1
CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM TÀI CHÍNH CỦA HỢP TÁC XÃ
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về HTX thương mại Việt Nam:
1.1.1 Lịch sử hình thành HTX thương mại Việt Nam:
Khái niệm về hợp tác xã:
Theo luật HTX năm 2003, Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá
nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích
chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát
huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực
hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần, góp phần phát tri
ển kinh tế- xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt
động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và
các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
[1]
.
Lịch sử hình thành HTX thương mại tại Việt Nam:
Thị trường trong nước luôn luôn được coi là cơ sở, nhân tố thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu, góp phần tăng GDP trong mọi quốc gia. Ở Việt Nam
trong công cuộc đổi mới quản lý kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định:
“Hướng về xuất khẩu là đúng, phải khuyến khích mạnh xuất khẩu. Không xuất
khẩu được thì không lấy gì
để nhập khẩu…, không được coi nhẹ sản xuất trong
nước và không được coi nhẹ thị trường trong nước”. Để phát triển kinh tế thị
mại không trụ được nên đã phải tự giải thể. Do vậy, số lượng HTX thương mại
từ năm 1986-1996 giảm nhanh. Năm 1994 cả nước còn 403 đơn vị và giảm thấp
hơn vào năm 1996. Năm 1996 khi cả nước còn 359 HTX thương mại, thì cũng
là năm nhà nước ta ban hành luật HTX, có hiệu lực từ ngày 01/01/1997. Sau khi
luật HTX ra đời, kinh tế tập thể
nói chung và HTX thương mại nói riêng từng
bước có những chuyển động mới, ngày càng đa dạng, phong phú và có những
chuyển biến về chất. Năm 2001, Liên minh HTX Việt Nam cho biết cả nước có
373 HTX thương mại, đặc biệt trong đó có 162 HTX thương mại mới thành lập.
Từ năm 1996 đến nay, quá trình chuyển đổi, lập mới của HTX thương mại đã
được diễn ra trên khắp cả nước, số lượng HTX thươ
ng mại tăng lên. Điều đáng
lưu ý là chức năng mua, bán để phục vụ nhà nông, kinh tế nông nghiệp, mở rộng
thị trường nội của HTX thương mại vẫn được thực hiện với quy mô ngày càng
lớn.
Hiện nay, HTX thương mại kinh doanh đa dạng, linh hoạt, đây là một
trong những nét đặc biệt cần chú ý từ góc nhìn mở rộng thị trường nội địa của
3
HTX thương mại. Theo Bộ Thương Mại (07/2001) cho biết: “bên cạnh các HTX
thương mại với hoạt động chủ yếu là mua, bán đã có 15,48% HTX kinh doanh
dịch vụ, 16,77% HTX kết hợp mua bán và dịch vụ, 7,75% HTX kết hợp thương
mại với sản xuất, chế biến, có 7,1% HTX kinh doanh đa ngành”
[2]
.
1.1.2 Các loại hình hoạt động của HTX tại Việt Nam- điển hình tại
TP.HCM:
Tính đến tháng 06/2007, cả nước có 17.599 HTX, 39 Liên hiệp HTX
4
Khối HTX thương mại dịch vụ:
Hơn hai thập kỷ qua, hoạt động của hệ thống HTX thương mại- dịch vụ
luôn được phát triển củng cố, chấn chỉnh và đổi mới. Toàn thành phố hiện có 88
HTX và Liên hiệp HTX. Không chỉ bán lẻ, phục vụ trực tiếp người tiêu dùng,
Liên hiệp HTX và các HTX thương mại - dịch vụ còn trở thành tổng đại lý của
nhiều công ty, nhiều hãng trong và ngoài nước, tổ
chức bán sĩ cho các cửa hàng,
điểm bán, hộ tiêu dùng, hộ tiểu thương. Hàng hóa- dịch vụ của các siêu thị, cửa
hàng của các Liên hiệp HTX và các HTX thương mại- dịch vụ luôn luôn đảm
bảo số lượng, chất lượng, uy tín với giá cả hợp lý
[10]
.
Khối HTX tiểu thủ công nghiệp- thủ công mỹ nghệ- xây
dựng:
Sau khi luật HTX được ban hành, tổ chức HTX đã được đổi mới. Hiện
nay toàn thành phố có 112 HTX công nghiệp và xây dựng và 431 tổ hợp tác.
Trong đó có các ngành nghề sau: Chế biến thực phẩm; dệt và trang phục; chế
biến gỗ, mây, tre lá; giấy; nhựa, cao su; kim loại và sản phẩm kim loại; chế tạo
động cơ thiết bị, phương tiện vậ
n tải; đồ gỗ gia dụng; xây dựng
[10]
.
Khối HTX vận tải- bốc xếp:
tín dụng nhân dân
là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân lao động nghèo và các HTX, đáp ứng nhu
cầu nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh của thành viên. Quỹ tín dụng nhân dân
sẽ tiếp tục mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Ngoài quỹ tín dụng nhân dân, còn có
“quỹ trợ vốn xã viên- HTX TPHCM” trực thuộc Liên minh HTX TP.HCM được
UBND TP.HCM cấp giấy phép thành lập ngày 13/06/2002 với nguồn vốn hoạt
động là 100 tỉ đồng, đây là một loại hình tín dụng nộ
i bộ, đối tượng thụ hưởng
là xã viên, tổ hợp tác, HTX, Liên hiệp HTX và người lao động là thành viên của
quỹ. Quỹ trợ vốn xã viên HTX- TP.HCM sẽ là người bạn đồng hành, là đơn vị
uỷ thác đối với các quỹ tín dụng nhân dân góp phần thực hiện mục tiêu: “đưa
kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao
hơn, tiến tới có tỷ
trọng ngày càng lớn trong GDP của nền kinh tế” (Nghị quyết
số 13 Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX)
[10]
.
1.1.3 Khung pháp lý chi phối hoạt động của HTX: luật HTX
Luật HTX nước Việt Nam ra đời đầu tiên vào tháng 01/1997 và hiện nay
các HTX hoạt động theo Luật HTX năm 2003, Luật này đã được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày
26/11/2003 (Luật HTX 2003), Luật này gồm 10 Chương và 52 Điều
[1]
.
1.1.4 Nguồn vốn của HTX: bao gồm
[1]
Vốn góp của xã viên
Vốn vay
6
kiến nhu cầu vốn để xây dựng 35 siêu thị Co.opMart và 3 Trung tâm thương
mại cao cấp tại khu vực Hồ Con Rùa, khu Nam Sài Gòn và số 168 Nguyễn Đình
Chiểu (Co.opMart Nguyễn Đình Chiểu) đến năm 2010 là 2.000 tỷ đồng. Vì thế,
để giải bài toán này, Saigon Co.op xin vay vốn kích cầu đầu tư của TP.HCM,
đồng thời xin thành lập công ty cổ phần
đầu tư và kinh doanh siêu thị
7
Co.opMart để huy động vốn từ nhà đầu tư bên ngoài và chính thức ra mắt ngày
25/04/2007 Cty Cổ Phần Đầu Tư Phát triển SaiGon Co-op (SCID)
[11]
.
Trình độ quản lý lạc hậu, chậm đổi mới, khả năng tiếp cận khoa
học kỹ thuật tiên tiến chậm:
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Tổng giám đốc chuổi siêu thị Saigon
Co.op, cái khó nhất hiện nay là đầu tư công nghệ thông tin (IT) cho toàn bộ hệ
thống CoopMart. Nhiều năm trước chúng tôi cũng đã đi tham khảo các siêu thị
lớn của nước ngoài và thấy rằng họ làm công tác IT rất tuyệt. Biết là cầ
n thiết,
nhưng Saigon Co.op cũng phải đến năm 2005 mới có thể đầu tư 1,5 triệu USD
để thiết lập hệ thống phần mềm cho toàn bộ chuỗi siêu thị nhưng chỉ ở giai đoạn
1, mở rộng kho, xây dựng trung tâm phân phối hiện đại
[11]
. Hiện nay, các nhà
bán lẻ muốn đầu tư công nghệ phải sử dụng khoản chi bằng 1% doanh thu.
Nhưng để có được 1% này là không đơn giản, bởi lãi gộp không nhiều. Thiếu
lực và vốn để đầu tư là tình hình chung của nhiều nhà bán lẻ hiện nay. Nhiều
đều hướng đến lợi ích của tập thể, tinh thần đoàn kết cao.
Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho mô hình HTX như: hỗ trợ
về tài chính, tín dụng, nguồn nhân lực, các chính sách ưu đãi về thuế,…
1.2 Mô hình kinh tế HTX của một số nước Châu Á:
Kinh tế tập thể, trong đó kinh tế HTX đóng vai trò nòng cốt trong phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Đặc biệt hiện nay, mô hình HTX đã trở thành lực
lượng vững mạnh ở một số nước Châu Á. Tạp chí Công nghiệp giới thiệu một
số mô hình phát triển HTX ở các nước này như sau
[9]
:
Tại Ấn Độ:
Ở Ấn Độ, tổ chức HTX được ra đời từ lâu và chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế của nước này, trong đó Liên minh HTX quốc gia Ấn Độ
(NCUI) là tổ chức cao nhất, đại diện cho toàn bộ HTX ở Ấn Độ. Mục tiêu chính
của NCUI là hỗ trợ và phát triển phong trào HTX ở Ấn Độ, giáo dục và hướng
dẫn nông dân cùng nhau xây dựng và phát triển HTX. Nhiệm vụ quan trọng củ
a
NCUI là công tác đào tạo với hệ thống đào tạo 3 cấp: Viện đào tạo quốc gia có
nhiệm vụ đào tạo và cấp bằng cao đẳng về quản lý kinh doanh HTX; Viện đào
tạo và cấp bằng trung cấp về quản lý kinh doanh HTX; Trung tâm đào tạo cấp
quận, huyện đào tạo cán bộ HTX cơ sở, đào tạo nghề. Do có các chính sách và
phân cấp đào tạo hợp lý nên Ấn Độ
đã có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao,
thúc đẩy khu vực kinh tế HTX phát triển và mô hình HTX trở thành lực lượng
vững mạnh, tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế của đất nước.
9
Tại Thái Lan:
Ở Thái Lan, HTX tín dụng nông thôn được thành lập từ lâu. Do hoạt
động của HTX này có hiệu quả, nên hàng loạt HTX tín dụng được thành lập
khắp cả nước. Cùng với sự phát triển của HTX tiêu dùng, các loại hình HTX
nông nghiệp, công nghiệp cũng được phát triển mạnh và trở thành một trong
10
những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của đất nước cũng như giữ
vững ổn định của xã hội.
Năm 2001, Thái Lan có 5.611 HTX các loại với hơn 8 triệu xã viên. Liên
đoàn HTX Thái Lan (CLT) được thành lập, là tổ chức HTX cấp cao quốc gia,
thực hiện chức năng đại diện, hỗ trợ, giáo dục và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
các HTX và xã viên theo luật
định. Hiện nay, Thái Lan có một số mô hình HTX
tiêu biểu: HTX nông nghiệp và HTX tín dụng.
Để tạo điều kiện cho khu vực HTX phát triển và khuyến khích xuất khẩu,
Chính phủ Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách thiết thực như chính sách giá,
tín dụng nhằm khuyến khích nông dân phát triển sản xuất. Mục tiêu của chính
sách giá cả là: đảm bảo chi phí đầu vào hợp lý để có giá bán ổn định cho người
tiêu dùng, đồng thời góp phần làm ổn định giá nông sản tại thị tr
ường trong
nước, giữ giá trong nước thấp hơn giá thị trường thế giới, khuyến khích xuất
khẩu. Với chính sách tín dụng, các xã viên có thể vay vốn tín dụng từ các HTX
nông nghiệp, các cơ quan chính phủ, các ngân hàng thương mại để đầu tư vào
sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho nông nghiệp. Trong giai đoạn
2002-2004, Chính phủ đã dành 134 tỷ Bạt để cải thiện và phát triển HTX, bao
gồ
m phát triển sản phẩm mới, giống công nghệ sinh học, mở rộng tưới tiêu…
ng các dịch vụ của các xã viên và mức đóng góp cổ
phần của xã viên; hoàn trả vốn theo mức đầu tư; xúc tiến công tác đào tạo phổ
cập kiến thức quản lý và KHKT nông nghiệp cho các xã viên.
Năm 1992, pháp lệnh đầu tiên về HTX của Nhà nước Malaysia ra đời.
Sau đó, năm 1993, Luật HTX ra đời, là khung khổ pháp lý để các HTX hoạt
động, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển và đào tạo cán bộ quản lý HTX,
c
ủng cố quyền của xã viên cũng như công tác đào tạo xã viên. Luật cũng quy
định việc kiểm toán nội bộ và xây dựng báo cáo toàn diện của Ban chủ nhiệm
HTX trong đại hội xã viên thường kỳ hàng năm. Đặc biệt, Chính phủ Malaysia
đã thành lập Cục phát triển HTX với một số hoạt động chính như: Quản lý và
giám sát các hoạt động của HTX; giúp đỡ tài chính và cơ sở hạ tầng để HTX có
thể t
ồn tại hoạt động; xây dựng kế hoạch phát triển HTX, kế hoạch đào tạo cán
bộ quản lý,…
Bài học kinh nghiệm cho mô hình HTX tại Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay: Chính phủ Việt Nam nên có những chính sách để hỗ trợ và khuyến
khích mô hình kinh tế hợp tác xã phát triển như: thành lập trường giảng dạy về
mô hình kinh tế hợp tác xã, thành lập hệ thống ngân hàng dành riêng cho HTX,
12
hỗ trợ về tài chính và nguồn nhân lực quản lý cho HTX, Chính phủ tạo môi
trường pháp lý thuận lợi cho mô hình kinh tế tập thể phát triển có hiệu quả,…
1.3 Chiến lược tài chính của DN:
1.3.1 Khái niệm về hoạch định chiến lược tài chính:
Hoạch định chiến lược tài chính cho doanh nghiệp là xây dựng cho DN một
chiến lược tài chính trong một thời gian dài, bao gồm sự kết hợp của các quyết
định về chính sách đầ
âm) nghĩa là họ khó có khả năng nhận được cổ tức trong giai đoạn này. Các nhà
đầu tư vốn mạo hiểm chỉ kỳ vọng vào phần lãi vốn tức là giá trị cổ phần tăng
thêm sau này so với giá trị ban đầu của chúng
[4]
.
Các thông số chiến lược tài chính trong giai đoạn này như sau:
Rủi ro kinh doanh Rất cao
Rủi ro tài chính Rất thấp
Nguồn tài trợ Vốn mạo hiểm
Chính sách cổ tức Tỷ lệ trả cổ tức bằng 0
Triển vọng tăng trưởng tương lai Rất cao
Tỷ số giá thu nhập(P/E) Rất cao
Thu nhập trên mỗi cổ phần(EPS) Danh nghĩa hoặc âm
Giá cổ phần Tăng nhanh hoặc biến động cao
Giai đoạn tăng trưởng:
Mô hình tổng thể
Một khi sản phẩm tung ra thị trường một cách thành công, doanh số sẽ bắt
đầu tăng nhanh chóng. Điều này không chỉ tiêu biểu cho việc sụt giảm rủi ro
kinh doanh chung đi kèm với sản phẩm, mà còn cho thấy nhu cầu điều chỉnh
chiến lược của công ty. Trong chiến lược cạnh tranh cần nhấn mạnh đến các
hoạt động tiếp th
ị để bảo đảm doanh số tăng trưởng thoả đáng và để công ty gia
tăng thị phần của doanh số đang tăng trưởng này.
Các vấn đề mấu chốt trên cho thấy rằng rủi ro kinh doanh dù đã giảm bớt so
với giai đoạn khởi sự nhưng vẫn còn cao trong suốt thời gian doanh số tăng
trưởng nhanh. Như vậy phải xác định được nguồn tài trợ thích hợp để
giữ mức
độ rủi ro tài chính thấp, tức là tiếp tục dùng nguồn vốn cổ phần. Tuy nhiên, một
khía cạnh quan trọng trong việc quản lý giai đoạn chuyển tiếp từ khởi đầu đến
Nguồn tài trợ Các nhà đầu tư vốn cổ phần tăng trưởng
Chính sách cổ tức Tỷ lệ chi trả danh nghĩa
Triển vọng tăng trưởng tương lai Cao
Tỷ số giá thu nhập(P/E) Cao
EPS Thấp
Giá cổ phần Tăng nhưng dễ biến động
Giai đoạn bảo hòa( sung mãn):
Mô hình tổng thể
Kết thúc giai đoạn tăng trưởng thường được đánh dấu bằng một cạnh
tranh giá cả mạnh mẽ giữa các công ty cạnh tranh vẫn còn năng lực thặng dư
đáng kể. Một khi ngành đã ổn định, giai đoạn sung mãn với doanh số cao nhưng
tương đối ổn định với biên lợi nhuận hợp lý có thể bắt
đầu. Rõ ràng, mức độ rủi
ro kinh doanh lại giảm do một giai đoạn phát triển khác bây giờ đã hoàn tất một
15
cách thành công, công ty sẽ bước vào giai đoạn sung mãn với một thị phần
tương đối tốt do kết quả đầu tư của công ty vào hoạt động tiếp thị trong giai
đoạn tăng trưởng. Rủi ro kinh doanh còn lại là thời hạn của giai đoạn ổn định và
sung mãn này và việc công ty có thể duy trì thị phần cao của mình trong suốt
thời kỳ này hay không.
Trọng tâm của chiến lược bây giờ chuyể
n sang duy trì thị phần và cải tiến
hiệu quả hoạt động trong suốt thời kỳ này. Điều này có thể làm cho việc chuyển
tiếp giữa tăng trưởng và sung mãn rất khó quản lý. Tuy nhiên, rủi ro kinh doanh
giảm làm cho rủi ro tài chính tăng tương ứng qua việc sử dụng tài trợ nợ. Tài trợ
nợ bây giờ khá thực tế vì dòng tiền thuần sẽ chuyển sang dương một cách đáng
Giai đoạn đang suy thoái:
Mô hình tổng thể
Dòng tiền mặt dương mạnh mẽ trong giai đoạn sung mãn không thể tiếp
tục mãi vì cuối cùng nhu cầu sản phẩm sẽ bắt đầu giảm dần. Khi nhu cầu giảm
đi các dòng tiền mặt thu vào cũng giảm, một khi doanh số bắt đầu sụt giảm việc
tiếp tục chi tiền cho các hoạt động tiếp thị không còn hợp lý nữa. Như v
ậy, có
thể duy trì được dòng tiền thuần trong giai đoạn suy thoái ban đầu bằng cách
điều chỉnh chiến lược kinh doanh thích hợp. Bất chấp chiều hướng sụt giảm và
cái chết không thể tránh khỏi của sản phẩm, rủi ro kinh doanh đi kèm sẽ được
xem là vẫn giảm từ mức độ của giai đoạn sung mãn trước đó. Tuy nhiên, có một
yếu tố là chiều dài của giai đoạn sung mãn đ
ã được giải quyết và rủi ro chính
còn lại duy nhất là về mặt kinh tế để cho phép doanh nghiệp tồn tại bao lâu nữa.
Rủi ro kinh doanh thấp này sẽ được bổ sung bởi một nguồn vốn có rủi ro tài
chính tương đối cao. Có thể đạt được điều này bằng một kết hợp chính sách chi
trả cổ tức cao với việc sử dụng tài trợ nợ. Thực ra cổ tức chi trả trong giai
đoạn
này có thể cao hơn lợi nhuận sau thuế do khả năng sử dụng thêm nguồn vốn
khấu hao bởi lẽ nhu cầu đầu tư cao không còn cần thiết lắm trong giai đoạn này.
Kết quả là cổ tức có thể bằng tổng số lợi nhuận và khấu hao, trong trường hợp
này phần chi trả cổ tức thực sự tiêu biểu cho một sự hoàn trả vốn đầ
u tư cho các
cổ đông. Triển vọng tăng trưởng âm được diễn dịch thành một tỷ số giá thu
nhập thấp cho các cổ phần và khi kết hợp với chiều hướng đi xuống trong thu
nhập mỗi cổ phần đang xảy ra trong giai đoạn này, nó đưa đến một sụt giảm
mạnh giá cổ phần.
Vì vậy, tài trợ nợ cho một doanh nghiệp đang suy thoái tập trung vào các
giá tr
ị cuối cùng có thể thực hiện của tài sản và điều này làm giảm thiểu rất
Theo điều 31 quy định về vốn góp của xã viên:
Khi gia nhập HTX, xã viên phải góp vốn, xã viên có thể góp vốn một
lần ngay từ đầu hoặc nhiều lần: mức, hình thức và thời hạn góp vốn do Điều lệ
hợp tác xã quy định. Mức vốn góp tối thiểu được điều chỉnh theo quyết định của
Đại hội xã viên.
Xã viên được trả lại vốn góp khi chấm dứ
t tư cách của xã viên. Việc
trả lại vốn góp của xã viên căn cứ vào thực trạng tài chính của HTX tại thời
điểm trả lại vốn sau khi HTX đã quyết toán năm và đã giải quyết xong các
quyền lợi, nghĩa vụ về kinh tế đối với HTX. Hình thức, thời hạn trả lại vốn góp
cho xã viên do Điều lệ HTX quy định.
Theo điều 32 quy định về huy động vốn:
HTX được vay vốn ngân hàng và huy động vốn bằng các hình thức
khác theo quy định của pháp luật.
18
HTX được huy động bổ sung vốn góp của xã viên theo quyết định của
Đại hội xã viên.
HTX được nhận và sử dụng vốn, trợ cấp của Nhà nước, của các tổ
chức, cá nhân trong và ngoài nước do các bên thỏa thuận và theo quy định của
pháp luật.
Điển hình tại TP.HCM các HTX có thể tiếp cận quỹ trợ vốn cho xã viên
HTX. Ông Nguyễn Duy Hiếu- giám đốc quỹ cho biết: “Quỹ này dựa trên cơ sở
tín chấp, tất cả các HTX đều có thể tiếp cận một cách dễ dàng mà không cần phải
có tài sản thế chấp. Điều này hết sức quan trọng đối với các HTX có qui mô sản
xuất nhỏ, tài sản ít, không thể tiếp cận các nguồn tín dụng ngân hàng. Mặt khác,
Điều 37 quy định về phân phối lợi nhuận như sau:
Sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như
sau:
Trả bù các khoản lỗ của năm trước (nếu có) theo quy định của pháp
luật về thuế
Trích lập quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và các quỹ khác của
HTX; chia lãi cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên và phần
còn lại chia cho xã viên theo m
ức độ sử dụng dịch vụ của HTX.
Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh nhu cầu tích lũy để phát triển
HTX, Đại hội xã viên quyết định cụ thể tỷ lệ phân phối lãi hàng năm.
Đặc điểm tài chính của HTX TMDV Toàn Tâm:
Do đơn vị mới được thành lập vào đầu năm 2006 nên nhu cầu vốn để đầu
tư mua sắm trang thiết bị r
ất cao và DN kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ nên
nhu cầu về vốn lưu động tương đối lớn và nguồn vốn huy động được thì hạn chế
chủ yếu từ vốn góp của xã viên và vốn vay từ ngân hàng (do đặc thù của loại
hình HTX là không thể phát hành cổ phiếu hay trái phiếu để huy động vốn trên
thị trường chứng khoán như các Công ty cổ phần). Cụ thể như sau
[13]
:
Vốn góp của xã viên:
9 Khi gia nhập HTX, xã viên phải góp vốn (gọi là vốn góp): Điều kiện
để trở thành xã viên là CBCNV đang công tác tại Liên hiệp HTX TM Thành
Phố hoặc đã nghỉ hưu được tính theo thâm niên công tác và mức độ đóng góp
công sức cho Saigon Coop, tối thiểu là 1,5 triệu đồng và tối đa là 60 triệu đồng.
9 Thời điểm, mức góp vốn lần đầu, thời hạn góp đủ vốn đã đă
ng ký của
xã viên:
vốn huy động hạn chế (số lượng xã viên và mức vốn góp của xã viên bị giới
hạn, khả năng huy động vốn từ ngân hàng khó khăn, kh
ả năng tích lũy nội bộ
kém), đây là vấn đề khó khăn của đơn vị trong giai đoạn hiện nay và về lâu dài
khi DN bán lẻ nước ngoài chính thức vào Việt Nam.
Kết luận:
Khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh
nghiệp; phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX là mộ
t trong những hướng
ưu tiên. Trong những năm gần đây, các HTX đã có những chuyển biến sâu rộng
và đạt được các kết quả khả quan trên các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa. Đồng
21
thời, cũng nâng cao vai trò, vị trí của kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN. Bên cạnh đó kinh tế HTX vẫn còn tồn tại nhiều khó
khăn, yếu kém như về vốn, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận khoa học kỹ
thuật và đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập để tồn tại và phát triển thì các DN
mà điển hình là mô hình HTX phải xây d
ựng cho mình một chiến lược tài chính
phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh. Tình hình tài chính của doanh nghiệp
thể hiện chủ yếu thông qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Phân tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích báo cáo tài chính
và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương pháp,
công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác
nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát, lại vừa xem xét một cách chi
tiết hoạt động tài chính củ
a doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và
.
Tiếp tục đổi mới, phát triển kinh tế tập thể theo Nghị quyết số 13/NQ-
TW Hội nghị Ban Chấp hành Đảng lần thứ 5 (khóa IX), Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX và Luật HTX năm 2003, trong những năm gần đây,
khu vực kinh tế tập thể mà nồng cốt là các HTX đã có những chuyển biến sâu
rộng và quan trọng góp phần tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, phát tri
ển bền
vững
[12]
.
Điểm khác biệt quan trọng của mô hình HTX kiểu mới (theo Luật HTX
năm 2003) là xã viên, người lao động trong HTX, Liên Hiệp HTX, tổ hợp tác là
những người có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất tự nguyện góp vốn, góp sức
lao động, trí tuệ, kinh nghiệm kinh doanh tham gia vào HTX. Kinh tế tập thể
không đối lập với kinh tế tư nhân mà là sự liên kết các hình thức sở hữu, các
quyền sử dụng đấ
t đai, tài sản, vốn, sức lao động với hình thức tổ chức thích
hợp, sản xuất tập trung. Xã viên HTX mở rộng, bao gồm cá nhân, hộ gia đình,
doanh nghiệp, các pháp nhân (trừ quỹ từ thiện). HTX được thành lập Cty TNHH
một thành viên theo Luật DN năm 2005, HTX làm thành viên của Liên hiệp
HTX, thành viên của Liên minh HTX cấp tỉnh và cấp quốc gia. HTX là tổ chức
kinh tế hướng theo lợi nhuận khi tham gia thị trường, là tổ chức phi lợi nhuận
khi h
ỗ trợ xã viên vì lợi ích của xã viên, do vậy HTX hội đủ giá trị kinh tế- xã
23
hội và nhân văn phù hợp với tiến trình phát triển công bằng dân chủ văn
minh
công nghiệp). Trong nông nghiệp, HTX làm dịch vụ thủy lợi, dịch vụ bảo vệ
thực vật, dịch vụ khuyến nông, hướng dẫn KHKT,…Theo tổng hợp của Liên
minh HTX Việt Nam, hiện nay có 40% HTX nông nghiệp tổ chức được từ 6
24
khâu dịch vụ trở lên, nhiều sản phẩm dịch vụ giảm giá so với thị trường từ 7-
15% do áp dụng các hình thức cho vay, trả chậm hoặc miễn phí bảo vệ thực vật,
cây con giống, hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, điển hình của mô hình này là
các HTX nông nghiệp Hữu Đức (Ninh Thuận), HTX Thanh Hội (Hà Tĩnh),
HTX rau sạch Tân Phú Trung (TP.HCM)…, trong công nghiệp có các HTX: Ba
Nhất (TP.HCM), Quang Minh (Tiền Giang), Kim Chi (An Giang),…
[12]
Thứ hai là HTX sản xuất tập trung, xã viên góp vốn, đất đai, phương
tiện,… hình thành tài sản tập thể để thế chấp vay vốn ngân hàng, vay nội bộ, tổ
chức sản xuất tập trung như các DN khác, xã viên được hưởng tiền công, tiền
lương, lãi vốn góp, điển hình là HTX công nghiệp (nhựa) Song Long (Hà Nội),
HTX vận tải Rạch Gầm (Tiền Giang), Liên hiệp HTX xe buýt TP.HCM thu hút
hầu hết các HTX vận tải hành khách củ
a thành phố với trên 450 đầu xe, Liên
hiệp đứng ra vay trên 200 tỷ đồng để đổi mới đoàn xe, triển khai nhiều hoạt
động hỗ trợ thiết thực các HTX thành viên như đào tạo nhân viên lái xe, xử lý
bù giá, bảo hiểm, cung ứng xăng dầu,… Khối HTX vận tải hiện nay chiếm trên
50% sản lượng vận tải cả nước. Mô hình tập trung đã huy động được nguồn
vốn lớn, sau đó giao lại ph
ương tiện cho xã viên quản lý, sử dụng, giao tài sản
cho nhóm xã viên góp vốn hình thành tài sản đó để nhóm tổ chức sản xuất kinh
doanh, do vậy mà nguồn vốn được bảo toàn, hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng.
Tuy nhiên, phương thức tổ chức sản xuất tập trung đòi hỏi Ban quản trị phải
Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, nêu rõ: “Sau 5 năm thực hiện
Nghị quyết T.Ư 5 (khóa IX), số tổ hợp tác, HTX tăng lên đáng kể, các HTX cũ
cơ bản được chuyển đổi, HTX phát triển đa dạng hơn về ngành nghề, quy mô và
trình độ”
[14]
. Tuy nhiên, mô hình kinh tế tập thể này phải cố gắng nhiều hơn
nữa, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập sẽ có nhiều tác động lớn đến khu vực
kinh tế này. Trong quá trình hội nhập kinh tế, hàng hóa và dịch vụ xuất nhập
khẩu có khả năng cạnh tranh cao về giá cả và chất lượng, phương thức bán hàng
sẽ tác động đến tâm lý, tập quán tiêu dùng và công nghệ sản xuất và tiếp thị
.
Hiện tại nước ta có đến 70% số HTX phân bố ở khu vực nông thôn, trong khi đó
chỉ có 12% số DN có trụ sở ở đó và khu vực nông thôn chiếm đến hơn 70% dân
số cả nước. Sức mua của khu vực nông thôn sẽ tăng dần, thực sự đây là một khu
vực tiêu dùng tiềm năng. Các DN cần nhìn nhận số HTX ở đây là đầu mối liên
kết nhiều công đoạn của quá trình tái sả
n xuất: Cung cấp đầu vào cho sản xuất
và tiêu dùng, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, tiêu thụ sản phẩm đầu ra, mở
rộng tín dụng ứng trước cho sản xuất và tiêu dùng để tạo chỗ đứng lâu dài. Các
HTX cần chủ động nhìn nhận, phân tích, tiếp cận các đối tác thương mại và đầu
tư theo hướng vừa liên kết vừa cạnh tranh. Khi gia nhập WTO, để sản phẩm của
các HTX Việ
t Nam vững vàng trên thị trường trong nước và quốc tế, các chuyên