CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ - Pdf 33

BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
KHOA LUẬT KINH DOANH
BÀI THUYẾT TRÌNH
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
GIẢNG VIÊN: ThS. Ngô Thụy Hải Xuân
ĐỀ TÀI:
CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HIỆP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ
(Công ước viên 1980)
United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods
THÀNH VIÊN NHÓM 1B
1. Từ Thụy Xuân Diệu MSSV: 1098620011
2. Bùi Quang Minh MSSV: 1088620118
3. Vũ Ngọc Nhân MSSV: 1098620042
4. Trương Thị Bảo Ngọc MSSV: 1098620039
5. Nguyễn Hải Phụng MSSV: 1098620045
6. Nguyễn Xuân Thuỷ MSSV: 1088620192
7. Đặng Thị Ngọc Trâm MSSV: 1098620414
LỚP: LUẬT KINH DOANH – VĂN BẰNG 2 – KHÓA 12
NGÀY HỌC: TỐI THỨ 2/4/6
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 1/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
MỤC LỤC
1/ Giới thiệu lịch sử hình thành……………………………………………………….
2/ Quá trình tham gia của các nước vào Công ước Viên …………………………….
3/ Ý nghĩa của CISG đối với luật pháp quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa…….
4/ Nội dung chính của Công ước……………………………………………………...
5/ Lợi ích của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980………………………….
5.1/ Lợi ích về kinh tế ……………………………………………………………
5.2/ Lợi ích về pháp lý …………………………………………………………...
5.3/ Các lợi ích khác ……………………………………………………………..
6/ Bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên………………………………..

nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi Unidroit (Viện nghiên cứu quốc tế về
thống nhất luật tư). Unidroit đã cho ra đời hai Công ước La Haye năm 1964: một Công ước có
tên là “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình”, Công
ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình”. Công ước thứ
nhất điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng). Công ước thứ hai
đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi
một/các bên vi phạm hợp đồng.
Tuy vậy, hai Công ước La Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng. Theo các
chuyên gia có 4 lý do chính khiến các nước bài trừ ULIS và ULF và muốn phát triển một công
ước mới: (1) Hội nghị La Haye chỉ có 28 nước tham dự với rất ít đại diện từ các nước XHCN và
các nước đang phát triển, vì thế người ta tin rằng các Công ước này được soạn có lợi hơn cho
người bán từ các nước tư bản; (2) các Công ước này sử dụng các khái niệm quá trừu tượng và
phức tạp, rất dễ gây hiểu nhầm; (3) các Công ước này thiên hướng về thương mại giữa các quốc
gia cùng chung biên giới hơn là thương mại quốc tế liên quan đến vận tải biển; và (4) quy mô áp
dụng của chúng quá rộng, vì chúng được áp dụng bất kể có xung đột pháp luật hay không.
Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc về một khuôn
khổ mới với “sự mở rộng ra các nước có nền pháp lý, kinh tế chính trị khác nhau”, UNCITRAL
đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật nội dung áp dụng cho hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964. Được
soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước La Haye, song Công ước Viên 1980 có
những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản. Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11
tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với
sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế. CISG có hiệu lực từ ngày
01/01/1988 (khi có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Điều 99 của Công ước).
2/ Quá trình tham gia của các nước vào Công ước Viên
Kể từ khi được ký kết vào năm 1980 đến nay, Công ước Viên đã trải qua 30 năm với
nhiều dấu mốc trong việc mở rộng các nước thành viên. Có thể tạm chia các làn sóng gia nhập
CISG của các nước theo 4 giai đoạn sau:

Giai đoạn 4 (2001-2010): Đây là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự
phát triển mạnh mẽ và sự tăng cường vai trò của các nước đang phát triển mới nổi, trong đó nổi
bật là Trung Quốc, Braxin, và Ấn Độ. CISG đã chứng kiến một thời kỳ trầm lắng từ năm 2001-
2004 khi mà các vòng đàm phán trong khuôn khổ WTO đang diễn ra hết sức căng thẳng với sự
xung đột về lợi ích giữa các nước đang phát triển với nhiều đại diện mới nổi và các nước đã
phát triển. Trong giai đoạn này chỉ có 5 thành viên mới phê chuẩn Công ước là Saint Vincent và
Grenadines, Colombia, Iceland, Honduras và Israel. Năm 2005 chứng kiến sự gia nhập quan
trọng của thành viên châu Á mới là Hàn Quốc, một trong 4 nước công nghiệp mới tại châu Á.
Sau nhiều năm tranh cãi về sự khác biệt giữa luật quốc gia và CISG, trong bối cảnh tại nước
láng giềng Nhật Bản, phong trào vận động Nhật Bản tham gia Công ước ngày càng mạnh mẽ,
các nhà làm luật tại Hàn Quốc cuối cùng đã được thuyết phục là việc áp dụng CISG sẽ giảm bớt
tính không dự đoán trước của các giao dịch thương mại quốc tế của mình khi phải áp dụng luật
của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và Đức. Việc gia nhập của Hàn Quốc đã khởi động lại
làn sóng nghiên cứu việc tham gia CISG tại các nước đang phát triển khác như Cyprus, Gabon,
Liberia, Montenegro, El Salvador, Paraguay, Lebanon, Albania, Armenia.
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 4/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
Cuối cùng, năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của CISG tại châu Á khi Nhật
Bản, quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới và lớn nhất tại châu Á, cuối cùng đã trở thành
thành viên chính thức của CISG mà không có bảo lưu nào. Với sự kiện này, Anh sẽ là quốc gia
phát triển thuộc khối G7+1 cuối cùng chưa gia nhập Công ước Viên. Sau Nhật Bản, chắc chắn
nhiều quốc gia khác ở châu Á và khu vực ASEAN sẽ cân nhắc việc sớm tham gia Công ước, để
có thể áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình một cách chủ động, khi mà
các bạn hàng lớn đều đã là thành viên của Công ước này.
3/ Ý nghĩa của CISG đối với xu hướng thống nhất luật pháp quốc tế về hợp đồng mua
bán hàng hóa
Thống nhất và hài hòa hóa luật pháp quốc tế về hợp đồng thương mại là một xu hướng
phát triển tất yếu của thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế hiện nay đã trở thành một phần
quan trọng của nền kinh tế.


Phần 2: Xác lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) (Điều 14- 24)
Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn đề
pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Điều 14 của Công
ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các “lời
mời chào hàng”. Các vấn đề hiệu lực của chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng được quy định
tại các điều 15, 16 và 17. Đặc biệt, tại các Điều 18, 19, 20 và 21 của Công ước có các quy định
rất chi tiết, cụ thể về nội dung của chấp nhận chào hàng; khi nào và trong điều kiện nào, một
chấp nhận chào hàng là có hiệu lực và cùng với chào hàng cấu thành hợp đồng; thời hạn để chấp
nhận, chấp nhận muộn; kéo dài thời hạn chấp nhận. Ngoài ra, Công ước còn có quy định về thu
hồi chấp nhận chào hàng, thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, CISG thừa nhận quy tắc Chào hàn – Chấp nhận
chào hàng (offer-acceptance rule). Công ước quy định một thư chào giá phải được gửi đến một
hay một số người cụ thể, xác định và miêu tả đầy đủ về hàng hóa, số lượng, giá cả. Thư chào
hàng có thể được thu hồi nếu thư thu hồi đến khách hàng trước hoặc cùng lúc với thư chào hàng,
hoặc trước khi khách hàng gửi lại thư chấp thuận. Bất kỳ sự thay đổi nào với thư chào hàng ban
đầu đều được xem như sự từ chối thư chào hàng trừ phi các điều khoản sửa chữa không làm
thay đổi những điều khoản thiết yếu của thư chào hàng.
Phần 3: Mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88)
Với tên gọi là “mua bán hàng hóa”, nội dung của phần 3 này là các vấn đề pháp lý trong
quá trình thực hiện HĐ. Phần này được chia thành 5 chương với những nội dung cơ bản như
sau:
Chương I: Những quy định chung
Chương II: Nghĩa vụ của người bán
Chương III: Nghĩa vụ của người mua
Chương IV: Chuyển rủi ro
Chương V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua
Đây là chương có số lượng điều khoản lớn nhất, cũng là chương chứa đựng những quy
phạm hiện đại, tạo nên ưu việt của CISG. Nghĩa vụ của người bán và người mua được quy định
chi tiết, trong hai chương riêng, giúp cho việc đọc và tra cứu của các thương nhân trở nên dễ
dàng. Về nghĩa vụ của người bán, Công ước quy định rất rõ nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao

quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: đó là tính toán tiền bồi thường thiệt
hại. Các điều khoản khác trong chương này đề cập đến vấn đề miễn trách, hậu quả của việc hủy
hợp đồng và bảo quản hàng hóa trong trường hợp có tranh chấp.
Phần 4: Các quy định cuối cùng (Điều 89 - 101)
Phần này quy định về các thủ tục để các quốc gia ký kết, phê chuẩn, gia nhập Công ước,
các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm Công ước có hiệu lực và một số vấn đề khác mang tính
chất thủ tục khi tham gia hay từ bỏ Công ước này.
5/ Lợi ích của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980
5.1/ Lợi ích về kinh tế
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 7/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế
thế giới, đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế, trong đó thương mại hàng hóa vẫn là hoạt
động sôi động nhất là động lực và từ lâu đã đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế
trong nước, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Do đó, việc
xác định một nguồn luật thống nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ mang lại
lợi ích kinh tế không nhỏ cho Việt Nam vì hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới đều
đã gia nhập Công ước Viên, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt
Nam như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc…Các
công ty, doanh nghiệp của các nước này đã áp dụng và đã quen áp dụng Công ước Viên cho các
hợp đồng mua bán hàng hoá ký với các đối tác nước ngoài.
CISG mang lại cho Việt Nam ba lợi ích kinh tế lớn sau:
• Thứ nhất, đơn giản hóa, giảm chi phí luật trong quá trình thương mại quốc tế
Như chúng ta đã biết, càng ít nhân tố gây trở ngại nền kinh tế càng tự do thì thị trường
càng hoạt động hiệu quả và có tính cạnh tranh cao. Trong đó nhân tố gây trở ngại lớn nhất cho
giao dịch thương mại quốc tế, đăc biệt cho những nước đang phát triển như Việt Nam, chính là
môi trường luật nước ngoài. Hơn nữa trong đàm phán ký kết hợp đồng giữa Việt Nam và các
nước phát triển thì luật được chọn để điều chỉnh thường là luật của các nước phát triển vì các
doanh nghiệp Việt Nam có ít thế và lực trong đàm phán lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng.
Điều này làm doanh nghiệp trong nước khó đánh giá được kết quả kinh doanh vì môi trường

với các nước khác và khi giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Khi gia nhập Công ước Viên,
Việt Nam sẽ thống nhất nguồn luật áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế với các nước đối
tác khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi đó, các thương nhân Việt Nam và
thương nhân nước ngoài sẽ cùng chung tiếng nói, cùng chung một cơ sở pháp lý và các mối
quan hệ mua bán hàng hóa sẽ gắn chặt hơn, lâu bền hơn và rộng mở hơn nữa, tránh được các
tranh chấp phát sinh.
5.2./ Lợi ích về pháp lý
Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế, việc tham gia Công ước Viên có thể đem lại những
lợi ích rõ ràng cho Việt Nam về mặt pháp lý.
• Thứ nhất, với nền kinh tế mới phát triển và mở cửa quốc tế chưa lâu, hệ thống quy phạm pháp
luật của Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế còn rất nhiều thiếu sót và cần nhiều nguồn luật
quốc tế bổ sung. Quan trọng hơn, như trên đã phân tích, các quy định này hầu hết được soạn
thảo để điều chỉnh quan hệ dân sự trong nước, chứ không có những quy định cụ thể, riêng biệt
cho giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế. Việc tham gia và áp dụng CISG sẽ giúp hoàn thiện hệ
thống quy định pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế theo hướng ổn định, rõ ràng,
công bằng hơn và phù hợp với xu thế chung của luật pháp quốc tế.
• Thứ hai, là một hệ thống Dân luật (Civil Law), cách tiếp cận của hệ thống luật Việt Nam khá
trùng khớp với Công ước Viên, vì thế khi tham gia CISG Việt Nam sẽ không gặp phần lớn
những khó khăn về tìm hiểu và áp dụng án lệ như trường hợp của các nước theo hệ thống Thông
luật (Common Law), cũng như sẽ gặp ít khó khăn hơn về việc giải thích ngôn ngữ trong Công
ước.
• Thứ ba, việc CISG trở thành một phần luật nội địa sẽ tạo điều kiên cho việc xử án, xử trọng tài
tại Việt Nam trở nên thống nhất và dễ dàng hơn, bởi chỉ có một nguồn luật được giải thích và áp
dụng. Các doanh nhân, trọng tài viên, thẩm phán đều không cần xem xét, nghiên cứu và cân
nhắc bất kỳ nguồn luật nước ngoài nào khác ngoài CISG. Việc giải thích và áp dụng CISG dễ
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 9/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
dàng hơn rất nhiều việc viện dẫn đến một hệ thống luật địa phương, bởi vì việc diễn giải Công
ước được hỗ trợ bởi Các nguyên tắc UNIDROIT, PECL (theo cơ chế “bổ sung luật”), các Bình
luận Chính thức của Ban Tư vấn CISG, các án lệ của CISG đăng tải trên hệ thống dữ liệu

văn bản luật quốc tế, trong đó có Công ước Viên, và vì vậy, nhìn chung là tương thích với các
nguyên tắc của Công ước này. Với lý do đó, khi gia nhập Công ước Viên, Việt Nam không phải
sửa đổi pháp luật hiện hành và không phát sinh chi phí cho việc sửa đổi luật.
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 10/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
Tuy nhiên, trong giao dịch buôn bán quốc tế, mỗi ngành mỗi lĩnh vực đều có những điều
khoản hợp đồng chuẩn đặc thù ví dụ mua bán dầu, gạo, hoa quả tươi… và các doanh nghiệp
không muốn từ bỏ những điều khoản đã được sử dụng rộng rãi và quen thuộc này. Do đó cho dù
Việt Nam có gia nhập CISG thì Công ước này cũng không thể điều chỉnh tất cả các hợp đồng
mua bán quốc tế trong đó có Việt Nam tham gia. Hơn nữa việc áp dụng CISG cũng còn hạn chế
trong quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp của các nước
chưa tham gia công ước.
6.2/ Bất lợi về pháp lý
Khi tham gia Công ước Viên, Việt Nam có thể gặp một số trở ngại về pháp lý sau:
• Thứ nhất, nội dung Công ước Viên còn khá mới mẻ đối với hệ thống xây dựng pháp luật, tư
pháp và trọng tài ở Việt Nam, vì vậy các bên Việt Nam (doanh nghiệp, tòa án, trọng tài) cần có
nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, hiểu rõ khi áp dụng CISG trong các quan hệ giao dịch
thương mại quốc tế. Hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về nội dung CISG
cũng như thực tiễn áp dụng CISG trên thế giới để áp dụng tại Việt Nam. Điều này khiến việc
diễn giải, áp dụng CISG trong thực tế của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.
• Thứ hai, trong hệ thống giáo dục pháp luật của Việt Nam nói chung (ngoại trừ một số rất ít
trường đại học chuyên ngành luật, hợp tác với nước ngoài) cũng chưa có nội dung nào giới
thiệu, đào tạo chuyên sâu về CISG. Các doanh nghiệp, nhà thực hành luật Việt Nam cũng chưa
có diễn đàn nào riêng để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về CISG như tại nhiều nước khác trên
thế giới. Điều này cũng sẽ làm giảm sức mạnh, tiếng nói của các doanh nghiệp Việt Nam, và
khả năng xét xử tòa án, trọng tài tại Việt Nam khi có tranh chấp liên quan đến CISG.
• Thứ ba, một số chỉ trích của các nước đối với Công ước Viên ít nhiều đều đúng trong trường
hợp Việt Nam. Là kết quả của sự thỏa hiệp giữa quá nhiều bên, các điều khoản của CISG
thường không cụ thể, vì vậy được áp dụng không thống nhất tại các nước khác nhau, thậm chí
các tòa án khác nhau (tuy nhiên điều này có thể được giải quyết nếu nhận thức về CISG được

và làm thế nào để khi gia nhập có thể tận dụng được tốt nhất những lợi ích của Công ước.
7.2/ Khi nào nên tham gia và cách tận dụng những lợi ích của Công ước
Để việc tham gia Công ước Viên của Việt Nam được thuận lợi và ít gặp trở ngại nhất,
chúng tôi cho rằng Việt Nam cần có một thời gian chuẩn bị phù hợp ít nhất là 2-3 năm (với hoàn
cảnh của Việt Nam, thời gian có thể nhiều hơn thông lệ của các nước có sẵn nền thương mại
quốc tế phát triển như Singapore là 1 năm) trước khi chính thức gia nhập CISG về những vấn đề
sau:
• Thứ nhất, cần thu hút và khuyến khích thêm nhiều học giả, nhà chuyên môn về luật kinh tế,
thương mại ở Việt Nam nghiên cứu cả chiều rộng và chiều sâu nội dung, về nội dung CISG và
ảnh hưởng của CISG đối với hoạt động ngoại thương và pháp luật của Việt Nam. Những nghiên
cứu này sẽ giúp ích mổ xẻ, phân tích sâu hơn những vấn để nổi cộm của CISG trong mối liên hệ
với Việt Nam, làm tiền đề và dữ liệu thô và tinh cho việc đề xuất kiến nghị chính sách.
• Thứ hai, cần thành lập ngay một nhóm nghiên cứu chuyên môn về vấn đề Việt Nam gia nhập
CISG bao gồm các chuyên gia hàng đầu về CISG, về luật thương mại quốc tế Việt Nam nhằm
mục đích phân tích, mổ xẻ môi trường pháp lý hiện tại của Việt Nam, những điểm lợi, bất lợi
của Việt Nam khi tham gia CISG, để đề xuất lên Chính phủ việc tham gia Công ước, lộ trình
tham gia, các bước chuẩn bị và cả những đề nghị bảo lưu, nếu có, đối với các điều khoản bất
thuận trong CISG đối với Việt Nam (vì Công ước không quy định cơ chế điều chỉnh, chỉnh sửa
nội dung Công ước nên khá nhiều nước đã chấp thuận phê chuẩn Công ước với những yêu cầu
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 12/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
bảo lưu đối với một số điều khoản, Việt Nam có thể cân nhắc thực hiện tương tự đối với những
điều khoản quá bất lợi cho mình).
• Thứ ba, cần nhanh chóng phổ biến nội dung Công ước sâu rộng trong giới doanh nghiệp (đặc
biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu), trong hệ thống tư pháp và trong giáo dục pháp luật ở các
trường đại học và các khóa đào tạo chuyên ngành khác về luật thương mại quốc tế. Công tác
này cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình rõ ràng thông qua hoạt động của Bộ Giáo dục –
Đào tạo, Bộ Tư pháp, VCCI và thông qua các tổ chức doanh nghiệp, các diễn đàn về CISG.
Việc trang bị, cung cấp những kiến thức về CISG sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm
thiểu các rủi ro khi ký kết hợp đồng thương mại quốc tế có áp dụng CISG, giúp bảo vệ lợi ích

quy định tại điều 18 khoản 1- CISG.
Ngoài ra, người mua có một số thay đổi về kích cỡ của một số phụ tùng kèm theo nhưng
những thay đổi này không được coi là những sửa đổi, bổ sung cơ bản chào hàng ban đầu và vì
thế không ảnh hưởng đến hiệu lực của chấp nhận chào hàng theo quy định tại điều 19 khoản 2
và khoản 3- CISG. Chỉ các yếu tố bổ sung hay thay đổi liên quan đến các điều khoản giá cả,
thanh toán, phẩm chất, số lượng, địa điểm và thời gian giao hàng, phạm vi trách nhiệm các bên,
việc giải quyết các tranh chấp mới được coi là thay đổi cơ bản nội dung của chào hàng.
Với những lập luận đó, tòa án cho rằng người mua đã chấp nhận chào hàng của người
bán Italia. Toà án kết luận hợp đồng đã được thành lập và không thể bị bác bỏ.
Bài học kinh nghiệm
Thứ nhất, theo quy định của điều 18-CISG, im lặng và không có hành động gì (inaction)
thì không được coi là chấp nhận chào hàng. Tuy vậy, việc thực hiện một số hành vi lại được coi
là chấp nhận chào hàng, ví dụ như hành vi liên quan đến việc gửi hàng, mở thư tín dụng hay trả
tiền chẳng hạn, dù người chấp nhận không thông báo cho người chào hàng. Tuy vậy, pháp luật
về hợp đồng của VN lại không có quy định gì về vấn đề này. Vì thế, khi chấp nhận chào hàng,
nên chấp nhận bằng văn bản, trong đó nêu rõ những nội dung chấp nhận và những đề xuất chỉnh
sửa nếu có, tránh trường hợp chấp nhận bằng hành vi.
Thứ hai, khi nhận được chào hàng, nếu có những ý kiến trái với chào hàng thì cần xem
xét và đưa ra các đề nghị sửa đổi kịp thời, đầy đủ. Sau khi gửi chấp nhận chào hàng (trong đó có
một số sửa đổi, bổ sung) thì nên yêu cầu bên chào hàng khẳng định lại một lần nữa có đồng ý
với những sửa đổi, bổ sung đó hay không. Như vậy sẽ tránh được những tranh chấp khi hai bên
đàm phán giao kết hợp đồng một cách gián tiếp thông qua việc gửi các đơn chào hàng và chấp
nhận chào hàng.
Tình huống 2:
Tranh chấp “hợp đồng mua bán than”
Công ty A của Việt Nam ký hợp đồng bán cho Công ty B của Ai-cập X tấn than, thời hạn
giao hàng tại cảng Cái Lân là ngày 1 tháng 7 năm 2009
Ngày 1 tháng 6 năm 2009 Công ty A thông báo cho Công ty B rằng khả năng thu gom đủ số
lượng than trước ngày 1 tháng 7 là khó có thể thực hiện được, đề xuất lùi thời hạn giao hàng
vào trước ngày 1 tháng 8 năm 2009.


PHẦN I: PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG I
PHẠM VI ÁP DỤNG
Ðiều 1.
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 15/46
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 1B
1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương
mại tại các quốc gia khác nhau.
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công
ước này.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện
này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký
hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.
3. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương
mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này.

Ðiều 2:
Công ước này không áp dụng vào việc mua bán:
a. Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ
lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng, không biết hoặc không
cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế.
b. Bán đấu giá.
c. Ðể thi hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo luật.
d. Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ.
e. Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí.
f. Ðiện năng.
Ðiều 3:
1. Ðược coi là hợp đồng mua bán các hợp đồng cung cấp hàng hóa sẽ chế tạo hay sản xuất, nếu

Ðiều 8:
1. Nhằm phục vụ Công ước này, tuyên bố và cách xử sự khác của một bên được giải thích theo
đúng ý định của họ nếu bên kia đã biết hoặc không thể không biết ý định ấy.
2. Nếu điểm trên không được áp dụng thì tuyên bố cách xử sự khác của một bên được giải
thích theo nghĩa mà một người có lý trí, nếu người đó được đặt vào vị trí của phía bên kia
trong những hoàn cảnh tương tự cũng sẽ hiểu như thế.
3. Khi xác định ý muốn của một bên hoặc cách hiểu của một người có lý trí sẽ hiểu thế nào,
cần phải tính đến mọi tình tiết liên quan, kể cả các cuộc đàm phán, mọi thực tế mà các bên
đã có trong mối quan hệ tương hỗ của họ, các tập quán và mọi hành vi sau đó của hai bên.
Ðiều 9:
1. Các bên bị ràng buộc bởi tập quán mà họ đã thỏa thuận và bởi các thực tiễn đã được họ thiết
lập trong mối quan hệ tương hỗ.
2. Trừ phi có thỏa thuận khác thì có thể cho rằng các bên ký hợp đồng có ngụ ý áp dụng những
tập quán mà họ đã biết hoặc cần phải biết và đó là những tập quán có tính chất phổ biến
trong thương mại quốc tế và được các bên áp dụng một cách thường xuyên đối với hợp đồng
PHÁP LUẬT TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Trang 17/46


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status