CHƯƠNG V: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
(6 tiết
Mục tiêu:
- Nắm được chức năng cơ bản của ngân hàng trung ương.
- Tập trung nắm vững mục tiêu của chính sách tiền tệ, các chiến lược để đạt
mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.
- Hiểu được công cụ của chính sách tiền tệ, đặc biệt các công cụ gián tiếp.
5.1 Ngân hàng trung ương
5.1.1 Vị trí pháp lý
• Ngân hàng trung ương là định chế công, do đó ngân hàng trung ương:
- Là thành phần của thiết chế thượng tầng kiến trúc, có thể trực thuộc hoặc độc lập
với chính phủ.
- Sử dụng các công cụ tham gia thị trường để quản lý chứ không vì mục tiêu sinh
lợi.
• Tránh nhiệm địa vị pháp lý của ngân hàng trung ương
- Quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (có thể khác biệt
giữa các nước).
- Thực hiện chức năng của ngân hàng trung ương (chức năng chung của mọi ngân
hàng trung ương).
5.1.2 Chức năng của ngân hàng trung ương
5.1.2.1 Quản lý nhà nước về tiền tệ ngân hàng và ngoại hối
Đây là chức năng thể hiện trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ được giao trong bộ máy
quản lý nhà nước. Chức năng này liên quan đến đặc điểm ngân hàng trung ương các nước
và sự tham gia của chính phủ trong nền kinh tế thị trường.
- Trình ban hành và ban hành các quy định, kiểm tra thực hiện các quy định thuộc
thẩm quyền quản lý về tiền tệ, ngân hàng và ngoại hối.
- Xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia
- Quản lý ngoại hối, tỷ giá, cán cân thanh toán, vay trả nợ chính phủ
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát
-
5.1.2.2 Thực hiện chức năng ngân hàng trung ương
• Làm thủ quỹ cho kho bạc nhà nước: tùy đặc điểm từng nước mà chính phủ có
thể ủy quyền cho kho bạc đứng tên chủ tài khoản tại ngân hàng trung ương.
Ngân hàng trung ương có trách nhiệm theo dõi chi trả, thực hiện thanh toán theo
yêu cầu của kho bạc và sử dụng số dư như tài khoản của khách hàng khác. Các
khoản tiền gửi của chính phủ có thể là vàng, ngoại tệ, chứng khoán. Ngân hàng
trung ương còn thực hiện chức năng đại lý và cấp tín dụng cho chính phủ khi
cần thiết.
• Quản lý dự trữ quốc gia: dự trữ quốc gia là các tài sản chiến lược bảo đảm các
nghiên cứu chi tiêu khẩn cấp (gồm vàng, ngoại tệ mạnh ). Về nguyên tắc, quản
lý dự trữ sao cho luôn bảo đảm mức tối thiểu, còn trong quá trình hoạt động thì
ngân hàng trung ương có thể sử dụng dự trữ phục vụ chính sách tiền tệ.
2
• Cho chính phủ vay: ngân hàng trung ương có thể cấp tín dụng nhằm bù đắp
thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước qua chiết khấu các chứng khoán kho
bạc nhà nước.
• Ngân hàng trung ương làm đại lý, đại diện và tư vấn cho chính phủ:
o Ngân hàng trung ương dịch vụ đại lý cho chính phủ khi chính phủ phát hành
chứng khoán (thông báo phát hành, tổ chức đấu thầu, thông báo kết quả
thầu, phân phối chứng khoán trúng thầu, nhận tiền cho kho bạc, thanh toán
chứng khoán khi đáo hạn ).
o Ngân hàng trung ương đại diện cho chính phủ tại các tổ chức tài chính tiền
tệ quốc tế, nhận ủy quyền của chính phủ ký kết các điều ước quốc tế về tiền
tệ và ngân hàng, quản lý và và trả nợ quốc tế của chính phủ (như ở Việt
Nam)
5.2 Chính sách tiền tệ
5.2.1. Hiểu về chính sách tiền tệ
- Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô: Chính sách tiền tệ là các quyết định
về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quyết định mục tiêu
ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các
công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra).
d/ Ổn định lãi suất: biến động lãi suất cũng giống biến động giá.
e/ Ổn định thị trường tài chính: ngân hàng trung ương ổn định thị trường tài chính qua vai
trò LOLR và qua ổn định lãi suất (qua LOLR tránh được hoảng loạn trong hệ thống ngân
hàng thương mại, còn qua lãi suất bảo đảm quan hệ giữa lãi suất ngân hàng và tỷ suất sinh
lợi đầu tư vào thị trường tài chính).
Chú ý: lãi suất ngân hàng tỷ lệ nghịch với tỷ suất sinh lợi đầu tư, từ đó điều chỉnh dòng tài
chính trực tiếp và gián tiếp.
f/ Ổn định thị trường ngoại hối: tăng giá đồng nội tệ làm cho nền kinh tế kém cạnh tranh,
ngược lại giảm giá đồng nội tệ lại kích thích lạm phát.
Quan hệ giữa các mục tiêu
Các mục tiêu ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá
đều bị tác động của lạm phát nên có thể nói 6 mục tiêu mà ngân hàng trung ương muốn đạt
đến gồm nền kinh tế có tỷ lệ việc làm cao, nền kinh tế tăng trưởng cao và lạm phát được
kiểm soát.
Mục tiêu ổn định giá thị trường thường mâu thuẫn với ổn định lãi suất và việc làm: khi
nền kinh tế đang tăng trưởng và thất nghiệp giảm thì cả lạm phát và lãi suất có thể bắt đầu
tăng. Nếu ngân hàng trung ương không muốn lãi suất tăng bằng cách mua trái phiếu trên
thị trường (làm cho giá trái phiếu tăng và lãi suất giảm) thì việc mua trái phiếu lại tăng
cung ứng tiền M → thúc đẩy lạm phát. Nếu ngân hàng trung ương giảm tăng M để tránh
lạm phát thì cả lãi suất và thất nghiệp có thể tăng.
Trong dài hạn, về cơ bản không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu. Khi lạm phát cao thì
không thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được (Hình 5.1 biểu thị đường cong Phillips
dài hạn thẳng đứng), nhưng trong ngắn hạn mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát là
mâu thuẫn nhau (đường cong Phillips ngắn hạn).
Hình 5.1 Đường cong Phillips trong dài hạn và ngắn hạn
4
Như vậy, điều hành chính sách tiền tệ để đạt được đồng thời các mục tiêu cuối cùng tại
một thời điểm là rất khó thực hiện. Tùy điều kiện nền kinh tế mà ngân hàng trung ương
chọn mục tiêu ưu tiên và điều hành linh hoạt để cân bằng các mục tiêu trong thực hiện
Ví dụ: Nếu mục tiêu của ngân hàng trung ương là tỷ lệ việc làm cao và ổn định giá cả với
tỷ lệ tăng trưởng GNP 5%, ngân hàng trung ương tính toán thấy tăng trưởng 5% GNP có
thể đạt được qua tăng trưởng 4% M2 (mục tiêu trung gian) và điều đó lại có thể đạt được
bằng tăng trưởng 3,5% MB (mục tiêu hoạt động). Khi đó ngân hàng trung ương sẽ dùng
các công cụ để đạt tỷ lệ tăng 3,5 % MB.
5.2.2.3 Lựa chọn các biến số trong mục tiêu trung gian
a/ Có thể chọn cả lãi suất và tăng trưởng tổng lượng tiền tệ?
Có 2 biến số trong mục tiêu trung gian là lãi suất và tổng lượng tiền tệ, vậy chọn biến số
nào để tác động như mục tiêu trung gian? Có thể chọn cả hai được không?
5
Hình 5.2 thể hiện cung ứng của thị trường tiền tệ: ngân hàng trung ương muốn đường cầu
tiền tệ phải nằm tại M
d*
với mức cung M* để có lãi suất i*. Nhưng trong thực tế, khi sản
lượng nền kinh tế Y và mức giá P thay đổi làm M
d*
có thể biến động giữa M
d’
và M
d’’
do đó
lãi suất dự tính i* sẽ biến động theo đường cầu tiền tệ M
d’
và M
d’’
để đạt tại lãi suất tại i’ và
i’’. Vậy chọn cung tiền tệ làm biến số thì phải từ bỏ biến số lãi suất trong mục tiêu
trung gian.
Hình 5.3 cho thấy hậu quả của việc theo đuổi lựa chọn lãi suất i* tại đường cầu ở M
d*
• Biến số lãi suất
- Lãi suất tác động đến tiêu dùng và đầu tư (liên quan đến tổng cầu). Sự thay đổi lãi
suất thực (i
r
) làm dịch chuyển đường tổng cầu (AD) dẫn đến thay đổi Y và P trong
ngắn hạn. Khi chọn biến số lãi suất là mục tiêu trung gian và giữ cố định thì biến
động cầu về tiền đến nền kinh tế có thể kiểm soát được. Vậy khi nền kinh tế có cầu
tiền tệ biến động mạnh thì biến số lãi suất có thể hữu ích.
6
i'
Hình 5.2: NHTW
chọn biến số
cung
tiền thì phải từ bỏ
biến số lãi suất
Hình 5.3: NHTW
chọn biến số lãi
suất thì phải từ bỏ
biến số cung tiền
i’
i”
i*
i
M
M*
M
s*
M
d”
lạm phát dự kiến khó xác định.
• Biến số tổng lượng cung ứng
Nếu cố định mức tăng tổng cung ứng thì biến số lãi suất có thể thay đổi đáp ứng
những thay đổi của cầu về tiêu dùng và đầu tư, do đó giảm biến động của tổng cầu.
Vì thế biến số này làm mục tiêu trung gian này có thể thích hợp với nền kinh tế có
tổng cầu biến động mạnh bởi các nguyên nhân ngoài lãi suất. Khác với lãi suất,
mục tiêu tổng lượng tiền tệ hoàn toàn có thể là mục tiêu dài hạn của ngân hàng
trung ương.
Trong thực tế, các nước ưu tiên mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng sẽ chú trọng mục
tiêu trung gian là biến số lãi suất, còn nước ưu tiên mục tiêu cuối cùng là ổn định
giá cả sẽ chú trọng mục tiêu trung gian là biến số tổng lượng tiền tệ.
c/ Tiêu chuẩn chọn chỉ tiêu trung gian
- Tính có thể đo lường được: đo lường được là cần thiết vì nhờ đó kịp thời điều
chỉnh mục tiêu cuối cùng. Nếu đo lường tăng trưởng M2 phải hàng tháng mới có
kết quả, còn tăng trưởng GNP phải hàng quý hoặc nửa năm mới có kết quả, nhưng
lãi suất thì có kết quả ngay lập tức. Vậy chọn M2 và lãi suất làm mục tiêu trung
gian tốt hơn nhiều so với GNP.
Tuy thước đo lãi suất cho kết quả nhanh và chính xác hơn M2, nhưng lãi suất thực
lại không dễ đo lường vì lạm phát dự kiến lại không dự kiến được, vì thế biến số
M2 hay biến số lãi suất trong mục tiêu trung gian cũng không nói rõ cái nào tốt
hơn.
- Có thể kiểm soát được: Ngân hàng trung ương phải kiểm soát được các biến số
hoạt động để đưa mục tiêu trung gian về đúng quỹ đạo. Trong thực tế ngân hàng
trung ương kiểm soát M2 tốt hơn lãi suất.
Ngân hàng trung ương có thể tác động đầy quyền lực đến M2 mặc dù kiểm soát nó
không hoàn toàn. Qua OMO có thể ấn định lãi suất bằng tác động đến giá trái
phiếu. Khi đó, biến số lãi suất có thể kiểm soát được thì lại không thể kiểm soát
được M2. Vậy biến số lãi suất lại được coi là tốt hơn biến số M2. Tuy nhiên trên
thực tế ngân hàng trung ương không thể ấn định được lãi suất thực vì không xác
định được lạm phát dự kiến nên cũng không thể nói biến số lãi suất tốt hơn biến số
trung ương, vì thế dự trữ không vay NBR của ngân hàng trung ương cố định với mọi i <
i
D
.
8
Hình 5.4: NHTW chọn biến số dự trữ không
vay (NBR) thì phải từ bỏ biến số lãi suất.
Nếu NBR được chọn thì lãi suất sẽ biến động
giữa i’ và i” vì cầu dự trữ biến động từ Rd’
đến Rd”, khi đó chọn biến số NRB thì biến số
lãi suất sẽ không còn kiểm soát được trong
mục tiêu hoạt động.
Hình 5.5: NHTW chọn biến số lãi suất thì phải
từ bỏ biến số dự trữ không vay (NBR).
Nếu lãi suất được chọn là mục tiêu hoạt động
thì NBR sẽ biến động giữa NBR’ và NBR” do
cầu dự trữ biến động từ Rd’ đến Rd”, khi đó
chọn biến số lãi suất thì sẽ không kiểm soát
được biến số NBR trong mục tiêu hoạt động.
i
D
i’
i”
i*
i
R
NBR
R
S
được hoàn toàn (ngay cả NBR) trong khi ngân hàng trung ương có thể kiểm soát
được chặt chẽ lãi suất. Vậy dường như kiểm soát qua biến số lãi suất tốt hơn biến
số dự trữ. Tuy nhiên lãi suất thực vẫn khó kiểm soát.
- Có thể dự tính được tác động đến mục tiêu cuối cùng: quan hệ giữa dự trữ với lạm
phát và lãi suất với lạm phát luôn không rõ ràng và các tranh luận có xu hướng
nghiêng về biến số lãi suất có quan hệ với mục tiêu cuối cùng là lạm phát nhiều hơn
biến số dự trữ. Đây cũng là lý do các ngân hàng trung ương trên thế giới chọn mục
tiêu hoạt động là biến số lãi suất nhiều hơn biến số dự trữ.
5.2.3 Công cụ của chính sách tiền tệ
5.2.3.1 Các công cụ gián tiếp
Từ chương 4 đã biết: 3 công cụ mà ngân hàng trung ương sử dụng để điều tiết cung ứng
tiền tệ: i/ OMO ảnh hưởng đến MB; ii/ lãi suất chiết khấu ảnh hưởng đến DL và MB và iii/
r
D
ảnh hưởng đến số nhân tiền tệ m.
Khi ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ trên sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế
nào? Mỗi công cụ có lợi ích gì? Những thay đổi nào tốt hơn trong sử dụng các chính sách
đó cho cung ứng tiền tệ?
a/ Nghiệp vụ thị trường mở (open market operations - OMO)
Nghiệp vụ thị trường mở hay (nghiệp vụ tiền tệ tự do) là công cụ quan trọng nhất của
chính sách tiền tệ vì nó quyết định cơ số tiền tệ MB và nguồn chính gây ra biến động trong
cung ứng tiền tệ. Việc tham gia của ngân hàng trung ương qua OMO làm thay đổi MB, do
đó thay đổi cung ứng M. Vậy ngân hàng trung ương đã tiến hành nghiệp vụ qua OMO như
thế nào để kiểm soát M?
• Cơ chế tác động
- Khi ngân hàng trung ương mua chứng khoán: lãi suất liên ngân hàng giảm ngay
làm lãi suất thị trường ngắn hạn giảm theo. Dự trữ của hệ thống ngân hàng tăng
ngay → tăng MB → M tăng.
- Khi ngân hàng trung ương bán chứng khoán: lãi suất liên ngân hàng tăng ngay
làm lãi suất thị trường ngắn hạn tăng theo. Dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm
quá nhiều trên OMO thì có thể đảo ngược bằng cách bán ra).
- Nhanh, ngay lập tức, không bị ảnh hưởng của thủ tục hành chính.
- OMO tác động qua cơ chế thị trường theo mức lãi suất ấn định của ngân hàng
trung ương nên ý đồ can thiệp luôn có thể đạt được.
b/ Chính sách chiết khấu
Chính sách chiết khấu (chủ yếu là thay đổi lãi suất chiết khấu rD) tác động đến M qua
ảnh hưởng của khối lượng cho vay chiết khấu (DL) và MB: tăng DL vào cơ số tiền tệ
MB làm tăng M và ngược lại. Kênh này gọi là “cửa sổ chiết khấu”.
Khi các ngân hàng thương mại có đủ điều kiện vay ngắn hạn của ngân hàng trung ương
dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá thì đều được vay chiết khấu. Mục đích
vay chiết khấu của ngân hàng thương mại là bù đắp thiếu hụt tạm thời nhu cầu thanh
toán hoặc thiếu hụt dự trữ bắt buộc.
• Cơ chế tác động
Ngân hàng trung ương thay đổi lãi suất chiết khấu và hạn mức chiết khấu → ảnh
hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại:
- Hạn mức chiết khấu: khi bổ sung dự trữ cho các ngân hàng thương mại bị thu hẹp
hoặc nới rộng bị phụ thuộc vào hạn mức chiết khấu của ngân hàng trung ương →
ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng → thay đổi M. Mặt khác
hạn mức chiết khấu làm thay đổi lãi suất thị trường.
- Lãi suất chiết khấu: khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu làm tăng
chi phí đi vay của ngân hàng thương mại. Khi đó ngân hàng thương mại phải tăng
10
lãi suất cho vay để có lãi → nhu cầu vay trong nền kinh tế giảm. Mặt khác, lãi suất
chiết khấu tăng, các ngân hàng thương mại phải hạn chế vay ngân hàng trung ương.
Để phục hồi dự trữ, các ngân hàng thương mại phải giảm cho vay tín dụng → điều
đó cũng làm lãi suất thị trường tăng.
Hoạt động của “cửa sổ chiết khấu” của ngân hàng trung ương tác động bằng 2 cách:
qua giá cả khoản vay (lãi suất) và qua số lượng vay.
: Lãi suất tác động đến lượng vay: khi lãi suất cao làm tăng chi phí của ngân hàng thương
mại → vay ít hơn và ngược lại.
chính sách tiền tệ nới lỏng mà lãi suất thị trường (i
M
) > lãi suất chiết khấu (i
D
).
Khi đó ngân hàng trung ương buộc phải tăng thì sẽ tăng lãi suất chiết khấu gần
với lãi suất thị trường → thị trường có thể hiểu là ngân hàng trung ương chuyển
sang chính sách ngược (thắt chặt) trong khi thực sự không hẳn như vậy. Khi đó
tác dụng thông báo có thể bị hiểu nhầm!
11
• Các lợi và bất lợi của chính sách chiết khấu
o Điểm lợi:
- Dùng chính sách chiết khấu để làm vai trò người cho vay cuối cùng.
- Các khoản vay chiết khấu cơ bản được bảo đảm bằng giấy tờ có giá có độ tín
nhiệm cao nên ngân hàng trung ương thu được nợ khi đến hạn.
o Điểm bất lợi
- Có thể hiểu nhầm ý định của ngân hàng trung ương qua thông báo lãi suất chiết
khấu.
- Khi kiểm soát được lãi suất chiết khấu chưa chắc đã kiểm soát được hạn mức
chiết khấu vì không biết lãi suất đó có làm ngân hàng thương mại vay hay không.
- Khi ngân hàng trung ương ấn định lãi suất chiết khấu tại mức giá đặc biệt sẽ xảy
ra chênh lệch lớn về khoảng cách lãi suất thị trường và lãi suất chiết khấu (i
M
- i
D
)
→ dẫn đến những thay đổi ngoài ý định về lượng chiết khấu và M. Khi đó chính
sách chiết khấu làm cho việc kiểm soát M khó hơn.
• So sánh công cụ lãi suất chiết khấu và công cụ nghiệp vụ OMO
- Các nghiệp vụ qua OMO hoàn toàn là sự tự do hành động của ngân hàng trung
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng thương mại phải duy trì trên tài khoản tiền gửi
tại ngân hàng trung ương được xác định bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc trên tổng số dư tiền gửi
trong một khoảng thời gian nhất định. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể khác nhau theo loại
tiền, thời hạn gửi tiền, đặc điểm của ngân hàng thương mại. Tiền dự trữ bắt buộc có thể
được hưởng lãi suất hoặc không.
• Cơ chế tác động:
- Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng, ER của hệ thống ngân hàng giảm làm giảm quy mô
cho vay của hệ thống ngân hàng, từ đó giảm quy mô tiền gửi từ dân chúng và cuối
cùng là giảm cung tiền M.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là mẫu số của hệ số nhân tiền. Khi r
D
tăng làm hệ số nhân tiền
giảm → M giảm.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng làm cầu dự trữ của ngân hàng thương mại tăng. Nếu cung
không đổi, cầu dự trữ tăng sẽ làm tăng lãi suất liên ngân hàng → tăng lãi suất thị
trường → M giảm.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng → tăng chi phí đầu vào của ngân hàng thương mại → để
cho vay có lãi, ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất cho vay → M giảm.
Khi thay đổi dự trữ bắt buộc dẫn đến thay đổi M qua thay đổi số nhân tiền tệ: dự trữ bắt
buộc tăng dẫn đến thu hẹp cung ứng M. Mặt khác sự giảm của dự trữ bắt buộc làm tăng M
nhiều lần và gây ra quyền lực đối với cung ứng M: khi ảnh hưởng càng lớn thì việc sử
dụng dự trữ bắt buộc càng khó để kiểm soát cung tiền tệ M.
• Điểm lợi:
- Dự trữ bắt buộc kiểm soát được cung tiền tệ: tác động đến tất cả ngân hàng thương
mại như nhau (thể hiện quyền lực của ngân hàng trung ương đến M).
• Điểm bất lợi
- Thay đổi dự trữ bắt buộc là công cụ đầy quyền lực nhưng khi muốn thay đổi lượng
nhỏ M qua điều chỉnh r
D
(tức là thay đổi tỷ lệ rất nhỏ của r
Hạn mức tín dụng là giới hạn dư nợ tối đa mà mỗi tổ chức tín dụng được thực hiện theo
quy định của ngân hàng trung ương. Hạn mức tín dụng có thể khác nhau theo năng lực của
các tổ chức tín dụng và phụ thuộc vào tổng mức dư nợ tín dụng mà ngân hàng trung ương
dự tính cho nền kinh tế.
Hạn mức tín dụng được sử dụng ở điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, cầu tiền tệ
không nhạy cảm với lãi suất, khi ngân hàng trung ương không kiểm soát được cung tiền và
lãi suất thì đây là cách ngân hàng trung ương quản lý được lượng cung tiền qua ngân hàng
thương mại.
Công cụ này mang tính mệnh lệnh hành chính nên kém hiệu lực, thiếu linh hoạt, không
phát huy được ưu thế thị trường và nên kinh tế bị điều khiển trực tiếp của ngân hàng trung
ương nên dễ bị lợi dụng của chính sách mà ngân hàng trung ương áp dụng.
b/ Khung lãi suất
Khung lãi suất là công cụ áp đặt đối với giá của vốn tín dụng. Khung lãi suất có thể là quy
định lãi suất trần, lãi suất sàn hay biên độ dao động quanh lãi suất cơ bản ấn định đối với
huy động và cho vay của hệ thống ngân hàng.
Đây là công cụ hành chính áp đặt dễ gây tác động xấu đến tiết kiệm và đầu tư trong nền
kinh tế. Công cụ này thường chỉ được sử dụng khi kinh tế vĩ mô không ổn định hoặc các
nền kinh tế có yếu tố thị trường chưa phát triển.
c/ Biên độ dao động tỷ giá
Đây cũng là công cụ hành chính áp đặt mức tỷ giá quanh mức tỷ giá công bố. Công cụ này
sử dụng khi ngân hàng trung ương không quản lý được mua bán ngoại tệ do dự trữ ngoại
tệ thấp hoặc trong các trường hợp khẩn cấp. Điều đó cũng tương tự như khung lãi suất.
14
Phụ lục – Phần chuẩn bị của cô Lâm sử dụng để làm rõ thêm công cụ chiết khấu
trong điều kiện ở Việt Nam
Nghiệp vụ tín dụng
• Tái cấp vốn (Refinancing)
+/ Cho vay cầm cố giấy tờ có giá(Mortgaged Lending)
- Cho vay cầm cố là hình thức tái cấp vốn của NHTW cho các NHTM
thông qua việc cầm cố các giấy tờ có giá trị làm tài sản bảo đảm, khi đáo
giá trị mà NHTM đã chiết khấu cho các doanh nghiệp.
+ Lãi suất: Cả hình thức chiết khấu và tái chiết khấu đều trả lợi tức chiết khấu
trước; khi đáo hạn NHTW sẽ thu tiền gốc về.
+/ Đối tượng chiết khấu
Các giấy tờ có giá còn hạn thanh toán như: tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân
hàng trung ương, kỳ phiếu thương mại, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền
gửi tín phiếu ngân hàng, thương phiếu…
+/ Phương thức chiết khấu
- Chiết khấu hẳn: còn gọi là chiết khấu không hoàn lại, chỉ được thực hiện đối
với giấy tờ có giá do chính phủ/nhà nước phát hành. Như vậy, khi NHTM sẽ
chuyển nhượng giấy tờ có giá cho NHTW để thanh toán một số tiền nhất
định. Đến hạn thanh toán, NHTW sẽ xuất trình giấy tờ có giá tới tổ chức
phát hành để nhận lại toàn bộ tiền gốc (và lãi, nếu có).
- Chiết khấu có kỳ hạn: còn gọi là chiết khấu có hoàn lại, khi NHTM chỉ
chuyển nhượng tạm thời các giấy tờ có giá. Khi đến hạn, NHTM phải đến
NHTW để tất toán và lấy lại giấy tờ có giá này. Thông thường, NHTW sẽ
quy định thời hạn tối đa được chiết khấu các giấy tờ có giá. Các giấy tờ có
giá này do các chủ thể phi nhà nước phát hành.
• Cho vay thanh toán
+/ Cho vay thanh toán thường xuyên:
- Chấp hành quy định về tỷ lệ DTBB.
- NHTW cho vay để bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ giữa các tổ chức
tín dụng là khoản vay qua đêm “overnight”.
Làm rõ thêm chức năng trung gian thanh toán bù trừ của NHTW.
+/ Cho vay khôi phục khả năng chi trả (vai trò “người cho vay cuối cùng”)
Tỷ lệ khả năng chi trả =
Tài sản CÓ có thể thanh toán ngay Tài sản NỢ phải thanh toán ngay
- Tiền mặt: nội tê, ngoại tê, vàng
- Tiền gửi tại NHTW
- Chênh lệch dương giữa TGKKH tại ngân hàng
tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng.
2.Ngân hàng Nhà nước quy định và thực hiện việc tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng theo các hình thức sau
đây:
a) Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá;
b) Chiết khấu giấy tờ có giá;
c) Các hình thức tái cấp vốn khác
17
So sánh nghiệp vụ tái cầm cố và tái chiết khấu
Giống nhau:
- Kết quả giống nhau. Sử dụng nghiệp vụ nào phụ thuộc vào các yếu tố: công cụ, mức độ
rủi ro, thời hạn của nghiệp vụ và thỏa thuận của NHTW – NHTM.
Mục tiêu: - Cấp vốn cho hoạt động tín dụng của NHTM
- Điều tiết vốn khả dụng của NHTM và lãi suất thị trường
Thực thi CSTT
Khác nhau:
Chỉ tiêu Tái cầm cố Tái chiết khấu
Đặc điểm MQH: đi vay – cho vay
Quyền sở hữu GTCG: bên cho vay
rủi ro cao hơn
MQH: mua – bán GTCG
Quyền sở hữu: người mua
Rủi ro thấp hơn
Công cụ Hầu hết các công cụ (chi tiết ở trên)
Rủi ro cao hơn
Các CK nhà nước và thương phiếu
Rủi ro thấp hơn
Lãi suất Trả lãi sau
Cao hơn
Trả lãi trước
Thấp hơn
- Có nhắc nhở để không tái
diễn và thường xuyên.
- Hạ bậc tín nhiệm
- Kiểm soát cực kỳ chặt chẽ trong
một thời gian dài đặc biệt do
nguyên ngân chủ quan
- Lãi suất rất cao
• Nghiệp vụ quản lý ngoại hối
- Khái niệm ngoại hối (Foreign Exchange) là tiền và các phương tiện sử dụng trong
giao dịch quốc tế nhằm phục vụ cho các quan hệ thương mại quốc tế, tài chính, tín
dụng và thanh toán quốc tế.
Hoạt động ngoại hối (Exchange Foreign Activity) là hoạt động của người cư trú,
không cư trú trong giao dịch có sử dụng ngoại hối trong một quốc gia.
- Thành phần: vàng, ngoại tệ, chứng khoán và giấy tờ có giá bằng ngoại tệ.
Chủ thể hoạt động ngoại hối: các NHTM và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
các tổ chức được phép hoạt động ngoại hối theo giấy phép như công ty dịch vụ kiều
hối, quầy thu đổi ngoại tệ đặt ở các trung tâm mua sắm, siêu thị, khách sạn, nhà
hàng,…
19