1 Luận Văn
" Thực trạng về điều hành chính sách lãi suất ở
Việt Nam từ những năm 90 trở lại đây"
II.Chính sách lãi suất 5
Phần II. Thực trạng về chính sách lãi suất ở Việt Nam từ những
năm 90 Cho đến nay
I.Sơ lược việc điều hành, cải tiến lãi suất trong thời gian qua
1.Trước tháng 3/1989 ,thời kỳ lãi suất âm 6 32.Từ tháng 3/1989 ,thời kỳ chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất
dương 6
3.Từ 1/10/1993 ,thời kỳ vừa áp dụng lãi suất trần vừa áp dụng lãi
suất thoả thuận 7
4.Từ 1/1/1996 ,thời kỳ áp dụng lãi suất trần 7
5.Từ 7/2000 –Một bước tiến mới trong việc hình thành lãi suất cơ
bản 9
II Đánh giá những sai lầm trong việc điều hành chính sách lãi suất
từ những năm 90 Cho đến nay 9
Phần III: Một số các giải pháp trong điều hành chính sách lãi suất
ở Việt Nam 13
sự điều tiết quản lí của Nhà nước, trong quá trình hoà nhập cùng
sự phát triển của nền kinh tế thế giới, việc xem xét vấn đề lãi suất
là rất cần thiết. Bài viết xin được đề cập tới vấn đề : “Thực trạng
về điều hành chính sách lãi suất ở Việt Nam từ những năm 90
trở lại đây” với bố cục chính như sau :
Phần I: Lý luận chung về lãi suất
Phần II: Thực trạng về điều hành chính sách lãi suất ở Việt
Nam từ những năm 90 trở lại đây.
Phần III: Các giải pháp trong việc điều hành chính sách lãi
suất ở Việt Nam .
6
8
của mình cho người khác vay,họ sẽ nhận được một khoản lãi nhất
định được tính theo lãi suất ngân hàng hoặc lãi suất do hai bên tự
thoả thuận .Người đầu tư đem khoản tiền vay được đó đi vào kinh
doanh ,biến số tiền đó thành vốn .Khi sản xuất kinh doanh phát
triển ,làm ăn có lãi ,ngoài việc họ trả được số tiền vay ,họ còn thu
được thêm lợi nhuận .Như vậy họ đã biết cách dùng tiền của người
khác để tạo ra tiền cho mình .
-Mặt khác ,vì là lãi suất đem lại lợi ích cho nhà tiết kiệm ,nên với
mức lãi suất hợp lý sẽ khuyến khích tiết kiệm trong nền kinh
tế.Theo một mô thức logic ,tiết kiệm tăng sẽ khiến cho đầu tư cũng
tăng và thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển .
-Một vai trò không thể thiếu là :lãi suất là một công cụ quan
trọng để nhà nước có thể điều tiết vĩ mô nền kinh tế .Thông qua lãi
suất ,nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài
khoá của mình .Đối với chính sách tiền tệ ,khi lãi suất tăng sẽ làm
cho cung tiền giảm và ngược lại .
Đối với chính sách tài khoá ,lãi suất cao sẽ tác động gián tiếp tới
cung cầu của thị trường hàng hóa.Lãi suất tiền gửi tăng sẽ kéo theo 9
sự tăng lãi suất cho vay.Sự tăng lãi suất sẽ đẩy giá bán của hàng
hoá lên.Giả sử ban đầu nền kinh tế đang cân bằng (cung hàng hoá
bằng cầu hàng hoá ),khi lãi suất tăng dẫn tới giá cả hàng hoá tăng
sẽ làm cho cầu về hàng hoá đó giảm,nền kinh tế trở nên dư cung
hàng hoá ,các nhà sản xuất phải thu hẹp sản lượng .Ngược lại ,lãi
suất thấp sẽ dẫn tới giá bán hàng hoá giảm ,kích thích tiêu dùng ,
Đây là một bộ phận cấu thành của chính sách tiền tệ quốc
gia. Vì thế, trước hết nó phải hướng tới những mục tiêu của chính
sách tiền tệ quốc gia. Đó là ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và 11
kích thích tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, chính sách tiền tệ ở nước
ta hiện nay phải nhằm tiến tới hình thành một thị trường tiền tệ, tạo
sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng giữa các tổ chức tín dụng,
xoá bỏ sự khác biệt về lãi suất giữa các khu vực. Thứ ba, chính
sách lãi suất phải tạo điều kiện để giảm chi phí hoạt động tín dụng,
tránh tình trạng biến tướng chi phí của các TCTD vào giá thành
sản xuất của xã hội. ngoài ra, đối với các TCTD, chính sách lãi
suất còn phải đảm bảo có sự chênh lệch lãi suất đủ để duy trì và
phát triển hoạt động kinh doanh. 12
+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền lưu thông,
giải toả áp lực của tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất, tạo lợi nhuận giả tạo
cho doanh nghiệp.
+ Ngân hàng bao cấp qua lãi suất cho khách hàng, tạo lỗ không
đáng có cho ngân hàng. Ngân hàng không thể kinh doanh tiền tệ
bình thường theo cơ chế thị trường.
2.Từ tháng 3-1989: 14
Khi lạm phát đã được kiềm chế và đẩy lùi tương đối thấp ,có điều
kiện thực hiện chính sách lãi suất dương dương tức là lãi suất Cho
vay cao hơn lãi suất huy động và lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn
lạm phát .Tháng 10/1992 ,NHNN bắt đầu từng bước thực hiện lãi
suất dương và đến tháng 3/1993 NHNN đã chủ động sử dụng công
cụ lãi suất, chuyển từ lãi suất âm qua lãi suất dương. Để thu hút
tiền thừa trong lưu thông về, kìm chế lạm phát, tránh bao cấp qua
lãi suất, NHNN đã nâng lãi suất huy động lên một lượng rất cao
trong một thời gian ngắn (lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn 109 % /
năm, lãi suất tiết kiệm 3 tháng 144 %/ năm). Nhờ vậy đã:
- Thu hút một khối lượng tiền lớn trong lưu thông, tăng nguồn
vốn tín dụng, giảm áp lực lạm phát.
- Chuyển lãi suất âm qua lãi suất dương, xử lí hài hoà lợi ích giữa
người gửi tiền, người vay vốn và TCTD.
- Xoá bỏ bao cấp qua lãi suất ngân hàng, chuyển hoạt động ngân
hàng sang kinh doanh thực sự.
Tuy nhiên, ở giai đoạn này, hệ thống lãi suất còn phức tạp,
còn nhiều mức lãi suất tiền gửi và cho vay.
khi các doanh nghiệp lại gặp khó khăn về tài chính .Từ thực trạng
này ,Quốc hội khoá IX ,kỳ họp thứ 8 tháng 10/1995 đã thông qua
nghị quyết bỏ thuế doanh thu hoạt động tín dụng ngân hàng ,đồng
thời yêu cầu các NHTM phải tiết giảm chi phí để giảm lãi suất Cho
vay .Đồng thời khống chế chênh lệch giữa lãi suất Cho vay và lãi
suất huy động 0,35%/tháng .Đó là lý do để chuyển sang một giai
đoạn thực hiện chính sách trần lãi suất .
4.Từ 1/1/996 Chuyển từ lãi suất thoả thuận qua trần lãi suất.
Việc quy định trần lãi suất và khống chế mức chênh lệch 0,
35% thực chất là vừa quy định trần lãi suất, vừa quy định sàn lãi
suất. Vì thế từ 1/ 1/ 96, NHNN đã quy định trần lãi suất cho vay tối
đa và mức chênh lệch 0,35 % thay cho việc điều hành theo lãi suất 17
cho vay, lãi suất tiền gửi chi tiết và lãi suất thoả thuận quy định
trước đó .
Do quy mô và địa bàn hoạt động khác nhau, nhu cầu vốn
khác nhau, chi phí hoạt động khác nhau, nên NHNN đã quy định
trần lãi suất có phân biệt như sau:
- Trần lãi suất cho vay ngắn hạn.
- Trần lãi suất cho vay trung hạn và dài hạn.
- Trần lãi suất cho vay trên địa bàn nông thôn.
- Trần lãi suất cho vay của Quỹ tín dụng đối với các thành viên.
Giữa các trần lãi suất này lúc đầu có mức chênh lệch với
nhau khá xa nhưng sau mỗi lần điều chỉnh khoảng cáh này đã rút
ngắn lại và chỉ còn chênh lệch ít .
Một thực tế khách quan của cơ chế thị trường là khu vực
nông thôn có nhu cầu vốn lớn nhưng huy động tại chỗ được rất ít
tục ,phù hợp với chỉ số lạm phát , quan hệ cung cầu vốn tín
dụng tại từng thời điểm và góp phần thực hiện giải pháp kích
cầu về đầu tư của Chính phủ thông qua cơ chế nới lỏng lãi suất
tín dụng .Có thể nói đây là năm NHNN điều chỉnh lãi suất tín
dụng nhiều nhất từ trước đến nay ,lãi suất năm 1999 luôn có xu
hướng giảm sau các lần điều chỉnh , cụ thể như sau :
+ Ngày 17/1/1999 ,Thống đốc NHNN có chỉ tị
01/1999/CT-NHNN 1 điều chỉnh giảm lãi suất Cho vay bằng
đồng Việt Nam của các NHTM quốc doanh : đối với khách
hàng ở khu vực thành thị từ 1,2 – 1,25%/tháng xuống 1-
1,15%/tháng ;các TCTD khác vẫ thực hiện theo mức trần
1,2%/tháng đối với Cho vay ngắn hạn và 1,25%/tháng đối với
Cho vay trung và dài hạn .
+ Ngày 29/05/1999 do nền kinh tế đang có dấu hiệu thiểu
phát ,tăng trưởng kinh tế chậm lại ,sức mua giảm sút .Thống đốc
NHNN đã có quyết định 184/1999/QĐ -NHNN 1 về việc điều
chỉnh giảm trần lãi suất Cho vay bằng đồng Việt Nam từ 1,2-20
1,25%/tháng xuống mức 1,15%/tháng áp dụng Cho các TCTD
Cho vay trên địa bàn thành thị và nông thôn .Cùng với việc
giảm trần lãi suất Cho vay ,NHNN còn giảm lãi suất tái cấp vốn
từ 1%/tháng và lãi suất tái cấp vốn về Cho vay chỉ định thu mua
tạm trữ xuất khẩu 0,9%/tháng xuống một mức thống nhất là
0,85%/tháng . Như vậy , từ tháng 6/1999 từ chỗ nhiều trần lãi
suất ngắn ,trung ,dài hạn trần lãi suất Cho vay khu vực thành thị
và khu vực nông thôn khác nhau đã thống nhất chung một trần
áp dụng chung Cho các TCTD ,không phân biệt quốc doanh hay
22
5.Từ 7/2000 đến nay :Một bước tiến mới trong việc hình thành
lãi suất cơ bản :
Hiện nay, NHNN đã công bố và Cho áp dụng lãi suất cơ bản
làm cơ sở Cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ
bản tạo ra một bước tiến mới trong chính sách lãi suất, tiến sát đến
sự tự do hoá lãi suất hoàn toàn(đã tự do hoá lãi suất cho vay và lãi
suất tiền gửi dưới mức tối đa), là cơ chế lãi suất linh hoạt theo
quan hệ cung cầu vốn, phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ
quốc tế, tạo ra khả năng cạnh tranh lớn giữa các tổ chức tín dụng,
giảm thiểu sự quản lí của nhà nước bằng mệnh lệnh hành chính.
Khống chế lãi suất tiền gửi tối đa sẽ không cho phép các tổ chức
tín dụng huy động với bất cứ laĩ suất nào, chạy đua về lãi suất tiền
gửi để huy động mới bù đắp nợ cũ, bảo đảm an toàn hệ thống và
bảo vệ được lợi ích của người gửi tiền. Đồng thời, với lãi suất cơ
bản thì chắc chắn sẽ hình thành nhiều khu vực lãi suất theo quan
hệ cung cầu vốn và chi phí ngân hàng khác nhau như: lãi suất khu
vực nông thôn sẽ cao hơn khu vực thành thị, lãi suất cho vay các tổ
chức tín dụng cổ phần sẽ cao hơn các tổ chức tín dụng có quy mô 23
và sức cạnh tranh lớn như các ngân hàng thương mại quốc doanh,
ngân hàng liên doanh và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở
Việt Nam.
sang thiếu vốn . Công với cái vô lý là bắt các NHTM phải gánh
chịu số lỗ do thực hiện chính sách hạ lãi suất , và áp đặt chênh lệch
lãi suất 0,35% ,các NHTM và nhất là các ngân hàng cổ phần đã bị
giảm lợi nhuận một cách nặng nề .Tài chính vẫn duy trì một mức 25
thuế lợi tức 45% và Cho rằng tỷ lệ đó vẫn phù hợp ,cộng với việc
tính thuế không Cho ghi các khoản chi phí trích trước đã dồn các
ngân hàng vào tình trạng hầu như không tích luỹ được vốn .Việc
tăng vốn điều lệ vì vậy hầu như không thực hiện được.Các NHTM
đã yếu và để nợ quá hạn ,nợ xấu tăng cao,lại bị suy yếu thêm vì
những chính sách dồn các NHTM vào chỗ không duy trì được tỷ
suất lợi nhuận bình quân
*.Đối với thời kỳ áp dụng trần lãi suất :
Diễn biến các mức trần lãi suất cho vay theo quy định của
NHNN kể từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính- tiền tệ trong khu
vực đến năm1999:
Thời điểm thực hiện mức
trần lãi suất cho vay các
loại
1/7/199
7
21/1/19
98
1/2/199
9
1/6/199
9