mức tín dụng ở mức vừa phải
cho các NHTM. Nhưng tình hình thực tế có khác đó là hầu hết các NHTM đều
có xu hướng vượt quá chỉ tiêu hạn mức tín dụng theo kế hoạch đã được giao.
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần vai trò
của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán. Hơn nữa
việc mở rộng tín dụng trong giai đoạn này là cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, nếu tiếp tục thực hiện hạn mức tín dụng sẽ tạo thêm những nhân tố khó
khăn cho các NHTM trong việc mở rộng tín dụng. Vì vậy, từ quý II năm 1998,
NHNN đã không áp dụng công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều
hành CSTT.
1.5. Công cụ lãi suất.
Ở Việt Nam lãi suất được sử dụng như công cụ của CSTT. Đặc biệt những
năm gần đây, việc điều chỉnh lãi suất theo hướng từng bước nới lỏng của NHNN
được coi như một đối sách nhạy bén trước những thay đổi của cung - cầu về tiền
tệ.
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, năm 1989, NHNN thực hiện một cơ
cấu kiểm soát lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi phức tạp, ấn định các mức lãi
Vào năm 2000, việc kiểm soát lãi suất tiết kiệm ngoại tệ cũng đã được xoá
bỏ. Ngày 05/08/2000, NHNN đã chính thức chuyển sang cơ chế điều hành theo
lãi suất cơ bản, các NHTM được chủ động quy định các mức lãi suất cho vay cụ
thể của mình theo biên độ xoay quanh mức lãi suất cơ bản, trên cơ sơ đó chủ
động quy định các mức lãi suất tiền gửi. Theo cơ chế mới hàng tháng, NHNN
công bố mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái triết khấu.
Trong tất cả các tháng 08,09,10,11 và 12/2000, lãi suất cơ bản đối với tiền
VNĐ vẫn liên tục giữ nguyên ở mức 0,75 %/tháng với biên độ 0,3% đôí với cho
vay ngắn hạn, 0,5% đối với cho vay trung và dài hạn. Lãi suất cho vay ngoại tệ
(USD) được xác định trên cơ sở lãi suất SiBor kỳ hạn 3 tháng cộng với biên độ
1,0% đối với cho vay ngắn hạn; 2,5% đối với cho vay trung và dài hạn.
Trong các tháng cuối năm 2000, nhu cầu vốn tăng lên, sức ép tăng lãi suất rất
lớn, các NHTM cạnh tranh nhau đồng loạt tăng lãi suất huy động vốn lên một
giới hạn nhất định, còn lãi suất cho vay thì hầu như không tăng, mức lãi suất tiền
gửi VNĐ cao nhất của kỳ hạn 12 tháng ở các NHTM cổ phần lên tới 0,6-
0,65%/tháng; kỳ hạn 6 tháng: 0,4 - 0,55%/tháng. Tiền gửi USD kỳ hạn 12 tháng
phổ biến ở các Ngân hàng là 5,5% - 6,0%/năm.