Công ước của Liên hiệp quốc về Bảo lãnh độc lập và Thư tín dụng dự phòngLiên Hợp quốc năm 1996Chương I. PHẠM VI ÁP DỤNG
Chương II. GIẢI THÍCH
Chương III. HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CAM KẾT
Chương IV. QUYỀN, NGHĨA VỤ VÀ LÝ DO BIỆN HỘ
Chương V. BIỆN PHÁP TẠM THỜI CỦA TOÀ ÁN
Chương VI. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
Chương VII. CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNGChương I
PHẠM VI ÁP DỤNG
Ðiều 1. Phạm vi áp dụng
(1) Công ước này áp dụng cho môt cam kết quốc tế được nói đến ở Ðiều 2:
(a) Nếu địa điểm kinh doanh của người bảo lãnh/phát hành nơi cam kết được đưa ra năm ở một quốc
gia ký công ước, hoặc
(a) Thanh toán bằng một đồng tiền hoặc đơn vị tính toán được quy định;
(b) Chấp nhận hối phiếu;
(c) Thanh toán chậm;
(d) Giao vật có giá trị theo quy định.
(4) Cam kết có thể quy định rằng người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng là người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi khi hành động vì lợi ích của một người khác.
Ðiều 3. Tính độc lập của cam kết
Theo Công ước, một cam kết là độc lập khi nghĩa vụ của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng đối
với người nhận bảo lãnh/hưởng lợi không:
(a) Phụ thuộc vào sự tồn tại hay hiệu lực của bất kỳ giao dịch gốc nào, hoặc vào bất kỳ cam kết nào
khác (bao gồm thư tín dụng dự phòng hoặc bảo lãnh độc lập liên quan đến việc xác nhận hoặc bỏ
lãnh đối ứng); hoặc
(b) Tuỳ thuộc vào bất kỳ điều khoản hay điều kiện nào không có trong cam kết, hay bất kỳ hành vi
hoặc sự kiện không chắc chắn trong tương lai, trừ việc xuất trình chứng từ hoặc một hành vi hay sự
kiện khác trong phạm vi hoạt động của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng.
Ðiều 4. Tính quốc tế của cam kết
(1) Một cam kết mang tính quốc tế nếu địa điểm kinh doanh, như quy định trong cam kết, của bất kỳ
ai trong số hai người sau đây nằm ở các quốc gia khác nhau: người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng,
người nhận bảo lãnh/hưởng lợi, người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng, bên yêu cầu, người xác
nhận.
yêu cầu hoặc thực hiện.;
(d) "Người bảo lãnh đối ứng" là người phát hành bảo lãnh đối ứng;
(e) "Xác nhận " một cam kết là một cam kết bổ sung cho cam kết của người bảo lãnh/phát hành thư
tín dụng, và được sự cho phép của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng, dành cho người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi quyền yêu cầu người xác nhận thanh toán thay cho người bảo lãnh/phát hành thư tín
dụng, theo một yêu cầu hoặc yêu cầu có kèm theo chứng từ khác, theo đúng các điều khoản và bất
kỳ điều kiện về chứng từ nào của cam kết đã được xác nhận, không làm ảnh hưởng đến quyền của
người nhận bảo lãnh/hưởng lợi được yêu cầu người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng thanh toán;
(f) "Người xác nhận" là người bổ sung thêm một xác nhận vào cam kết;
(g) "Chứng từ " là thông tin liên lạc được ghi lại dưới hình thức cho phép lưu giữ đầy đủ nội dung
thông tin đó.Chương III
HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CAM KẾT
Ðiều 7. Phát hành, hình thức và tính không thể huỷ bỏ của cam kết
(1) Việc phát hành một cam kết xảy ra ở thời điểm và địa điểm mà cam kết không còn nằm trong sự
kiểm soát của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng có liên quan.
(2) Một cam kết có thể được phát hành dưới bất kỳ hình thức nào có thể lưu giữ đầy đủ nội dung của
cam kết và cho phép xác thực về nguồn gốc bằng các biện pháp được chấp nhận chung hoặc bằng
một quy trình mà người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và người nhận bảo lãnh/hưởng lợi đã có
thoả thuận.
(2) Nếu một cam kết được coi là có thể chuyển giao mà không quy định cần hay không cần sự đồng ý
của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng hoặc một người khác được phép để thực sự chuyển giao,
người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và bất kỳ ai khác được phép đều không có nghĩa vụ thực hiện
việc chuyển giao ngoại trừ phạm vi và cách thức tiến hành mà họ đã đồng ý.
Ðiều 10. Chuyển nhượng tiền hàng
(1) Trừ khi có quy định khác trong cam kết hoặc được người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và
người nhận bảo lãnh/hưởng lợi thoả thuận trong văn bản khác, người nhận bảo lãnh/hưởng lợi có thể
chuyển nhượng cho bất kỳ ai số tiền hàng mà họ có thể, hoặc có thể trở thành, có quyền theo cam
kết.
(2) Nếu người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng hoặc một người khác có nghĩa vụ thực hiện thanh
toán mà nhận được thông báo của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi, theo hình thức quy định trong
khoản (2) của Ðiều 7, về việc chuyển giao không thể huỷ bỏ của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi, việc
thanh toán cho người được chuyển nhượng sẽ giải phóng cho thụ trái, trong phạm vi số tiền phải
thanh toán, khỏi nghĩa vụ của họ theo cam kết.
Ðiều 11. Hết quyền yêu cầu thanh toán
(1) Quyền yêu cầu thanh toán của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi theo cam kết chấm dứt khi:
(a) Người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng đã nhận được một thông báo của người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi về việc giải trừ trách nhiệm theo hình thức nêu trong khoản (2) của Ðiều 7;
(b) Người nhận bảo lãnh/hưởng lợi và người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng đã thoả thuận về việc
chấm dứt cam kết theo hình thức quy định trong cam kết hoặc, nếu không có thoả thuận, theo hình
thức nêu trong khoản (2) của Ðiều 7;
(c) Số tiền của cam kết đã được thanh toán, trừ khi cam kết quy định việc số tiền đó lại mặc nhiên
thời hiệu phụ thuộc vào đó chưa được xác lập bằng việc xuất trình chứng từ theo yêu cầu và ngày
hết thời hiệu chưa được quy định thêm, sau sáu năm kể từ ngày phát hành cam kết.Chương IV
QUYỀN, NGHĨA VỤ VÀ LÝ DO BIỆN HỘ
Ðiều 13. Xác định quyền và nghĩa vụ
(1) Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và người nhận bảo lãnh/hưởng lợi
phát sinh từ cam kết được xác định bởi các điều khoản và điều kiện quy định trong cam kết, bao gồm
các quy tắc, điều kiện chung hoặc tập quán được nêu cụ thể trong cam kết, và các quy định của
Công ước này.
(2) Ðể giải thích các điều khoản và điều kiện của cam kết và giải quyết các vấn đề không được đề
cập trong các điều khoản và điều kiện của cam kết hoặc các quy định của Công ước này, cần phải
lưu ý các quy tắc và tập quán quốc tế được chấp nhận chung trong bảo lãnh độc lập hoặc thư tín
dụng dự phòng.
Ðiều 14. Tiêu chuẩn về hành vi và trách nhiệm của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng
(1) Ðể giải trừ trách nhiệm theo cam kết và Công ước này, người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng
phải hành động với thực tâm và cẩn thận hợp lý có lưu tâm đến các chuẩn mực được chấp nhận
chung của thông lệ quốc tế về bảo lãnh độc lập hoặc thư tín dụng dự phòng.
(2) Người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng không thể được miễn trách nhiệm do không hành động với
thực tâm hoặc do hành vi cẩu thả.
Ðiều 15. Yêu cầu thanh toán
Thông báo được quy định trong mục (c) ở trên phải, trừ khi có quy định khác trong cam kết hoặc văn
bản khác theo thoả thuận giữa người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và người nhận bảo lãnh/hưởng
lợi, được truyền đi hoặc, nếu không thể làm như vậy, các phương tiện nhanh chóng khác và cho biết
lý do quyết định không thanh toán.
Ðiều 17. Thanh toán
(1) Tuỳ thuộc vào Ðiều 19, người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng phải thanh toán theo yêu cầu được
thực hiện theo các quy định của Ðiều 15. Sau khi xác định rằng yêu cầu thanh toán theo đúng quy
định, việc thanh toán phải được thực hiện ngay, trừ khi cam kết quy định thanh toán chậm, theo đó
việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm quy định.
(2) Thanh toán cho một yêu cầu mà không theo đúng các quy định của Ðiều 15 không làm ảnh hưởng
đến các quyền của người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng.
Ðiều 18. Bù trừ nghĩa vụ
Trừ khi có quy định khác trong cam kết hoặc văn bản khác theo thoả thuận giữa người bảo lãnh/phát
hành thư tín dụng và người nhận bảo lãnh/hưởng lợi, người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng có thể
giải trừ nghĩa vụ thanh toán theo cam kết bằng cách sử dụng quyền bù trừ nghĩa vụ, ngoại trừ có
khiếu kiện đối với họ từ phía người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng hoặc bên yêu cầu.
Ðiều 19. Ngoại lệ đối với nghĩa vụ thanh toán
(1) Nếu có chứng cứ và rõ ràng rằng:
(a) Có chừng từ giả hoặc đã bị làm giả;
(b) Không phải thanh toán trên cơ sở nêu trong yêu cầu và chứng từ kèm theo; hoặc
CÁC BIỆN PHÁP TẠM THỜI CỦA TOÀ ÁN
Ðiều 20. Các biện pháp tạm thời của toà án
(1) Khi, theo thỉnh cầu của người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng hoặc bên yêu cầu, có nhiều khả
năng là, liên quan đến yêu cầu thanh toán đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện bởi người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi, một trong các tình huống nêu trong mục (a), (b) và (c) của khoản (1) trong Ðiều 19 đã
xuất hiện, trên cơ sở chứng cứ sẵn có, toà án có thể :
(a) Ban một lệnh tạm thời không cho phép người nhận bảo lãnh/hưởng lợi được nhận thanh toán,
bao gồm cả lệnh cho phép người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng giữ số tiền của cam kết, hoặc
(b) Ban một lệnh tạm thời phong toả số tiền của cam kết đã được thanh toán cho người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi, có xét đến khả năng nếu không có lệnh đó người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng
có thể bị thiệt hại nghiêm trọng.
(2) Khi ban ra lệnh tạm thời nêu trong khoản (1) của Ðiều này, toà án có thể yêu cầu người thỉnh cầu
lệnh đó cho biết hình thức bảo đảm mà toà án cho là thích hợp.
(3) Toà án có thể không ban một lệnh tạm thời theo nội dung quy định trong khoản (1) của Ðiều này
dựa trên bất kỳ sự từ chối thanh toán nào khác với các quy định trong mục (a), (b) và (c) của khoản
(1) trong Ðiều 19, hoặc sử dụng cam kết cho mục đích phạm tội. Chương VI
XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
Ðiều 21. Chọn luật áp dụng
Cam kết được điều chỉnh bởi luật được chọn :
giữ.
Điều 25. Áp dụng cho các đơn vị lãnh thổ
(1) Nếu một quốc gia có hai hay nhiều đơn vị lãnh thổ có các hệ thống luật pháp khác nhau liên quan
đến các vấn đề được giải quyết trong Công ước này, quốc gia đó có thể, tại thời điểm ký kết, phê
chuẩn,chấp thuận, thông qua hoặc tán thành, tuyên bố rằng Công ước này được áp dụng cho tất cả
các đơn vị lãnh thổ hoặc chỉ trong một hoặc một số đơn vị lãnh thổ, và có thể vào bất kỳ thời điểm
nào đưa ra một tuyên bố khác thay thế cho tuyên bố trước đó.
(2) Các tuyên bố này nhằm mục đích quy định rõ ràng những đơn vị lãnh thổ sẽ được Công ước này
áp dụng.
(3) Nếu, bằng tuyên bố theo quy định của Ðiều này, Công ước không áp dụng chung cho tất cả các
đơn vị lãnh thổ của một quốc gia và địa điểm kinh doanh của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng
hoặc của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi nằm trong đơn vị lãnh thổ không được Công ước này áp
dụng, địa điểm kinh doanh này không được coi là nằm trong quốc gia ký kết Công ước này.
(4) Nếu một quốc gia không ra tuyên bố theo khoản (1) của Ðiều này, Công ước sẽ được áp dụng
cho tất cả các đơn vị lãnh thổ của quốc gia đó.
Ðiều 26. Hiệu lực của tuyên bố
(1) Tuyên bố đưa ra theo Ðiều 25 tại thời điểm ký kết sẽ phụ thuộc vào việc khẳng định khi phê
chuẩn, chấp nhận hoặc thông qua.
(2) Tuyên bố và khẳng định tuyên bố phải được thực hiện bằng văn bản và thông báo chính thức cho
người giữ Công ước.
(3) Một tuyên bố sẽ có hiệu lực ngay lập tức đồng thời với việc Công ước này có hiệu lực ở quốc gia
cho người giữ Công nước.
(2) Việc bãi ước có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng tiếp sau thời hạn một năm sau khi người giữ
Công ước nhận được thông báo. Khi có quy định một thời hạn dài hơn trong thông báo, việc bãi ước
có hiệu lực sau khi hết thời hạn đó tính từ ngày người giữ Công ước nhận được thông báo
Ðược làm tại New York, ngày 11 tháng 12 năm 1995, thành một bản gốc duy nhất, bằng các thứ tiếng
Ả rập, Trung quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban nha có giá trị như nhau.
Các đại diện toàn quyền có tên dưới đây, được sự uỷ quyền của Chính phủ, đã ký bản Công ước
này.CHÚ GIẢI CỦA BAN THƯ KÝ UNCITRAL VỀ CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ
BẢO LÃNH ĐỘC LẬP VÀ THƯ TÍN DỤNG DỰ PHÒNG
GIỚI THIỆU
1. Công ước của Liên Hợp quốc về Bảo lãnh độc lập và Thư tín dụng dự phòng được thông qua và
để mở cho ký kết bởi nghị quyết số 50/48 của Ðại Hội đồng vào ngày 11 tháng 12 năm 1995.
[1]
Công
ước này được soạn thảo bởi Uỷ ban của Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL).
[2]
* Giải thích này được ban thư ký của UNCITRAL soạn thảo nhằm mục đích cung cấp thông tin
tham khảo, không phải là bình luận chính thức về Công ước.[1]
Nations publication, Sales No. E.82.V.5), part I); Công ước về thời hạn trong mua bán hàng hoá quốc
tế 1974 (New York) (Official Records of the United Nations Conference on Prescription (Limitation) in
the International Sale of Goods, New York, 20 May-14 June 1974 (United Nations publication, Sales
No. E.74.V.8), part I); Công ước LHQ về vận tải hàng hoá bằng đường biển, 1978 (Hamburg) (Official
Records of the United Nations Conference on the Carriage of Goods by Sea, Hamburg, 6-31 March
1978 (United Nations publication, Sales No. E.80.VIII.1), document A/CONF.89/13, annex I); Công
ước LHQ về trách nhiệm của người điều hành cảng ga vận tải trong thương mại quốc tế
(A/CONF.152/13, annex); Quy tắc trọng tài của UNCITRAL (Official Records of the General
Assembly, Thirty-first Session, Supplement No. 17 (A/31/17), para. 57); Giải thích của UNCITRAL về
tiến hành thủ tục trọng tài ("Yearbook, volume XXVIII: 1996" (sẽ được phát hành như một ấn phẩm
thương mại của LHQ), document A/CN.9/423); Quy tắc hoà giải của UNCITRAL (Official Records of
the General Assembly, Thirty-fifth Session, Supplement No. 17(A/35/17), para. 106); Luật mẫu về
Trọng tài thương mại quốc tế (1985) (Official Records of the General Assembly, Fortieth Session,
Supplement No. 17 (A/40/17, annex I); Công ước LHQ về Hối phiếu và Kỳ phiếu quốc tế (General
Assembly resolution 43/165, annex, of 9 December 1988); Luật mẫu về chuyển tiền quốc tế (1992)
(Official Records of the General Assembly, Forty-seventh Session, Supplement No. 17(A/47/17);
annex I); Luật mẫu của UNCITRAL về Mua sắm hàng hoá, Xây dựng và Dịch vụ (1994) (Official
Records of the General Assembly, Forty-ninth Session, Supplement No. 17 and corrigendum (A/49/17
and Corr.1), annex I); và Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử (Official Records of the
General Assembly, Fifty-first Session, Supplement No. 17 (A/51/17), annex I). (United Nations
publication, Sales No. E.82.V.5), part I); Công ước về thời hạn trong mua bán hàng hoá quốc tế 1974
(New York) ( (United Nations publication, Sales No. E.74.V.8), part I); Công ước LHQ về vận tải hàng
hoá bằng đường biển, 1978 (Hamburg) ( (United Nations publication, Sales No. E.80.VIII.1),
document A/CONF.89/13, annex I); Công ước LHQ về trách nhiệm của người điều hành cảng ga vận
tải trong thương mại quốc tế (A/CONF.152/13, annex); Quy tắc trọng tài của UNCITRAL ( (A/31/17),
para. 57); Giải thích của UNCITRAL về tiến hành thủ tục trọng tài ("Yearbook, volume XXVIII: 1996"
(sẽ được phát hành như một ấn phẩm thương mại của LHQ), document A/CN.9/423); Quy tắc hoà
giải của UNCITRAL ((A/35/17), para. 106); Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế (1985)
( (A/40/17, annex I); Công ước LHQ về Hối phiếu và Kỳ phiếu quốc tế (General Assembly resolution
43/165, annex, of 9 December 1988); Luật mẫu về chuyển tiền quốc tế (1992) ((A/47/17); annex I);
sẽ hỗ trợ thêm cho việc "hội hoá" các tổ chức cho vay, bằng cách cho phép họ kết hợp cả hai loại
công cụ này một cách dễ dàng hơn. Người cho vay tham gia vào một hội có thể phân chia rủi ro cho
nhau, giúp mở rộng số dư tín dụng cho vay.
5. Công ước hỗ trợ về mặt pháp lý cho quyền tự chủ của các bên được áp dụng các quy tắc được
thoả thuận về thông lệ thương mại như Tập quán và thông lệ thống nhất về tín dụng chứng từ, được
Phòng TM quốc tế soạn thảo, hoặc các quy tắc khác có thể phát triển để giải quyết một cách cụ thể
thư tín dụng dự phòng, và Các quy tắc thống nhất về Bảo lãnh yêu cầu thanh toán (URDG, cũng do
ICC soạn thảo). Ngoài việc cần phải thống nhất về cơ bản với các giải pháp của quy tắc của thông lệ,
Công ước sẽ bổ sung cho hoạt động của họ bằng cách xử lý các vấn đề vượt quá phạm vi điều chỉnh
của các quy tắc đó. Nó làm như vậy với việc xem xét cụ thể vấn đề yêu cầu thanh toán có gian lận
hoặc lạm dụng và các biện pháp giải quyết pháp lý trong các tình huống đó. Ngoài ra, việc sử dụng
trong Công ước các thuật ngữ cụ thể về bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng, bao gồm các quy
tắc của thông lệ có trong đó, giúp cho Công ước thống nhất về các quy tắc của thông lệ như UCP hay
URDG.
6. Cần lưu ý rằng, nếu nói một cách chặt chẽ, một bảo lãnh độc lập hoặc thư tín dụng dự phòng là
một cam kết đối với người nhận bảo lãnh/hưởng lợi. Theo đó, Công ước tập trung vào mối quan hệ
giữa người bảo lãnh (trong trường hợp bảo lãnh độc lập) hoặc người phát hành (trong trường hợp
thư tín dụng dự phòng) (sau đây gọi là "người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng") và người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi. Mối quan hệ giữa người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và khách hàng (người được
bảo lãnh, trong trường hợp bảo lãnh độc lập, hoặc người xin mở thư tín dụng trong trường hợp thư
tín dụng dự phòng, sau đây được gọi là "người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng") nói chung nằm
ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước. Tình hình cũng tương tự đối với mối quan hệ giữa người
bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và bên yêu cầu( bên yêu cầu, ví dụ, là một ngân hàng, đề nghị, thay
mặt cho khách hàng, người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng phát hành một bảo lãnh độc lập).
7. Dưới đây là tóm tắt các đặc điểm và quy định chủ yếu của Công ước.
I. PHẠM VI ÁP DỤNG
Vienna International Centre
P.O. Box 500
A-1400 Vienna
Austria
Telephone: (43-1) 26060-4060 or 4061
Telefax: (43-1) 26060-5813
E-mail:
I. PHẠM VI ÁP DỤNG
A. LOẠI CÔNG CỤ ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH
8. Phạm vi áp dụng của Công ước chỉ giới hạn trong các công cụ được hiểu theo thông lệ là bảo lãnh
độc lập (được gọi là, ví dụ, các bảo lãnh "yêu cầu thanh toán", "yêu cầu thanh toán đầu tiên", "yêu
cầu thanh toán đơn giản" hay "ngân hàng") hoặc thư tín dụng dự phòng (Ðiều 2(1)). Các công cụ này
có thể được điều chỉnh trong phạm vi áp dụng của Công ước vì chúng có chung một lĩnh vực sử
dụng khá rộng. Cả hai loại công cụ, được thanh toán khi xuất trình các chứng từ theo yêu cầu, được
sử dụng để bảo đảm tránh các rủi ro có thể xảy ra (ví dụ, vi phạm hợp đồng). Có thể thấy rằng một
cách sử dụng khác nữa của thư tín dụng dự phòng là như một công cụ để thực hiện thanh toán các
khoản nợ đến hạn (thư tín dụng dự phòng "tài chính" hay "trả trực tiếp").
9. Trong các cam kết được Công ước điều chỉnh, người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng hứa sẽ
thanh toán cho người nhận bảo lãnh/hưởng lợi khi nhận được yêu cầu thanh toán. Yêu cầu thanh
toán có thể, tuỳ theo điều khoản và điều kiện của cam kết, hoặc là một yêu cầu "đơn giản" hoặc là
một yêu cầu có kèm theo các chứng từ theo yêu cầu của bảo lãnh hoặc thư tín dụng dự phòng.
Nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng bắt đầu bằng việc xuất trình yêu cầu
thanh toán theo hình thức, và với các chứng từ kèm theo, như yêu cầu trong bảo lãnh độc lập hoặc
thư tín dụng dự phòng. Người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng không buộc phải tìm hiểu giao dịch
gốc, mà chỉ xác định liệu yêu cầu thanh toán có chứng từ về mặt hình thức có tuân theo đúng các
điều khoản của bảo lãnh hay thư tín dụng dự phòng hay không. Vì đặc điểm này, các công cụ được
hành thư tín dụng.
C. CÔNG CỤ NẰM NGOÀI PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA CÔNG ƯỚC
15. Công ước không áp dụng cho các bảo lãnh "phụ" hay "có điều kiện" , tức là bảo lãnh mà theo đó
nghĩa vụ thanh toán của người bảo lãnh yêu cầu không chỉ có việc kiểm tra yêu cầu thanh toán có
chứng từ. Do đó, Công ước không làm vô hiệu hay ảnh hưởng đến các công cụ khác theo bất kỳ
cách nào, cũng không điều chỉnh hay hạn chế việc sử dụng chúng. Việc có nên sử dụng, trong bất kỳ
trường hợp nào, một cam kết độc lập bằng loại công cụ được Công ước điều chỉnh, hay một loại
công cụ khác, thường phụ thuộc vào môi trường thương mại khi sử dụng và các lợi ích cụ thể của
các bên liên quan.
16. Thư tín dụng không phải là thư tín dụng dự phòng không được Công ước điều chỉnh. Tuy nhiên,
Công ước công nhận quyền của các bên trong một thư tín dụng quốc tế không phải là thư tín dụng
dự phòng sử dụng Công ước (Ðiều 1(2)). Quy định đó đã được đưa vào vì Công ước quy định một
bộ quy tắc mà các bên trong một thư tín dụng thương mại muốn tự sử dụng, có xét đến cơ sở chung
giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng, và các khó khăn đôi khi xảy ra trong việc xác
định liệu thư tín dụng đó là dự phòng hay thương mại.
D. ÐỊNH NGHĨA VỀ "TÍNH ĐỘC LẬP"
17. Mặc dù có sự công nhận rộng rãi rằng các cam kết bằng loại công cụ được Công ước điều chỉnh
là "độc lập", vẫn có sự thiếu thống nhất trên phạm vi quốc tế trong cách hiểu và công nhận đặc điểm
căn bản đó. Công ước sẽ đẩy nhanh sự thống nhất đó bằng cách đưa ra một định nghĩa về "tính độc
lập" (Ðiều 3). Ðịnh nghĩa đó được ghi nhận trong các điều khoản của cam kết không phụ thuộc vào
sự tồn tại hay hiệu lực của giao dịch gốc, hoặc bất kỳ cam kết nào khác. Việc dẫn chiếu đến các cam
kết khác làm rõ bản chất độc lập của bảo lãnh đối ứng từ bảo lãnh mà nó liên quan, và tính độc lập
của một xác nhận từ thư tín dụng dự phòng hoặc bảo lãnh độc lập mà nó xác nhận.
18. Ngoài ra, để nằm trong phạm vi áp dụng của Công ước, một cam kết không được phép phụ thuộc
G. LIÊN KẾT CÁC YẾU TỐ CHO VIỆC ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC
21. Công ước áp dụng cho các cam kết quốc tế theo một trong hai cách sau đây. Cách thứ nhất liên
quan đến vi trí của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng ở nước tham gia Công ước ("Nước ký
kết") (Ðiều 1(1)(a)). Cách thứ hai theo đó Công ước sẽ áp dụng là khi các quy định của tư pháp quốc
tế dẫn đến việc áp dụng luật của một quốc gia ký Công ước (Ðiều 1(1)(b)).
22. Công ước quy định thêm một mức thống nhất về luật trong lĩnh vực này, theo đó Chương VI
(Xung đột pháp luật, Ðiều 21 và Điều 22) đưa ra các quy tắc mà toà án ở nước tham gia ký kết sẽ sử
dụng trong việc xác định luật áp dụng cho một bảo lãnh độc lập hoặc thư tín dụng dự phòng. Các quy
tắc đó sẽ áp dụng cho dù trong một trường hợp cụ thể nào đó Công ước có thể là hoặc không phải là
luật nội dung sẽ áp dụng cho giao dịch bảo lãnh độc lập hoặc thư tín dụng dự phòng được nói đến
(xem các đoạn 52 và 53,dưới đây).II. GIẢI THÍCH
23. Công ước có một quy tắc chung là việc giải thích Công ước là nhằm xem xét tính chất quốc tế và
như cầu thúc đẩy sự thống nhất áp dụng Công ước (Ðiều 5). Ngoài ra, việc giải thích là để xem xét
việc tuân thủ nguyên tắc thực tâm trong thực tiễn quốc tế. Các bản tóm tắt quyết định toà án hoặc
trọng tài áp dụng và giải thích các quy định của Công ước sẽ được đưa vào hệ thống lưu giữ hồ sơ
các vụ án gọi là luật tiền lệ của UNCITRAL (CLOUT). III. HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CAM KẾT
24. Công ước quy định các quy tắc cho một số khía cạnh về hình thức và nội dung của cam kết, như
được tóm tắt dưới đây.
bảo lãnh/xin mở thư tín dụng và người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng, một quy định rõ ràng là việc
sửa đổi không ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng,
hoặc đến vấn đề trên của bên yêu cầu hoặc người xác nhận, trừ khi người đó đồng ý với việc sửa đổi
(Ðiều 8(4)).
C. CHUYỂN NHƯỢNG VÀ CHUYỂN GIAO
30. Công ước phản ánh sự khác biệt về thực tiễn giữa, một mặt, việc chuyển nhượng quyền yêu cầu
thanh toán của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi ban đầu cho một người khác và, mặt khác, việc
chuyển giao số tiền của cam kết, nếu việc thanh toán được thực hiện. Trong trường hợp chuyển giao
tiền cam kết, quyền yêu cầu thanh toán vẫn là của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi đầu tiên, người
được chuyển giao chỉ được giao quyền nhận số tiền thanh toán nếu việc thanh toán được tiến hành.
31. Về chuyển nhượng, Công ước tán thành yêu cầu kép, quy định trong UCP, rằng tự cam kết phải
cho biết là nó có thể chuyển nhượng được, và ngoài ra, bất kỳ sự chuyển nhượng thực tế nào cũng
phải được sự đồng ý của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng (Ðiều 9). Lý do là sự thay đổi trong
con người sẽ xuất trình yêu cầu thanh toán và các chứng từ kèm theo có thể làm tăng rủi ro của
người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng (ví dụ, nếu người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng cảm thấy
rằng người sẽ được chuyển nhượng có ít khả năng tin tưởng hoặc quen thuộc hơn người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi ban đầu). Vì lý do đó, người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng được có cơ hội để đồng
ý với bất kỳ giao dịch chuyển nhượng nào.
32. Về chuyển giao tiền cam kết, người nhận bảo lãnh/hưởng lợi của cam kết có thể, trừ khi có quy
định khác trong cam kết hoặc đã thoả thuận lúc khác, chuyển giao tiền cam kết (Ðiều 10(1)). Nếu
người nhận bảo lãnh/hưởng lợi chuyển giao tiền cam kết và nếu người bảo lãnh/phát hành thư tín
dụng hoặc một người khác có nghĩa vụ thanh toán đã nhận được thông báo từ người nhận bảo
lãnh/hưởng lợi, việc thanh toán cho người được chuyển giao tiền sẽ giải trừ nghĩa vụ cho thụ trái,
trong phạm vi số tiền thanh toán, theo cam kết (Ðiều 10(2)).
D. HẾT QUYỀN YÊU CẦU THANH TOÁN
A. XÁC ĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
36. Quyền và nghĩa vụ của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và người nhận bảo lãnh/hưởng lợi
được xác định bởi các điều khoản và điều kiện của cam kết (Ðiều 13(1)). Công ước có dẫn chiếu rõ
ràng đến các quy tắc của thông lệ, các điều kiện chung hoặc tập quán (ví dụ, UCP, URDG) mà cam
kết theo thoả thuận phải chịu sự điều chỉnh của chúng. Ðiều này phù hợp với mục đích chính của
Công ước, là hỗ trợ về pháp lý cho quyền của các bên được đưa vào cam kết các quy tắc, điều kiện
hoặc tập quán đó. Cách tiếp cận đó đảm bảo rằng Công ước sẽ tiếp tục là một văn kiện sống, nhạy
cảm với các phát triển mới trong thực tiễn, bao gồm các sửa đổi trong tương lai đối với các quy tắc về
thông lệ như UCP and URDG và sự phát triển của các quy tắc quốc tế về thông lệ.
37. Mối liên kết linh hoạt của Công ước với yêu cầu và các tập quán và thông lệ thương mại đang
phát triển cũng được nêu trong Công ước. Ví dụ, để giải thích các điều khoản và điều kiện của một
cam kết và giải quyết các vấn đề không được Công ước điều chỉnh, cần phải chú ý đến các quy tắc
quốc tế được chấp nhận chung và các tập quán về bảo lãnh độc lập hoặc thư tín dụng dự phòng
(Ðiều 13(2)).
38. Tương tự, tiêu chuẩn hành vi của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng, dựa trên nguyên tắc
thực tâm và với sự cẩn thận hợp lý, phải được định nghĩa bằng cách dẫn chiếu tới các tiêu chuẩn
được chấp nhận chung về thông lệ quốc tế trong bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng (Ðiều
14(1)). Trong khi Công ước để mở khả năng quy định một chuẩn mực hơi thấp hơn tiêu chuẩn chung
về sự cẩn thận, nó ngăn cấm rõ ràng việc miễn trừ trách nhiệm cho người bảo lãnh do thiếu thực tâm
hoặc cẩu thả.V. YÊU CẦU THANH TOÁN
A. YÊU CẦU THANH TOÁN CỦA NGƯỜI NHẬN BẢO LÃNH/ HƯỞNG LỢI
thời điểm sau đó theo quy định trong cam kết.
44. Công ước công nhận rằng người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng có thể, trừ khi cam kết quy định
khác, giải trừ nghĩa vụ thanh toán bằng việc thực hiện quyền bù trừ nghĩa vụ theo quy định chung của
luật áp dụng (Ðiều 18). Tuy nhiên, Công ước không công nhận quyền bù trừ nghĩa vụ đó liên quan
đến khiếu kiện của người được bảo lãnh/xin mở thư tín dụng hoặc bên yêu cầu vì điều đó có khả
năng sẽ làm sai mục đích của cam kết.
C. CAM KẾT GIAN LẬN HOẶC LẠM DỤNG
45. Mục đích chủ yếu của Công ước là xây dựng một sự nhất trí cao hơn trên phạm vi quốc tế theo
cách thức mà người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và toà án sẽ giải quyết các vụ kiện về gian lận
hay lợi dụng trong yêu cầu thanh toán theo các bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng. Ðây là
một lĩnh vực đặc biệt rắc rối và khó thực hiện trong thực tiễn vì các khiếu kiện về gian lận thường có
xu hướng phát sinh trên cơ sở tranh chấp về việc thực hiện một nghĩa vụ hợp đồng gốc. Khó khăn đó
và hệ quả bất trắc sau đó đã trở nên phức tạp hơn vì sự khác nhau về khái niệm và cách thức xử lý
các khiếu kiện đó của người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và toà án nhằm sử dụng các biện pháp
tạm thời để ngăn chặn việc thanh toán.
46. Công ước giúp giải quyết tốt hơn vấn đề bằng cách đưa ra một định nghĩa chung được quốc tế
chấp nhận về các tình huống trong đó cho phép có ngoại lệ đối với một nghĩa vụ thanh toán cho một
yêu cầu tuân thủ đúng về hình thức (Ðiều 19(1)). Khái niệm có đưa vào các khuôn mẫu thực tế được
điều chỉnh bởi các hệ thống pháp lý khác nhau bằng các khái niệm như "gian lận" hay "lạm quyền".
Khái niệm còn dẫn chiếu đến các tình huống trong đó rõ ràng là các chứng từ giả hoặc bị làm giả, hay
không phải thanh toán trên cơ sở quy định trong yêu cầu hoặc yêu cầu thanh toán không có cơ sở để
chấp nhận.
47. Ðể chính xác hơn, Công ước đưa ra các ví dụ minh hoạ cho các trường hợp trong đó yêu cầu
thanh toán được coi là không có cơ sở để chấp nhận (Ðiều 19(2); ví dụ, các nghĩa vụ gốc rõ ràng đã
được hoàn thành với sự thoả mãn của người nhận bảo lãnh/hưởng lợi; việc hoàn thành nghĩa vụ gốc
51. Mặc dù cho phép sử dụng các biện pháp tạm thời của toà án trong các trường hợp có liên quan,
Công ước giảm thiểu hoá việc sử dụng các thủ tục tố tụng để can thiệp vào các cam kết bằng cách
hạn chế quyền áp dụng các biện pháp tạm thời của toà án trong các tình huống trên, với một tình
huống bổ sung. Các lệnh tạm thời của toà nhằm ngăn chặn việc thanh toán hoặc phong toả số tiền
cam kết cũng được phép sử dụng trong trường hợp sử dụng cam kết vì mục đích phạm tội (Ðiều
20(3)).VI. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT
52. Như đã nói ở trên (đoạn 22), Công ước có đưa ra các quy tắc về xung đột pháp luật trong
Chương VI, sẽ được toà án của các quốc gia ký kết sử dụng nhằm xác định luật áp dụng cho các
cam kết quốc tế như định nghĩa trong Ðiều 2, kể cả trong trường hợp chính Công ước là luật áp
dụng. Các quy tắc về xung đột pháp luật công nhận một sự lựa chọn luật được quy định trong cam
kết hoặc được thể hiện bằng các điều khoản hoặc điều kiện của cam kết, hoặc được thoả thuận bằng
cách khác giữa người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng và người nhận bảo lãnh/hưởng lợi (Ðiều 21).
53. Nếu không lựa chọn luật theo quy định trên, Công ước quy định việc áp dụng luật ở quốc gia mà
người bảo lãnh/phát hành thư tín dụng có địa điểm kinh doanh là nơi phát hành cam kết (Ðiều 22).VII. CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
54. Các điều khoản cuối cùng (Ðiều 23- Điều 29) bao hàm các quy định thông thường liên quan đến
Tổng Thư ký Liên Hợp quốc với tư cách là người giữ Công ước và quy định rằng Công ước tuỳ thuộc
vào sự phê chuẩn, chấp nhận hoặc chấp thuận của các quốc gia đã ký Công ước vào ngày
11/12/1997, và để mở cho sự tán thành của tất cả các quốc gia không tham gia ký kết, và các bản
công ước bằng các thứ tiếng Ả rập, Trung quốc, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban nha có giá trị ngang
nhau.