Đề tài: Xây dựng chiến lược tài chính tại Hợp tác xã TM - DV Toàn Tâm trong giai đoạn 2008 -2020 - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN Xây dựng chiến lược tài chính tại Hợp tác
xã TM - DV Toàn Tâm trong giai đoạn
2008 -2020 1
CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM TÀI CHÍNH CỦA HỢP TÁC XÃ
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về HTX thương mại Việt Nam:
1.1.1 Lịch sử hình thành HTX thương mại Việt Nam:

Khái niệm về hợp tác xã:

2
nay, HTX thương mại đã trải qua các giai đoạn lịch sử với nhiều biến cố kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước, nhưng luôn luôn được Đảng và Nhà nước ta chú
trọng củng cố và phát triển. Trong thời kỳ nhân dân ta thực hiện hai chiến lược
cách mạng (1955-1975), HTX thương mại luôn được tăng cường theo hướng
mở rộng thị trường nội địa mà trước hết là th
ị trường nông thôn, nông nghiệp.
Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới quản lý kinh tế do Đảng ta
khởi xướng và thực hiện đã tạo cơ hội cho HTX thương mại được lựa chọn: lĩnh
vực kinh doanh thương mại và dịch vụ thương mại mà pháp luật không cấm,
như vậy HTX thương mại đã trở thành: chủ thể kinh doanh, hạch toán kinh tế
độc lập, bình đẳng tr
ước pháp luật với các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác. Trong cơ chế kinh tế mới, sự vận động của các tổ chức kinh tế cơ
bản nhằm tìm kiếm lợi nhuận và nó cũng đã được đặt ra trực tiếp, sự cạnh tranh
nhằm đạt hiệu quả kinh doanh thực sự trở thành vấn đề thường trực trong mỗi
HTX thương mại. Vì thế đã có nhiề
u đơn vị kinh tế tập thể trong ngành thương
mại không trụ được nên đã phải tự giải thể. Do vậy, số lượng HTX thương mại
từ năm 1986-1996 giảm nhanh. Năm 1994 cả nước còn 403 đơn vị và giảm thấp
hơn vào năm 1996. Năm 1996 khi cả nước còn 359 HTX thương mại, thì cũng
là năm nhà nước ta ban hành luật HTX, có hiệu lực từ ngày 01/01/1997. Sau khi
luật HTX ra đời, kinh tế tập thể
nói chung và HTX thương mại nói riêng từng
bước có những chuyển động mới, ngày càng đa dạng, phong phú và có những
chuyển biến về chất. Năm 2001, Liên minh HTX Việt Nam cho biết cả nước có
373 HTX thương mại, đặc biệt trong đó có 162 HTX thương mại mới thành lập.

1.244 HTX (cuối năm 2006) thuộc
tất cả các ngành nghề cho thấy 87,1% có lãi. Theo kế hoạch phát triển kinh tế
tập thể từ 2006 đến 2010 mà Chính phủ vừa phê duyệt, Nhà nước sẽ tạo môi
trường pháp lý thuận lợi cho mô hình kinh tế này phát triển có hiệu quả, mở
rộng quy mô, thành lập Liên Hiệp hợp tác xã, nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế
tập thể s
ẽ tuân theo quy định của pháp luật về hợp tác xã. Từ nay đến năm 2010,
số lượng hợp tác xã sẽ tăng bình quân 7,2% mỗi năm, số lượng xã viên tăng
khoảng 7,3%. Tỷ trọng tổng sản phẩm của khu vực kinh tế tập thể chiếm khoảng
14% GDP cả nước. Một mục tiêu phấn đấu khác là thu nhập bình quân của lao
động trong kinh tế tập thể, của xã viên hợp tác xã trong 5 năm tới sẽ t
ăng gấp
đôi so với năm 2005. Chính phủ cũng tạo điều kiện để mô hình kinh tế tập thể
được phát triển trên mọi lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng,
thương mại, giao thông vận tải, tín dụng,…
Theo Liên minh HTX TP. Hồ Chí Minh, hiện nay tại TP.HCM có các
loại hình HTX như sau :
4

Khối HTX thương mại dịch vụ:
Hơn hai thập kỷ qua, hoạt động của hệ thống HTX thương mại- dịch vụ
luôn được phát triển củng cố, chấn chỉnh và đổi mới. Toàn thành phố hiện có 88
HTX và Liên hiệp HTX. Không chỉ bán lẻ, phục vụ trực tiếp người tiêu dùng,
Liên hiệp HTX và các HTX thương mại - dịch vụ còn trở thành tổng đại lý của
nhiều công ty, nhiều hãng trong và ngoài nước, tổ
chức bán sĩ cho các cửa hàng,

viên và nông dân về vốn, vật tư, kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Ngoài
ra, còn có hơn 1.031 tổ hợp tác, đa số là tổ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp.
5
Các HTX và các trang trại đang đẩy mạnh sản xuất rau sạch và sữa tươi để cung
cấp cho thị trường
[10]
.

Khối HTX quỹ tín dụng:
Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn TPHCM theo Luật HTX
được đánh giá là một loại hình HTX hoạt động có hiệu quả, phù hợp yêu cầu
phát triển kinh tế của nhân dân lao động nghèo, góp phần phát triển sản xuất,
xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Hiện nay trên địa bàn
TPHCM đã thành lập 9 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với 12.270 thành viên và
4.691.000.000 đồng vốn điều lệ, lãi 1.463.000.000 đồng. Quỹ
tín dụng nhân dân
là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân lao động nghèo và các HTX, đáp ứng nhu
cầu nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh của thành viên. Quỹ tín dụng nhân dân
sẽ tiếp tục mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Ngoài quỹ tín dụng nhân dân, còn có
“quỹ trợ vốn xã viên- HTX TPHCM” trực thuộc Liên minh HTX TP.HCM được
UBND TP.HCM cấp giấy phép thành lập ngày 13/06/2002 với nguồn vốn hoạt
động là 100 tỉ đồng, đây là một loại hình tín dụng nộ
i bộ, đối tượng thụ hưởng
là xã viên, tổ hợp tác, HTX, Liên hiệp HTX và người lao động là thành viên của
quỹ. Quỹ trợ vốn xã viên HTX- TP.HCM sẽ là người bạn đồng hành, là đơn vị
uỷ thác đối với các quỹ tín dụng nhân dân góp phần thực hiện mục tiêu: “đưa
kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao

chế, không thể tiếp cận với các kênh huy động vốn hiện đại như thị trường
chứng khoán do luật không cho phép, không được cấp vốn, khả năng tích luỹ
vốn yếu. Theo các nhà bán lẻ Việt Nam, phần lớn nhà bán lẻ trong nước là
doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít và kinh nghi
ệm kinh doanh hạn chế. Nhiều vị
chủ nhiệm HTX tại TP.HCM tỏ ra rất lo lắng trước tình hình hoạt động của đơn
vị mình, bởi vì theo Luật HTX hiện hành, doanh nghiệp không được huy động
vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu hoặc thực hiện cổ phần hoá như loại
hình doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn đầu tư từ xã hội mà chỉ huy
động vốn từ các HTX thành viên. Đại diệ
n chuỗi siêu thị bán lẻ Co.opMart, bà
Nguyễn Thị Nghĩa (Chủ tịch Hội đồng quản trị Saigon Co-op) cho rằng vấn đề
vốn là một bài toán nan giải, bởi theo bà khi đầu tư vào một siêu thị phải sử
dụng rất nhiều vốn (chí ít cũng phải đầu tư từ 50-60 tỷ đồng/siêu thị) và thời
gian hoàn vốn kéo dài hàng chục năm. Điều này góp phần tạo ra sức ép cho
Saigon Co.op nói riêng và ngành thương m
ại bán lẻ trong nước nói chung khi
nghĩ đến chiến lược phát triển dài hạn. Cũng theo bà Nghĩa, Saigon Co.op dự
kiến nhu cầu vốn để xây dựng 35 siêu thị Co.opMart và 3 Trung tâm thương
mại cao cấp tại khu vực Hồ Con Rùa, khu Nam Sài Gòn và số 168 Nguyễn Đình
Chiểu (Co.opMart Nguyễn Đình Chiểu) đến năm 2010 là 2.000 tỷ đồng. Vì thế,
để giải bài toán này, Saigon Co.op xin vay vốn kích cầu đầu tư của TP.HCM,
đồng thời xin thành lập công ty cổ phần
đầu tư và kinh doanh siêu thị
7
Co.opMart để huy động vốn từ nhà đầu tư bên ngoài và chính thức ra mắt ngày
25/04/2007 Cty Cổ Phần Đầu Tư Phát triển SaiGon Co-op (SCID)

đào tạo, tuyên truyền
[10]
.
Về nhân sự, khó khăn lớn nhất của các DN bán lẻ hiện nay chính là
nguồn nhân lực ở cấp quản lý. Trong mục tiêu mở rộng quy mô của mình,
Saigon Co-op dự kiến mỗi năm sẽ mở thêm 10 siêu thị nhưng nếu trước đây mặt
8
bằng là khó khăn nhất thì hiện nay nguồn nhân lực trở thành nỗi lo đầu tiên. Sự
xuất hiện dồn dập của các đại gia phân phối trên thế giới tại thị trường nội địa
đã chính thức châm ngòi cho cuộc cạnh tranh vô cùng quyết liệt tại thị trường
nội địa.
1.1.6 Những ưu điểm của mô hình hợp tác xã so với mô hình các doanh
nghiệp khác:
 Xã viên HTX vừa là người góp vố
n, vừa góp sức nên mọi hoạt động
đều hướng đến lợi ích của tập thể, tinh thần đoàn kết cao.
 Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho mô hình HTX như: hỗ trợ
về tài chính, tín dụng, nguồn nhân lực, các chính sách ưu đãi về thuế,…
1.2 Mô hình kinh tế HTX của một số nước Châu Á:
Kinh tế tập thể, trong đó kinh tế HTX đóng vai trò nòng cốt trong phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Đặc biệt hiện nay, mô hình HTX đã trở thành lực
lượng vững mạnh ở một số nước Châu Á. Tạp chí Công nghiệp giới thiệu một
số mô hình phát triển HTX ở các nước này như sau
[9]
:



Tại Nhật Bản:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tổ chức HTX Nhật Bản là nhân tố tích
cực, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Các
loại hình HTX Nhật Bản bao gồm: HTX nông nghiệp, HTX tiêu dùng. HTX tiêu
dùng Nhật Bản phát triển mạnh từ những năm 1960-1970. Liên hiệp HTX tiêu
dùng (JCCU) là tổ chức cấp cao của khu vực HTX Nhật Bản. Hiện nay, JCCU
có 617 HTX thành viên.
Để giúp các tổ chức HTX hoạt
động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường
xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi nông nghiệp là một
trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các
ngành phải giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức này. Đồng thời
chính phủ còn yêu cầu các ngành tài chính, thương nghiệp giúp đỡ về vốn, kỹ
thuật, tư liệu sản xu
ất,… tuy nhiên, không làm ảnh hưởng đến tính tự chủ và độc
lập của các HTX này.

Tại Thái Lan:
Ở Thái Lan, HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu. Do hoạt
động của HTX này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng được thành lập
khắp cả nước. Cùng với sự phát triển của HTX tiêu dùng, các loại hình HTX
nông nghiệp, công nghiệp cũng được phát triển mạnh và trở thành một trong
10
những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ
vững ổn định của xã hội.
Năm 2001, Thái Lan có 5.611 HTX các loại với hơn 8 triệu xã viên. Liên

11

Tại Malaysia:
Ở Malaysia, các tổ chức HTX được thành lập từ những năm đầu của thế
kỷ XX. Hiện nay, tổ chức HTX đang là một trong những động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế của đất nước. Tổ chức HTX Malaysia (ANGKASA) là tổ chức
cấp cao của các HTX Malaysia. ANGKASA có nhiệm vụ hỗ trợ các HTX thành
viên về phương thức điều hành và quản lý các hoạt động của HTX bằng cách t
ư
vấn, giáo dục hoặc tổ chức những dịch vụ cần thiết. Hiện nay, ANGKASA có
4.049 HTX các loại với 4,33 triệu xã viên. Sự phát triển vững chắc của các khu
vực kinh tế HTX đã thúc đẩy nền kinh tế Malaysia có bước phát triển mới.
Các nguyên tắc của HTX được ANGKASA nêu cụ thể như sau: Quản lý
dân chủ; Thành viên tự nguyện; thu nhập bình đẳng; phân phối lợi nhuận kinh
doanh theo mức độ sử dụ
ng các dịch vụ của các xã viên và mức đóng góp cổ
phần của xã viên; hoàn trả vốn theo mức đầu tư; xúc tiến công tác đào tạo phổ
cập kiến thức quản lý và KHKT nông nghiệp cho các xã viên.
Năm 1992, pháp lệnh đầu tiên về HTX của Nhà nước Malaysia ra đời.
Sau đó, năm 1993, Luật HTX ra đời, là khung khổ pháp lý để các HTX hoạt
động, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo cán bộ quản lý HTX,
c
ủng cố quyền của xã viên cũng như công tác đào tạo xã viên. Luật cũng quy
định việc kiểm toán nội bộ và xây dựng báo cáo toàn diện của Ban chủ nhiệm
HTX trong đại hội xã viên thường kỳ hàng năm. Đặc biệt, Chính phủ Malaysia
đã thành lập Cục phát triển HTX với một số hoạt động chính như: Quản lý và
giám sát các hoạt động của HTX; giúp đỡ tài chính và cơ sở hạ tầng để HTX có

hiệu quả hay không; nếu có hiệu quả thì sản phẩm đó có được khách hàng tương
lai chấp nhận hay không; nếu được chấp nhận, thị trường có tăng trưởng đến
m
ột quy mô hiệu quả đủ cho các chi phí triển khai và đưa sản phẩm ra thị
trường không, và nếu tất cả các điều này đều đạt được thì công ty có chiếm
được thị phần không?
Mức độ rủi ro kinh doanh cao có nghĩa là rủi ro tài chính đi kèm nên được
giữ càng thấp càng tốt trong suốt giai đoạn này. Như vậy tài trợ bằng vốn cổ
phần là thích hợp nhất, nhưng do mức độ rủi ro t
ổng thể trong giai đoạn đầu của
chu kỳ kinh doanh rất cao, cho nên chỉ có các nhà đầu tư vốn mạo hiểm mới
dám chấp nhận đầu tư vào công ty mà thôi. Đương nhiên các nhà đầu tư vốn
mạo hiểm này sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi rất cao để bù đắp cho những rủi ro
cao mà họ phải gánh chịu. Do dòng tiền trong những năm đầu rất thấp (thậm chí
13
âm) nghĩa là họ khó có khả năng nhận được cổ tức trong giai đoạn này. Các nhà
đầu tư vốn mạo hiểm chỉ kỳ vọng vào phần lãi vốn tức là giá trị cổ phần tăng
thêm sau này so với giá trị ban đầu của chúng
[4]
.
Các thông số chiến lược tài chính trong giai đoạn này như sau:
Rủi ro kinh doanh Rất cao
Rủi ro tài chính Rất thấp
Nguồn tài trợ Vốn mạo hiểm
Chính sách cổ tức Tỷ lệ trả cổ tức bằng 0
Triển vọng tăng trưởng tương lai Rất cao
Tỷ số giá thu nhập(P/E) Rất cao

nhiều so với giai đoạn mới khởi sự. Tuy nhiên, công ty sẽ đầu tư thêm nhiều cho
các hoạt động phát triển thị trường và mở rộng thị phần, cũng như các nhà
đầu
tư cần thiết để theo kịp mức độ hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng. Vì
vậy, tiền mặt do kinh doanh phát sinh sẽ cần cho tái đầu tư vào hoạt động kinh
doanh, kết quả là tỷ lệ chi trả cổ tức vẫn thấp.
Tỷ số giá trên thu nhập (P/E) cao là vì hiện tại thu nhập trên mỗi cổ phần sẽ
rất thấp do chính sách chi trả cổ tức thấp trong giai đoạn này. Tuy nhiên, đi
ều
này cũng không làm cho các nhà đầu tư vốn cổ phần mới quan tâm lắm, vì đó là
chuyện đương nhiên phải đến trong giai đoạn này. Phần chủ yếu nhất trong thu
nhập mong đợi của nhà đầu tư là chênh lệch tăng giá cổ phần do chuyển nhượng
vốn. Tất cả điều này làm cho P/E trong giai đoạn này khá cao
[4]
.
Các thông số tài chính trong giai đoạn này như sau:
Rủi ro kinh doanh Cao
Rủi ro tài chính Thấp
Nguồn tài trợ Các nhà đầu tư vốn cổ phần tăng trưởng
Chính sách cổ tức Tỷ lệ chi trả danh nghĩa
Triển vọng tăng trưởng tương lai Cao
Tỷ số giá thu nhập(P/E) Cao
EPS Thấp
Giá cổ phần Tăng nhưng dễ biến động

Giai đoạn bảo hòa( sung mãn):
Mô hình tổng thể
Kết thúc giai đoạn tăng trưởng thường được đánh dấu bằng một cạnh
tranh giá cả mạnh mẽ giữa các công ty cạnh tranh vẫn còn năng lực thặng dư
đáng kể. Một khi ngành đã ổn định, giai đoạn sung mãn với doanh số cao nhưng

tức cao hơn là qua lãi vốn như trong các giai đoạn trước
[4]
.
Các thông số chiến lược tài chính của giai đoạn này như sau:
Rủi ro kinh doanh Trung bình
Rủi ro tài chính Trung bình
Nguồn tài trợ Lợi nhuận giữ lại cộng nợ vay
Chính sách cổ tức Tỷ lệ chi trả cao
Triển vọng tăng trưởng tương lai Trung bình đến thấp
Tỷ số giá thu nhập(P/E) Trung bình
EPS Cao
Giá cổ phần Ổn định trên thực tế với biến động thấp

16

Giai đoạn đang suy thoái:
Mô hình tổng thể
Dòng tiền mặt dương mạnh mẽ trong giai đoạn sung mãn không thể tiếp
tục mãi vì cuối cùng nhu cầu sản phẩm sẽ bắt đầu giảm dần. Khi nhu cầu giảm
đi các dòng tiền mặt thu vào cũng giảm, một khi doanh số bắt đầu sụt giảm việc
tiếp tục chi tiền cho các hoạt động tiếp thị không còn hợp lý nữa. Như v
ậy, có
thể duy trì được dòng tiền thuần trong giai đoạn suy thoái ban đầu bằng cách
điều chỉnh chiến lược kinh doanh thích hợp. Bất chấp chiều hướng sụt giảm và
cái chết không thể tránh khỏi của sản phẩm, rủi ro kinh doanh đi kèm sẽ được
xem là vẫn giảm từ mức độ của giai đoạn sung mãn trước đó. Tuy nhiên, có một
yếu tố là chiều dài của giai đoạn sung mãn đ

Rủi ro tài chính Cao
Nguồn tài trợ Nợ
Chính sách cổ tức Tỷ lệ chi trả toàn bộ
Triển vọng tăng trưởng tương lai Âm
Tỷ số giá thu nhập(P/E) Thấp
EPS Thấp và giảm dần
Giá cổ phần Giảm và tăng trong biến động

1.4 Đặc điểm tài chính của HTX:
Theo luật HTX năm 2003, HTX hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài
chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác theo quy
định của HTX. Về đặc điểm tài chính của HTX được quy định tại Chương V
Luật HTX 2003 như sau
[1]
:

Theo điều 31 quy định về vốn góp của xã viên:
 Khi gia nhập HTX, xã viên phải góp vốn, xã viên có thể góp vốn một
lần ngay từ đầu hoặc nhiều lần: mức, hình thức và thời hạn góp vốn do Điều lệ
hợp tác xã quy định. Mức vốn góp tối thiểu được điều chỉnh theo quyết định của
Đại hội xã viên.
 Xã viên được trả lại vốn góp khi chấm dứ
t tư cách của xã viên. Việc
trả lại vốn góp của xã viên căn cứ vào thực trạng tài chính của HTX tại thời
điểm trả lại vốn sau khi HTX đã quyết toán năm và đã giải quyết xong các
quyền lợi, nghĩa vụ về kinh tế đối với HTX. Hình thức, thời hạn trả lại vốn góp
cho xã viên do Điều lệ HTX quy định.

Theo điều 32 quy định về huy động vốn:

.

Điều 33 quy định về vốn hoạt động của HTX
Vốn hoạt động của HTX được hình thành từ vốn góp của xã viên, vốn
tích lũy thuộc sở hữu của HTX và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Điều 34. Quỹ của HTX
HTX phải lập quỹ phát triển sản xuất và quỹ dự phòng theo hướng dẫn
của Chính phủ; các quỹ khác do Điều lệ HTX và Đại hội xã viên quy định phù
hợp với điều kiện cụ thể của từng HTX, tỷ lệ trích lập các quỹ do Đại hội xã
viên quyết định. Mục đích, phương thức quản lý và sử dụng các quỹ c
ủa HTX
do Điều lệ HTX quy định.
19

Điều 37 quy định về phân phối lợi nhuận như sau:
 Sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như
sau:
 Trả bù các khoản lỗ của năm trước (nếu có) theo quy định của pháp
luật về thuế
 Trích lập quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và các quỹ khác của
HTX; chia lãi cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên và phần
còn lại chia cho xã viên theo m
ức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
 Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh nhu cầu tích lũy để phát triển
HTX, Đại hội xã viên quyết định cụ thể tỷ lệ phân phối lãi hàng năm.
 Đặc điểm tài chính của HTX TMDV Toàn Tâm:

nộp thuế được phân phối như sau:
9 Bù đắp các khoản lỗ từ năm trước chuyển sang (nếu có)
9 Trích lập các quỹ:
 Quỹ phát triển sản xuất kinh doanh đượ
c hình thành nhằm mục đích tái
đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và các hoạt động thương mại. Tỷ lệ trích
lập quỹ này là 10% tổng lại trích lập các quỹ.
 Qũy dự phòng nhằm giải quyết khó khăn đột xuất xảy ra trong kinh
doanh: 5%
 Quỹ phúc lợi, khen thưởng: 20%
 Quỹ bồi dưỡng, đào tạo cán bộ nhân viên theo chương trình kế hoạch của
HTX: 5%
 Chia lãi xã viên 60%, trong đó cân đố
i giữa bổ sung vốn góp và chia lãi
hàng năm: bổ sung vốn góp tối thiểu 30%, chia lãi hàng năm tối đa 30%. Đại
hội đại biểu xã viên sẽ quy định việc phân phối lãi tùy theo tình hình cụ thể.
Như vậy, với nhu cầu vốn phục vụ kinh doanh khá cao trong khi nguồn
vốn huy động hạn chế (số lượng xã viên và mức vốn góp của xã viên bị giới
hạn, khả năng huy động vốn từ ngân hàng khó khăn, kh
ả năng tích lũy nội bộ
kém), đây là vấn đề khó khăn của đơn vị trong giai đoạn hiện nay và về lâu dài
khi DN bán lẻ nước ngoài chính thức vào Việt Nam.
 Kết luận:
Khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh
nghiệp; phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX là mộ
t trong những hướng
ưu tiên. Trong những năm gần đây, các HTX đã có những chuyển biến sâu rộng
và đạt được các kết quả khả quan trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa. Đồng
21
22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
TẠI HTX TM DV TOÀN TÂM TRONG GIAI ĐOẠN 2006-
2007 & QUÝ I/2008:
2.1 Mô hình DN HTX và hoạt động của các DN HTX trên địa bàn TP.HCM
2.1.1 Một số nét chính về mô hình HTX và chủ trương xây dựng, phát triển
mô hình HTX:
Dư luận đây đó còn mặc cảm về mô hình HTX cuối thời kỳ bao cấp; Luật
HTX năm 2003 và các chính sách phát triển HTX đã từng bước đi vào cuộc
sống, những HTX, tổ hợp tác hiện nay là minh chứng cho mô hình HTX kiểu
mới trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
[12]
.
Tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể theo Nghị quyết số 13/NQ-
TW Hội nghị Ban Chấp hành Đảng lần thứ 5 (khóa IX), Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX và Luật HTX năm 2003, trong những năm gần đây,
khu vực kinh tế tập thể mà nồng cốt là các HTX đã có những chuyển biến sâu
rộng và quan trọng góp phần tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, phát tri
ển bền
vững
[12]
.
Điểm khác biệt quan trọng của mô hình HTX kiểu mới (theo Luật HTX
năm 2003) là xã viên, người lao động trong HTX, Liên Hiệp HTX, tổ hợp tác là
những người có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất tự nguyện góp vốn, góp sức

[3]
.
Tính đến tháng 06/2007 cả nước có 17.599 HTX trong nhiều ngành,
trong đó có khoảng 10.000 HTX đã chuyển đổi từ mô hình cũ sang hoạt động
theo Luật HTX và trên 6.000 HTX mới được thành lập. Từ năm 2003 đến nay,
số HTX khá giỏi đã tăng từ 33% lên 42,1%, số HTX yếu kém giảm từ 20%
xuống 13,8%. Theo điều tra tại 1.244 HTX tại tất cả các ngành nghề cho thấy có
tới 87,1% có lãi. Mô hình HTX điển hình mới như: HTX tổ chức cung ứng dịch
vụ, HTX môi trường, trang trại, chế biến dược liệu,… cũng phát triển nhanh
chóng.
HTX thuộc lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, giao thông vận
tải tổ chức hoạt động theo các hình thức cơ bản sau:
 Thứ nhất là mô hình dịch vụ hỗ trợ, HTX làm một số khâu mà xã
viên làm riêng rẽ không hiệu quả (ví dụ như 10 hộ chăn nuôi thả gia súc chỉ cần
2 người trông coi thay cho 10 người; giả
m đầu tư phân tán ở các hộ xây lò,
nhuộm sợi, tạo phôi sản phẩm, hấp xấy mây tre, gỗ,… trong sản xuất tiểu thủ
công nghiệp). Trong nông nghiệp, HTX làm dịch vụ thủy lợi, dịch vụ bảo vệ
thực vật, dịch vụ khuyến nông, hướng dẫn KHKT,…Theo tổng hợp của Liên
minh HTX Việt Nam, hiện nay có 40% HTX nông nghiệp tổ chức được từ 6
24
khâu dịch vụ trở lên, nhiều sản phẩm dịch vụ giảm giá so với thị trường từ 7-
15% do áp dụng các hình thức cho vay, trả chậm hoặc miễn phí bảo vệ thực vật,
cây con giống, hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, điển hình của mô hình này là
các HTX nông nghiệp Hữu Đức (Ninh Thuận), HTX Thanh Hội (Hà Tĩnh),
HTX rau sạch Tân Phú Trung (TP.HCM)…, trong công nghiệp có các HTX: Ba
Nhất (TP.HCM), Quang Minh (Tiền Giang), Kim Chi (An Giang),…

Trích đoạn Phân tích tình hình doanh thu, lợi nhuận: Phân tích khả năng tín dụng: CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC TÀI CHÍNH CHO HTX TMDV TỒN TÂM Điều kiện thực hiện:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status