Đề tài : “ Ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ trong quản lý kinh tế ở Việt Nam” - Pdf 15

-
1
-
Đề tài : : “ Ngân hàng trung ương với chính
sách tiền tệ trong quản lý kinh tế ở Việt Nam”

-
3
-Mục lục
Lời mở đầu……………………………………………… 1
Nội dung…………………………………………………… 3
I. Những vấn đề chung về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Chính sách tiền tệ
Quốc gia ……………………………………………… 3
1. Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam……………….3
1.1. Lịch sử h́nh thành và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.2. Vị trí, chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam……….5
1.2.1. Vị trí của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam……………….5
1.2.2. Chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ……… 5
2. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…… 6
2.1. Khái niệm về Chính sách tiền tệ.…………… …… 6
2.2. Vị trí và nhiệm vụ của Chính sách tiền tệ………………….8
2.2.1. Vị trí của Chính sách tiền tệ ……………………… 8
2.2.2. Nhiệm vụ của Chính sách tiền tệ ………………………… 8
2.3. Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ…………… 8
2.3.1. Kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng bản tệ…… .8
2.3.2. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế……………………………10

tiền tệ.
A. Hệ thống ngân hàng trung ương
1. Khái niệm ngân hàng trung ương(NHTW).
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cơ quan phát
hành tiền của chính phủ, cơ quan kiểm soát việc cung ứng tiền tệ và tín dụng của
nền kinh tế.

II. Các chức năng của NHTW
Theo luật ngân hàng nhà nước Việt nam tháng 12 năm 1997, ngân hàng
nhà nước Việt Nam là cơ quan của chính phủ và là NHTW của nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và
hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín
dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ
1. Là ngân hàng phát hành
Ngân hàng phát hành xuất hiện, việc phát hành tiền được ấn định ở các
ngân hàng phát hành, sau đó được ấn định vào một ngân hàng. Khi NHTW ra
đời, NHTM đã đóng vai trò độc quyền phát hành tiền, có nhiệm vụ đảm bảo
thống nhất an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ.
-
5
-
Giấy bạc và tiền kim khí do NHTW phát hành vào lưu thông là phương
tiện thanh toán hợp pháp trong mỗi Quốc gia và được thanh toán không hạn chế
.
Độc quyền phát hành tiền của NHTW không chỉ thể hiện quyền lực của
NHTW mà còn nhấn mạnh trách nhiệm của NHTW trong việc phát hành tiền để
đảm bảo phát triển kinh tế và lưu thông tiền tệ ổn định.
-
6
-
NHTW khi thực hiện những chức năng của mình nhằm thực thi chính
sách tiền tệ nó sẽ phát huy vai trò quan trọng của mình góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế xã hội thức đẩy kinh tế xã hội phát triển.
1. NHTW có trách nhiệm xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ Quốc gia
Chính sách tiền tệ Quốc gia là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó ngân
NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền
cung ứng nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị của đồng tiền, đồng thời thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm.
NHTW có một vai trò quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên
quan đến chính sách tiền tệ. Vì mọi hoạt động của NHTW đều ảnh hưởng đến
cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế. Như vậy thực thi chính sách tiền tệ là NHTW
sử dụng công cụ một cách hiệu quả để điều chỉnh lượng tiề cung ứng cho phù
hợp với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và chủ động kiểm soát lượng tiền trong nền
kinh tế để đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ. Thông qua tác động sâu sắc
đến các yếu tố: Tín dụng, lãi suất, tỷ giá Các yếu tố này đã ảnh hưởng rất lớn
đến mọi hoạt động trong nền kinh tế.
2. NHTW thực hiện quản lý và kiểm soát các tổ chức tín dụng.
NHTW là cơ quan thi hành pháp luật, đồng thời là cơ quan ban hành các
văn bản hướng dẫn thi hành Luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là cơ quan
ban hành các văn bản quy chế về tổ chức hoạt động, về cơ chế nghiệp vụ kinh
doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối để hệ thống tài chính hoạt động
trong kỷ cương pháp luật, theo một chế độ thống nhất, tạo môi trường pháp lý và
những điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính hoạt động có hiệu quả cạnh
tranh lành mạnh để tồn tại và phát triển.
Họat động kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt quan hệ

sẽ yêu cầu NHTM bù đắp. Mô hình này được thể hiện theo sơ đồ:

Các thành viên Bộ
máy
Chính phủ - Hội đồng chính sách tiền tệ - Chủ tịch NHTW
Thống đốc NH
2. Mô hình tổ chức NHTW độc lập Chính phủ.
Theo mô hình này NHTW không nằm trong bộ máy của Chính phủ mà
trực thuộc Quốc hội. NHTW quan hệ với Chính phủ là tương đối độc lập,
NHTW có quyền quyết định việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ nhằm
đạt các mục tiêu chính sách tiền tệ tiền đã đề ra mà không bị áp lực của Chính
phủ vì chi tiêu của ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, NHTW hiên nay không hẳn
được tổ chức theo mô hình độc lập với Chính phủ là có thể độc lập hoàn toàn
không bị áp lực chính trị của thế lực cầm quyền mà mức độ độc lập là phụ thuộc
vào sự chi phối của người đứng đầu Nhà nước đến cơ chế lập pháp và tổ chức
của NHTW.
Vì vậy không có một mô hình nào thích hợp tuyệt đối cho tất cả các Quốc
gia, việc lựa chọn NHTW tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa NHTW với Chính
phủ và do chế độ chính trị của Quốc gia quyết định.
Như vây, cùng với sự đổi mới của nên kinh tế NHNN đã từng bước hoàn
thiện các chức năng của NHTW và phát huy vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh
vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
B. Chính sách tiền tệ .
-
8
-
I. Khái niệm về chính sách tiền tệ.

vay (điều kiện vay vốn) Chính sách tiền tệ mở rộng không chỉ tác động tới
tăng chi tiêu dùng và tăng chi đầu tư mà còn tác động tới tăng xuất khẩu ròng.
-
9
-
Khi lãi suất đồng nội tệ có xu hướng giảm xuống sẽ làm giảm giá của nội tệ so
với ngoại tệ và do vậy kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Kết quả ở đây là
chi tiêu ròng của nước ngoài về hàng hoá, dịch vụ trong nước tăng làm tăng cầu
và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chính sách tiền tệ tác động vào nền kinh tế thông qua việc tác động vào
thái độ, dự tính của các nhà đầu tư, người tiêu dùng trên cơ sở việc điêù chỉnh
mức cung tiền tệ mà chủ yếu là thông qua kênh tín dụng. Trong trường hợp kinh
tế phát triển tốt việc giảm bớt khả năng tài chính bằng chính sách tiền tệ sẽ có
tác động mạnh đến hoạt động đầu tư, tiêu dùng (nhất là trong điều kiện vốn thay
thế bị hạn chế). Chính vì vậy chính sách tiền tệ đặc biệt có hiệu quả cao khi cần
chống lạm phát cao, hạn chế sự phát triển quá nóng của nền kinh tế. Nhưng
trong điều kiện kinh tế trì trệ nhu cầu đầu tư tư nhân và tiêu dùng giảm mạnh,
nền kinh tế khó hấp thụ được khả năng tài chính được tạo ra do mở rộng tiền tệ.
Chính sách tiền tệ có hiêu quả trong việc kích thích chi tiêu đầu tư và tiêu dùng.
Chính sách tiền tệ quốc gia tập trung vào mức độ khả năng thanh toán cho
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng
cho lưu thông, điều khiển hệ thống tiền tệ và khối lượng tín dụng đáp ứng vốn
cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động của thị trường tiền tệ, thị
trường vốn theo những quỹ đạo đã định, kiểm soát hệ thống các ngân hàng
thương mại, cùng với việc kiểm soát tỉ giá hối đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc
đẩy kinh tế đối ngoại và kinh tế ngoại thương, nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn
dịnh tiền tệ, giữ vững sức mua đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá. Một chính

Đây được coi là công cụ bổ trợ mà Ngân hàng Trung ương sử dụngđể trực
tiếp điều khiển và chi phối toàn bộ lãi suất tín dụng trong nền kinh tế
Ngân hàng trung ương có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và buộc các
ngân hàng kinh doanh phải thi hành.
Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút được lượng tiền gửi lớn làm gia tăng
nguồn vốn cho vay. Nếu lãi suất quy định thấp, sẽ làm giảm lượng tiền gửi,
giảm khả năng mở rộng kinh doanh tín dụng. Tuy nhiên biện pháp này làm cho
các Ngân hàng thương mại mất tính chủ động linh hoạt trong kinh doanh. Mặt
khác dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở Ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư
hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền vào dự trữ vàng.
Ngân hàng trung ương có thể quy định khung lãi suất cho vay buộc các
ngân hàng kinh doanh chấp hành .
Khi muốn tăng khối lượng cho vay, Ngân hàng Trung ương giảm mức lãi
suất cho vay để khuyến khích các nhà đầu tư vay vốn. Khi cần hạn chế đầu tư,
Ngân hàng Trung ương sẽ ấn định mức lãi suất cao. Biện pháp này có ưu điểm
là giúp ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho vay, loại bỏ những
phương án kém hiệu quả.
-
11
-
Tuy nhiên, nó có nhược điểm là làm cho tính linh hoạt của thị trường tiền
tệ bị suy giảm, các ngân hàng thương mại bị động trong kinh doanh.
Việc áp dụng khung lãi suất tiền gửi và cho vay nhìn chung ngày càng ít
được áp dụng trong cơ chế thị trường, bởi vì trong cơ chế thị trường lãi suất rất
nhạy cảm với đầu tư, nó gửi được vận động theo quan hệ cung- cầu vốn trên thị
trường.
b. ấn định hạn mức tín dụng.

lượng vay chiết khấu của NHTM; việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng
đến lượng tiền cung ứng bằng cách ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ. Sau đây,
chúng ta sẽ đi tìm hiểu xem Ngân hàng Trung ương đã sử dụng những công cụ
đó trong thực tế như thế nào để tác động đến các hoạt động kinh tế.
a. Dự trữ bắt buộc.
Là phần tiền gửi mà các Ngân hàng Thương mại phải đưa vào dự trữ theo
luật định. Phần dự trữ này được gửi vào tài khoản chuyên dùng ở Ngân hàng
Trung ương và để tại quỹ của mình với mục đích góp phần đảm bảo khả năng
thanh toán của Ngân hàng Thương mại và dùng để kiểm soát khối lượng tín
dụng của ngân hàng này.
Ngân hàng Trung ương là cơ quan duy nhất được phép ra quyết định về
thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, những thay đổi đó tác động đến cung ứng tiền tệ
bằng cách gây ra những thay đổi trong số nhân tiền tệ. Khi tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc sẽ làm giảm khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng Thương mại, từ đó
giảm lượng tiền trong lưu thông, góp phần giảm cầu để cân bằng với giảm cung
xã hội. Trong trường hợp tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm xuống sẽ mở rộng khả năng
cho vay của Ngân hàng Thương mại, dẫn đến sự gia tăng lượng tiền trong lưu
thông, góp phần tăng cung ứng tiền.
Như vậy, khi thay đổi quy mô của tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, Ngân hàng Trung
ương đã khống chế một cách gián tiếp những mạnh mẽ đến mức cung tiền.
b. Lãi suất tái chiết khấu.
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất quy định của Ngân hàng Trung ương cho
các Ngân hàng Thương mại vay để đảm bảo có đầy đủ hoặc tăng thêm dự trữ
của các Ngân hàng Thương mại . Việc ấn định lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn
của Ngân hàng Trung ương có thể tác động đến khả năng vay của Ngân hàng
Thương mại và do đó làm cho cung ứng tiền tăng lên hoặc giảm xuống.
Khi lãi suất tái chiết khấu tăng, các Ngân hàng Thương mại sẽ giảm lượng
vay ở Ngân hàng Trung ương, do đó sẽ làm giảm cơ số tiền tệ và lượng tiền
cung ứng giảm. Ngược lại, nếu lãi suất chiết khấu giảm, các Ngân hàng Thương
mại sẽ tăng lượng vay ở Ngân hàng Trung ương để tăng dự trữ mở rộng ở số

các loại trái phiếu cổ phần lưu thông trên thị trường. Vì vậy, công cụ này rất hữu
hiệu đối với các nước kinh tế phát triển có thị trường tài chính hoàn chỉnh.

-
14
-
Chương 2. Thực trạng ngân hàng trung ương
với việc thực thi chính sách tiền tệ để điều tiết
nền kinh tế vĩ mô ở việt nam.

I. SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VIỆT NAM.
1. Sự ra đời.
Từ cuối thế kỷ 19 trở về trước ở Việt Nam chưa có một ngân hàng nào
xuất hiện do kinh tế nghèo nàn lạc hậu, mang nặng tính tự cung, tự cấp, thương
mại kém phát triển nên hầu như nhu cầu giao dịch tiền tệ không đáng kể.
Cuối thế kỷ 19 khi Pháp xâm chiếm nước ta và thiết lập xong nền đô hộ.
Do các hoạt động kinh tế của Pháp phát triển mạnh nên Pháp phải lập các ngân
hàng để hỗ trợ các hoạt động kinh tế. Lúc đầu có hai ngân hàng được Pháp thành
lập , trụ sở chính được đặt tại chính quốc nhưng chi nhánh ở khắp Việt Nam. Đó
là: Ngân hàng Đông Dương và Pháp- Hoa ngân hàng .
Đến năm 1927 ở miền nam Việt Nam, một nhóm tư bản tài chính Việt
Nam thành lập tại Sài Gòn một ngân hàng lấy tên là: An Nam Ngân Hàng( sau
đó đổi tên thành Việt Nam Ngân Hàng).
Trong khoảng thời gian từ 1945 đến tháng 5-1951, tại Việt Nam không có
một loại hình ngân hàng nào. Mọi hoạt động thuộc lĩnh vực tiền tệ- tín dụng đều
do bộ tài chính đảm nhiệm
Tháng 2-1951 chính phủ đã đề ra mục tiêu cho công tác tài chính là thống

được đề cập trong pháp lệnh ngân hàng( 5-1990) và trong luật ngân hàng nhà
nước( 12-1997).
“Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan của chính phủ và là ngân hàng
trung ương của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng nhà nước
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là
ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và làm dịch vụ
tiền tệ cho chính phủ”.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam là thành viên của hội đồng chính phủ. Cơ
quan lãnh đạo cao nhất của ngân hàng nhà nước Việt Nam là hội đồng quản trị
gồm 10 thành viên. Chủ tịch là thống đốc, phó chủ tịch là phó thống đốc ngân
hàng nhà nước, 4 uỷ viên cấp thứ trưởng đại diện cho bộ tài chính, bộ thương
mại, bộ kế hoạch và đầu tư, còn 4 uỷ viên khác được chọn trong số các chuyên
-
16
-
gia kinh tế- tiền tệ. Ngoài chủ tịch hội đồng quản trị là thống đốc được bổ nhiệm
như thành viên khác của chính phủ còn các thành viên khác do thủ tướng chính
phủ bổ nhiệm theo đề nghị của thống đốc ngân hàng. Nhiệm kỳ của hội đồng
quản trị là 5 năm. Điều hành công việc hàng ngày của ngân hàng nhà nước là
thống đốc và một số phó thống đốc cùng với hoạt động cấp trung ương và cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
MỘT VÀI CHỈ SỐ VỀ QUY MÔ VÀ HIỆU SUẤT HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC
(Nguồn tạp chí ngân hàng số 1+2 năm 2000)
Quốc gia Huy động vốn/GDP Tín dụng/GDP Tín dụng/Huy động
vốn
Năm
-
17
-
cạnh đó, việc phát hành trái phiếu kho bạc hay công trái chính phủ diễn ra khá
thường xuyên bổ sung thêm bộ phận lớn nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động khá dồi dào, tín dụng ngân hàng đối với
nền kinh tế cũng gia tăng mạnh mẽ, đồng thời chuyển từ cho vay chủ yếu đối
với các xí nghiệp quốc doanh sang cho vay với mọi thành phần kinh tế. Cơ cấu
tín dụng đổi mới theo hướng tăng cường đầu tư cho các ngành sản xuất, dịch vụ,
chuyển từ cho vay ngắn hạn là chủ yếu sang đẩy mạnh cho vay trung và dài hạn.
Các Ngân thương mại quốc doanh và ngoài quốc doanh, các quỹ tín dụng nhân
dân mở rộng cho vay hộ nông dân, cho vay tạo việc làm, cho vay xoá đói giảm
nghèo, cho vay hỗ trợ xây dựng nhà ở đồng bằng sông Cửu long, cho vay phát
triển kinh tế trang trại, cho vay đóng mới tàu thuyền đánh bắt xa bờ và các mục
tiêu kinh tế xã hội khác.
Việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi vào ngân hàng và cung ứng tín
dụng ngày càng nhiều, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế là một trong
những nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình tiền tệ hoá nền kinh tế. Bên cạnh
cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua con đường tín dụng, hàng năm Ngân
hàng trung ương còn phải bổ sung một phần tiền cung ứng khi chuyển đổi lượng
ngoại tệ ròng kết dư nhằm phục vụ mục tiêu ổn định sức mua đối với đồng tiền
VN. Mặt khác, hiện nay về cơ bản việc phát hành tiền bù đắp thâm hụt ngân
sách của Ngân hàng nhà nước đã được chấm dứt, kết quả là tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán M
2
hàng năm nhìn chung ổn định phù hợp với các động
thái tăng trưởng và lạm phát.
Việc điều hành chính sách tiên tệ luôn được đặt trong mối quan hệ khăng

của các tài sản tín dụng đối với Ngân hàng, chấm dứt việc điều hành lãi suất
theo cơ chế “trần lãi suất cho vay” sang điều hành lãi suất theo lãi suất cơ bản.
Đây là một bước tiến quan trọng của quá trình tự do hoá lãi suất .
Trong 6 tháng đầu năm 2001, Ngân hàng Trung ương tiếp tục thực hiện
cơ chế lãi suất cơ bản đối với VNĐ, giảm lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp
vốn phù hợp với thực tiễn, giảm lãi suất cơ bản để mở rộng tín dụng và thúc đẩy
sản xuất kinh doanh, thực hiện tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ. Các Ngân
hàng Thương mại được chủ động quy định các mức lãi suất cho vay cụ thể của
mình theo biên độ xoay quanh lãi suất cơ bản, trên cơ sở đó chủ động quy định
các mức lãi suất tiền gửi.
Đối với VNĐ, lãi suất cơ bản đã ba lần giảm từ 0,75%/tháng xuống còn
0,65%/tháng nhưng vẫn giữ nguyên biên độ 0,3% tháng đối với cho vay ngắn
hạn và 0,5% tháng đối với cho vay trung và dài hạn. Đối với ngoại tệ, năm tháng
đầu năm tiếp tục điều hành lãi suất cho vay bằng Đôla dựa trên cơ sở lãi suất
SIBOR (lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng Singapo) cộng với biên độ 1,0%
đối với cho vay ngắn hạn; 2,5% đối với cho vay trung và dài hạn. Từ 1/6/2001
Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định bỏ cơ chế khống chế biên độ cho phép
các tổ chức tín dụng dựa trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn
ngoại tệ trong nước mà thoả thuận với từng khách hàng mức lãi suất cho vay
phù hợp. Riêng đối với lãi suất vay tiền gửi ngoại tệ của các pháp nhân tại tổ
-
19
-
chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước vẫn khống chế ở mức thấp nhằm khống chế
việc nắm iữ đô la trong tài khoản và hạn chế đô la hoá trong điều kiện hạn chế tỷ
lệ kết hối giảm từ 50% xuống còn 40% như hiện nay. Cùng với việc điều hành
theo lãi suất cơ bản, trong 6 tháng qua ngân hàng nhà nước đã liên tục hạ lãi suất


0,4

0,3

0,2

0,1

0

1/8/2000 1/3/2001 1/4/2001 1/6/2001 1/10/2001






0,75

0,725

0,70

0,65
0,60
-


2. Hạn mức tín dụng.
Công cụ này được Ngân hàng nhà nước áp dụng từ năm 1994 và đã có tác
động hiệu quả đến việc hạn chế tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán trong

4,0

3,5

3,0

2,5

2/1/2001 1/3/2001 16/5/2000
3/1/2001 31/1/2001 20/3/2001 18/4/2001 15/5/2001 27/6/2001 21/8/2001 11/9/2001





















4. Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn.
Trong giai đoạn trước tháng 3/1997, lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn
còn mang tính bị động và có sự phân biệt giữa các ngân hàng. Kể từ tháng
3/1997, cùng với việc hoàn thiện cơ chế lãi suất, lãi suất tái chiết khấu, tái cấp
vốn đã thực sự trở thành công cụ tiền tệ được ngân hàng trung ương quan tâm
trong việc điêù tiết cung ứng tiền. Hiện nay, lãi suất tái cấp vốn hạ từ
0,5%xuống 0,4%/tháng , lãi suất tái chiết khấu giảm từ 0,45% xuống
0,35%/tháng. Đây là một giải pháp nhằm tác động đến xu thế hình thành lãi suất
tín dụng của thị trường. NHNN đã thay đổi cơ chế tái cấp vốn dưới hình thức
cho vay có đảm bảo bằng cầm cố tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các giấy
tờ có giá ngắn hạn khác thay cho việc thế chấp chứng từ, thế chấp hồ sơ tín dụng
và cho vay chỉ định trước đây. Song trên thực tế mới chỉ có các NHTM quốc
-
22
-
doanh được vay, còn các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
vẫn đứng ngoài cuộc.
5. Ngiệp vụ thị trường mở.
Thị trường mở ở nước ta chính thức hoạt động từ ngày 12/7/2000, tham
gia vào thị trường này là NHNN, các NHTM và các tổ chức tín dụng khác. Đến
nay, NHNNchỉ cấp giấy phép hoật động cho 14 thành viên, bình quân 10 ngày
tổ chức một phiên giao dịch. Đến đầu tháng 12/2000, NHNNđã tổ chức được 13
phiên giao dịch với tổng khối lượng tín phiếu mua bán là 1428 tỷ đồng ( trong
đó mua vào 878 tỷ, bán ra là 550 tỷ đồng ), lãi suất giao dịch từ 4,95% lên
5,58%. Các loại giấy tờ có giá được lưu thông trên thị trường mở là tín phiếu
kho bạc, tín phiếu NHNN, các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác do thống đốc
NHNN quy định cụ thể trong từng thời kì (quy chế ngiệp vụ TTM, điều 8).

thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, NHNN đã diều chỉnh tỷ giá giữa VND và
USD từ từ, đều đặn qua các phiên giao dịch, tránh tạo ra cú sốc đột ngột, điều
hành tỷ giá theo sự nhạy cảm dựa trên các tín hiệu thị trường phù hợp với điều
kiện quốc tế cũng như hoàn cảnh Việt nam. Hiện nay, biên độ của tỷ giá hối đoái
chỉ có + 0,1 nên tỷ giá hối đoái thường giao động từ 10 đến 20 đồng /1 USD .
Đến cuối năm 2000, tỷ giá trên cả ba thị trường đã tăng so với đầu năm
như sau:
- Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tăng 3,1%
- Thị trường mua bán của các NHTM tăng 21,9%
- Thị trường tự do tăng 3,96%
Như vậy qua những phân tích trên chúng ta thấy chính sách tiền tệ đã đạt
được một số kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những vướng
mắc trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VIỆC ĐIỀU HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.
1. Mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Để phù hợp với quá trình đổi mới nền kinh tế của đất nước, đòi hỏi phải
đổi mới việc xây dung chính sách tiền tệ. Trước hết việc xác định và lựa chọn
mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ đã được thực hiện phù hợp với đường lối
phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
đã hướng vào kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Thực tế cho they
sự ổn định của tiền tệ, ổn định của hệ thống tài chính là điều kiện hàng đầu cho
sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam trước
những năm 1990 đã nằm trong tình trạng lạm phát ra tăng với tốc độ phi mã.
Đồng tiền Việt Nam mất giá trầm trọng, nền kinh tế suy thoái. Thêm vào đó, sự
-

-
25
-
3. Sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ.
Từ năm 1991 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới ngân hàng, hệ thống
các công cụ chính sách tiền tệ cũng được hình thành và phát triển. Trong điều
kiện thị trường tiền tệ và thị trường tài chính chưa phát triển. Ngân hàng nhà
nước Việt Nam thực hiện kiểm soát tiền tệ thông qua việc sử dụng các công cụ
trực tiếp kết hợp với các công cụ gián tiếp và từng bước đổi mới chuyển từ sử
dụng công cụ trực tiếp sang sử dụng các công cụ gián tiếp phù hợp với thông lệ
quốc tế và xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước.
3.1. Công cụ dự trữ bắt buộc.
Công cụ dữ trữ bắt buộc được chính thức thực hiện từ năm 1992. Kể từ
thời điểm đó cho đến nay, công cụ dự trữ bắt buộc đã không ngừng được đổi
mới và hoàn thiện. Ban đầu, theo quy định của hệ thống ngân hàng nhà nước
năm 1992 tiền dự trữ bắt buộc được duy trì tại một tài khoản riêng và tỷ lệ dữ
trữ bắt buộc là 10% trên toàn bộ tiền gửi ở các tổ chức tín dụng. Theo đó, vai trò
của tỷ lệ dự trữ bắt buộc là để đảm bảo khả năng thanh toán và kiểm soát cung
ứng tiền nhưng lại hạn chế ngân hàng nhà nước trong việc dự báo nhu cầu tăng,
giảm dự trữ của các NHTM và vốn của các NHTM không được sử dụng linh
hoạt.
Để khắc phục các hạn chế trên, năm 1995 các công cụ này đã được đổi
mới như sau: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền thanh toán được thống nhất vào
một tài khoản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% áp dụng cho các loại tiền gửi dưới 1
năm, và trong cơ cấu tiền dự trữ bắt buộc có 70% phải gửi tại ngân hàng nhà
nước và các tổ chức tín dụng phải thường xuyên duy trì đầy đủ số lượng tiền dự
trữ bắt buộc phải gửi tại ngân hàng nhà nước( duy trì hàng ngày). Với những đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status