bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa công ước của liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với pháp luật việt nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2010 – 2014

Đề Tài

BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA
KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG –
SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU GIỮA CÔNG ƢỚC
CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VỚI
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. DIỆP NGỌC DŨNG
Bộ môn Luật Thƣơng mại

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THANH THOẠI
MSSV: 5106099
Lớp: Luật Thƣơng mại 2 Khóa 36

Cần Thơ, 12/2013


TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………..

5. Bố cục đề tài ................................................................................................................. 3
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA
KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ............... 5
1.1 HÀNG HÓA VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA ...................................... 5
1.1.1 Hàng hóa – Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ......................... 5
1.1.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa ............................................................................... 6
1.1.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................................................... 8
1.1.3.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ..................................... 8
1.1.3.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .................................. 12
1.1.3.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ............... 14
1.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ ................................................................................................ 19
1.2.1 Nghĩa vụ của bên bán ......................................................................................... 19
1.2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng .......................................... 19
1.2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm và đúng thời hạn ................................. 25
1.2.1.3 Nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa ... 26
1.2.1.4 Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa ........................................ 27
1.2.2 Nghĩa vụ của bên mua ........................................................................................ 28
1.2.2.1 Nghĩa vụ thanh toán .................................................................................... 28
1.2.2.2 Nghĩa vụ nhận hàng..................................................................................... 29
1.3 VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ...................................................................................... 30
1.3.1 Khái quát về vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ............................... 30
1.3.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 32
1.3.3 Các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .... 34
1.4 BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ ............................................................... 36
1.4.1 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế .............. 36
1.4.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế ................................................................................................... 38

2.6.1 Nhận xét .............................................................................................................. 79
2.6.1.1 Những điểm tương đồng .............................................................................. 79
2.6.1.2 Những điểm khác biệt .................................................................................. 80
2.6.1.3 Vấn đề còn tồn tại ........................................................................................ 82
2.6.2 Kiến nghị ............................................................................................................ 82
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường và mở rộng quan hệ hợp tác như hiện nay, rất
nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết giữa các đối tác với nhau.
Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng này đều muốn đạt được hiệu quả lợi
nhuận cao nhất, hạn chế ở mức thấp nhất rủi ro mà mình sẽ gặp phải. Cho nên khi
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đa số các bên đều thực hiện nghiêm
chỉnh nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà một trong các bên không
thực hiện nghĩa vụ mà họ đã cam kết, và đó là cơ sở dẫn đến tranh chấp giữa các
bên trong hợp đồng. Trong các tranh chấp đó, có thể thấy tranh chấp liên quan đến
việc xác định bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng được xem là một trong các tranh chấp phổ biến. Khi bên bán giao hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng thì phần lớn phần thiệt thòi thường sẽ thuộc về
phía bên mua. Bởi lẽ, điều mà họ mong đợi trong hợp đồng đã không được thực
hiện. Khi đó, chế tài bồi thường thiệt hại là biện pháp khắc phục thường được các
bên sử dụng nhằm khôi phục lại những lợi ích từ hợp đồng cũng như những thiệt hại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

trường tiềm năng đều đã là thành viên của Công ước này. Điều đó đòi hỏi pháp luật
Việt Nam cần phải tương thích với pháp luật của các nước đối tác. Như đã đề cập,
việc xác định giá trị bồi thường thiệt hại khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
là vấn đề thường hay gây tranh cãi trong các tranh chấp thương mại quốc tế. Để
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này thì CISG được xem là cơ sở pháp lý
để so sánh, đối chiếu mang tính khách quan nhất. Đó là lý do người viết chọn đề tài
“Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng – so sánh, đối chiếu
giữa Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với
pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu.
Chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng đã được đề cập đến rất
nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học luật trước đây. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu đó đa phần mang tính khái quát. Trong đề tài nghiên cứu này, người viết
đi sâu vào những quy định liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp
hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, thông qua việc so sánh, đối chiếu các quy
định của CISG và pháp luật Việt Nam. CISG là Điều ước quốc tế đa phương quan
trọng liên quan đến pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, những quy
định của nó đã trở thành tiêu chuẩn trong nhiều hệ thống pháp lý. Điều đó có ý
nghĩa rất lớn khi so sánh pháp luật Việt Nam với CISG.
2. Phạm vi nghiên cứu
Đối với đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề được xem là
“cốt lõi” trong việc tính toán bồi thường thiệt do hàng hóa không phù hợp với hợp
đồng theo quy định của CISG và pháp luật Việt Nam. Người viết không nghiên cứu
sâu các chế tài khác khi có sự giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng. Các giao
dịch mua bán hàng hóa trong đề tài được mặc nhiên hiểu là các giao dịch thương

dụng trong quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, phương pháp so sánh, đối chiếu sẽ được
người viết sử dụng thường xuyên trong đề tài. Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng
một số vụ tranh chấp điển hình để minh chứng cho các vấn đề được đề cập đến
trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
5. Bố cục đề tài
Thông qua quá trình nghiên cứu, đề tài “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa
không phù hợp với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa Công ước của Liên Hợp
Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với pháp luật Việt Nam” sẽ được
người viết trình bày cụ thể với những nội dung chính như sau:
- Lời nói đầu.
- Chƣơng 1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Ở chương này, người viết sẽ trình bày những
vấn đề cơ bản liên quan đến chế định bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù
hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Đó được coi là một bức tranh tổng thể
về hợp đồng này, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, nguồn luật điều chỉnh, đối tượng
của hợp đồng, nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng, căn cứ phát sinh cũng
như trách nhiệm pháp lý khi có sự vi phạm hợp đồng xảy ra và các chế tài được áp
dụng. Đặc biệt, người viết nhấn mạnh đến sự không phù hợp của hàng hóa với hợp
đồng, và vấn đề bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế. Những vấn đề được đề cập ở chương này sẽ là nền tảng cho
việc so sánh, đối chiếu nội dung chính của đề tài.
- Chƣơng 2. Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng –
so sánh, đối chiếu giữa Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế với pháp luật Việt Nam. Trong chương này, người viết tập trung phân
tích các quy định của CISG và pháp luật Việt Nam liên quan đến chế định bồi
GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

3

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG
HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ
Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là hình thức chế tài mà bên bán phải chịu trách nhiệm đối với bên mua
khi họ không đảm bảo hàng hóa phù hợp với các điều kiện mà các bên đã thỏa
thuận trong hợp đồng. Điều này được thể hiện bằng các quy định cụ thể của CISG
và pháp luật Việt Nam. Để việc so sánh, đối chiếu các quy định trên đạt kết quả
toàn diện, khách quan thì trước hết cần phải tìm hiểu khái quát những vấn đề liên
quan đến chế định bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
1.1 HÀNG HÓA VÀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1.1 Hàng hóa – Đối tƣợng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Khái niệm hàng hóa được biết đến khi xã hội có sự trao đổi sản phẩm và sản
xuất phát triển. Theo đó, hàng hóa được hiểu là sản phẩm của lao động, nó có thể
thỏa mãn những nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua
bán.3 Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Giá trị sử dụng
của hàng hóa thể hiện ở chỗ nó có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, còn
giá trị trao đổi thể hiện ở chỗ nó có thể trao đổi với các hàng hóa khác theo một tỷ lệ
nhất định, cơ sở của giá trị trao đổi là giá trị. Hàng hóa ngày nay được hiểu là
những gì có thể mang ra trao đổi, mua bán.
Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng có các
đặc tính của hàng hóa, là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó

hàng hóa dùng cho mục đích các nhân, gia đình; hàng hóa được mua bán qua bán
đấu giá; hàng hóa dùng cho việc thi hành pháp luật; các loại cổ phiếu, hối phiếu,
chứng khoán đầu tư; tàu thủy, máy bay và các loại tàu chạy trên đệm không khí;
điện năng; hàng hóa được gia công nhưng phần lớn nguyên liệu phục vụ cho việc
gia công hàng hóa do bên mua cung cấp.5 Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
“Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong
tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.6 Theo quy định này, hàng hóa bao gồm
các loại động sản và những vật gắn liền với đất đai. Đất đai không được xem là
hàng hóa – đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước cũng như trong
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 27
Luật Thương mại 2005: “Mua bán hàng hóa quốc tế được thể hiện dưới các hình
thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”.
Căn cứ vào năm khái niệm này, có thể thấy hàng hóa là đối tượng của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế phải là động sản. Như vậy, nếu đối tượng của hợp đồng
mua bán hàng hóa là những vật gắn liền với đất đai thì trong trường hợp này, những
vật gắn liền với đất đai không được xem là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế, cho dù những vật đó được bán cho đối tác nước ngoài.
Tóm lại, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải
thỏa mãn các quy định về Quy chế hàng hóa được phép mua bán, trao đổi theo pháp
luật của nước bên mua và bên bán. Có thể thấy, phần lớn các loại hàng hóa đều
được phép tự do đem ra trao đổi, mua bán ngoại trừ một số loại hàng nhất định mà
thông thường, theo các quy định trong pháp luật các nước, đó là nhóm hàng bị cấm
xuất khẩu, nhập khẩu, các nhóm hàng bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu (được quản
lý theo hạn ngạch (quota) hoặc phải đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, điều kiện chất
lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm v.v.).7
1.1.2. Hợp đồng mua bán hàng hóa
Trên thế giới, khái niệm hợp đồng được ghi nhận trong hầu hết các hệ thống
pháp luật của các nước. Theo Điều 1–201 của Bộ luật Thương mại thống nhất của
4


thống pháp luật trên thế giới, hợp đồng được thừa nhận về mặt pháp lý khi đáp ứng
những yêu cầu sau: hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia
ký kết; hợp đồng phải là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận, ủng hộ
và bảo vệ; hợp đồng phải là những thỏa thuận, cam kết phản ánh sự thống nhất ý chí
thực sự của các bên tham gia hợp đồng.8
Trong các giao dịch thương mại, một trong những hợp đồng đóng vai trò quan
trọng và được sử dụng phổ biến đó là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua
bán hàng hóa là quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện trên cơ sở
thuận mua, vừa bán, tức là trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên. Hợp đồng mua
bán hàng hóa có bản chất chung của một hợp đồng mua bán, đó là sự thỏa thuận
nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua
bán. Ở nhiều nước trên thế giới không có sự phân chia giữa hợp đồng mua bán
trong dân sự và hợp đồng mua bán trong thương mại. Nhưng theo quy định của
pháp luật Việt Nam, có sự phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương
mại và hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Luật Thương mại Việt Nam 2005
không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể xác định bản
chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở quy định
của Bộ luật Dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Theo đó, hợp đồng mua bán hàng
hóa được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Căn cứ vào các yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng,
hợp đồng mua bán hàng hóa được chia thành hợp đồng mua bán hàng hóa trong
nước và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Từ định nghĩa về hợp đồng mua bán
hàng hóa nêu trên, có thể thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước có những
8

Lê Thị Bích Thọ, Hợp đồng kinh tế vô hiệu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, trang 10.

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

thương mại quốc tế.9 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán
hàng hóa có tính chất quốc tế. Tính chất quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế có thể được quy định khác nhau trong pháp luật của các quốc gia cũng như
trong pháp luật quốc tế.
- Theo Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu
hình, tính chất quốc tế thể hiện ở các tiêu chí như: các bên giao kết có trụ sở thương
mại ở các nước khác nhau và hàng hóa, đối tượng của hợp đồng, được chuyển qua
biên giới một nước, hoặc là việc trao đổi ý chí giao kết hợp đồng giữa các bên được
lập ở những nước khác nhau (Điều 1 của Công ước). Nếu các bên giao kết không
có trụ sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ. Yếu tố quốc
tịch của các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.10
9

Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb.
Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2007, trang 16.
10
Nguyễn Xuân Công, Hợp đồng thương mại quốc tế - Những nội dung doanh nghiệp cần quan tâm, http://
moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?IemID=4021, [truy cập ngày 26/07/2013].

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

8

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp

từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan
riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt
Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”.14
11

Điều 1 CISG.
Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005.
13
Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam 2005.
14
Khoản 1 Điều 29 Luật Thương mại Việt Nam 2005.
12

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

9

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

“Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc
đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải
quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam
và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam”.15
“Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán

Khoản 2 Điều 29 Luật Thương mại Việt Nam 2005.
Khoản 1 Điều 30 Luật Thương mại Việt Nam 2005.

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

10

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

quan hệ thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại 2005 có
phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái
niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” chiếu theo Điều 758 Bộ luật Dân sự
2005. Căn cứ vào khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ
luật Dân sự 2005 thì tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được xác
định dựa trên các tiêu chí sau: ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hóa
là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa theo
pháp luật nước ngoài; hàng hóa là đối tượng mua bán ở nước ngoài.
Trong khi đó, mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005 chỉ
căn cứ vào một tiêu chí duy nhất là “hàng hóa được vận chuyển qua biên giới”. Với
những loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà hàng hóa không có sự dịch
chuyển qua biên giới thì sẽ không có sự điều chỉnh bởi quy định đối với mua bán
hàng hóa quốc tế trong Luật Thương mại 2005. Đơn cử như hợp đồng mua bán
hàng hóa giữa một thương nhân Việt Nam với một thương nhân nước ngoài, nhưng


mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa trả tiền cho bên bán, được thể hiện dưới các hình
thức nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, và chuyển khẩu.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là nền tảng cho sự phát triển
của nền kinh tế toàn cầu. Trong xu thế thương mại hóa như hiện nay, khi mà nhu
cầu hội nhập, mở rộng quan hệ hợp tác giữa các quốc gia là một nhu cầu cần thiết
thì vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế càng được khẳng định. Nó
không những góp phần mở rộng quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên trường quốc
tế, làm giảm sự khác biệt về kinh tế, chính trị, văn hóa của các nước mà còn góp
phần quan trọng thúc đẩy lĩnh vực thương mại quốc tế phát triển.
1.1.3.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là loại hợp đồng gắn liền với “tính quốc
tế”, và đây được xem là yếu tố làm nên đặc trưng của hợp đồng này. So với hợp
đồng mua bán hàng hóa trong nước, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có những
điểm mang tính đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường là thể
nhân hoặc pháp nhân có thể có trụ sở thương mại, nơi cư trú hoặc quốc tịch ở
các quốc gia khác nhau. Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự
điều chỉnh đặc biệt nào đối với chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Vấn đề này được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia có liên quan, miễn là
chủ thể đó được thừa nhận tư cách chủ thể theo pháp luật của các quốc gia có liên
quan thì trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đương nhiên được công nhận.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được
coi là hợp pháp khi chủ thể của hợp đồng hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật và
bên ký kết có năng lực hành vi và có thẩm quyền ký kết hợp đồng.17
Thứ hai, giống như hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, hàng hóa
cũng là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, hàng hóa
là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải là động sản, thường là
những hàng hóa có thể dịch chuyển qua biên giới của một nước.18 Điều này đồng
nghĩa rằng, đối với các hàng hóa không phải là động sản thì hàng hóa đó không

một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng
minh bằng mọi cách, kể cả bằng những lời khai của nhân chứng.21
Thứ tư, có sự khác biệt rõ ràng giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước về đồng tiền thanh toán. Trong khi
đồng tiền thanh toán của các bên đối với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là
nội tệ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đồng tiền thanh toán thường là
ngoại tệ ít nhất đối với một bên hoặc cũng có thể là nội tệ của cả hai bên. Ví dụ: hợp
đồng được giao kết giữa bên bán Việt Nam và bên mua Hà Lan, hai bên thỏa thuận
sử dụng đồng euro làm đồng tiền thanh toán. Lúc này đồng euro là ngoại tệ đối với
phía bên bán Việt Nam nhưng lại là nội tệ đối với bên mua Hà Lan. Tuy nhiên, cũng
có trường hợp đồng tiền thanh toán đều là nội tệ của cả hai bên, như trường hợp các
bên đối tác trong hợp đồng thuộc các nước trong liên minh Châu Âu sử dụng đồng
euro làm đồng tiền chung.
Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thể được ký kết bằng
tiếng nước ngoài đối với một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng. Ví dụ: hợp
đồng được ký kết giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân Anh, hai bên thỏa
thuận chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng. Trong trường hợp
này, tiếng Anh được xem là ngôn ngữ nước ngoài đối với thương nhân Việt Nam
nhưng lại là ngôn ngữ mẹ đẻ của thương nhân Anh. Bên cạnh đó cũng có trường
hợp ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng là tiếng nước ngoài đối với các bên trong
hợp đồng, như trường hợp thương nhân Việt Nam và thương nhân Lào chọn tiếng
Anh làm ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng của mình.

19

Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb.
Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2007, trang 173.
20
Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại Việt Nam 2005.
21

quốc tịch, trụ sở hoặc nơi cư trú ở các quốc gia khác nhau, cho nên cơ quan tài phán
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên có thể là cơ quan tài phán nước
ngoài đối với một bên trong hợp đồng hoặc cũng có thể là cơ quan tài phán nước
ngoài đối với cả hai bên.
Tóm lại, đây là những đặc điểm nổi bật mang tính chất đặc trưng của hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tính đặc trưng đó chính là yếu tố “nhận dạng” hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế so với các hợp đồng thương mại quốc tế khác nói
chung và hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước nói riêng.
1.1.3.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nguồn luật điều chỉnh của hợp
đồng được xác định trong trường hợp các bên trong hợp đồng có thỏa thuận nguồn
luật điều chỉnh hay khi các nguyên tắc tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến nguồn luật
điều chỉnh. Nguồn luật đó có thể là điều ước quốc tế về thương mại, pháp luật của
quốc gia hoặc tập quán thương mại quốc tế và thậm chí cả các án lệ.
Thứ nhất, điều ƣớc quốc tế về thƣơng mại. Điều ước quốc tế được coi là
nguồn điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi các điều ước này
điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hóa trong lĩnh vực thương mại. Điều ước
quốc tế về thương mại là văn bản pháp lý do các quốc gia ký kết hoặc tham gia
GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

14

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN


trên.
Thứ hai, pháp luật của quốc gia. Khi không có điều ước quốc tế hoặc có
nhưng điều ước quốc tế không đề cập hoặc đề cập không đầy đủ những vấn đề về
22

Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2005, trang 82.

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

15

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các chủ
thể của hợp đồng có thể dựa vào luật pháp của một quốc gia nào đó để giải quyết
vấn đề phát sinh. Trong trường hợp này, pháp luật của quốc gia trở thành nguồn luật
điều chỉnh, bổ sung cho những thiếu sót của hợp đồng đó. Pháp luật của quốc gia là
tổng hợp các quy định điều chỉnh những vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế. Có thể thấy rằng, nguồn Luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là pháp luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức luật thành văn
đối với các nước theo hệ thống Châu Âu lục địa (Civil Law) và luật không thành
văn đối với các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ (Common Law). Bởi vì ở
các nước theo hệ thống pháp luật chung Anh – Mỹ thì bên cạnh luật thành văn, ở
các nước này còn có cả luật không thành văn được ghi nhận trong các án lệ.


SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Luận văn tốt nghiệp

Bồi thƣờng thiệt hại do hàng hóa không phù hợp
với hợp đồng – so sánh, đối chiếu giữa CISG với PLVN

một hệ thống pháp luật của một quốc gia nào đó. Thì pháp luật được dẫn chiếu sẽ
được áp dụng để điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Ví dụ: để xác định
luật điều chỉnh cho quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận điều khoản luật áp dụng cho hợp đồng, tư pháp quốc tế của
một số nước quy định áp dụng hệ thuộc Luật nơi ký kết hợp đồng, theo đó luật áp
dụng cho hợp đồng trong trường hợp này là luật của nước nơi các bên ký kết hợp
đồng. Như vậy, trong trường hợp này, mặc dù các bên không thỏa thuận luật áp
dụng, nhưng khi xác định luật điều chỉnh nội dung hợp đồng thì vẫn áp dụng pháp
luật của nước do quy phạm xung đột dẫn chiếu đến.
Thứ ba, bên cạnh điều ƣớc quốc tế về thƣơng mại và pháp luật quốc gia,
tập quán thƣơng mại quốc tế đóng vai trò quan trọng với tƣ cách là nguồn
chính thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tập quán thương mại quốc
tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng,
được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp
nhận một cách phổ biến. Như vậy, không phải bất cứ tập quán thương mại nào cũng
có thể được coi là nguồn điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Tập
quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế khi nó thỏa mãn các điều kiện pháp lý sau: tập quán thương mại quốc tế là
thói quen thương mại được hình thành lâu đời và phải được áp dụng liên tục; phải
có nội dung cụ thể, rõ ràng; phải là thói quen duy nhất trong giao dịch mua bán
hàng hóa quốc tế; phải được đại đa số các chủ thể trong giao dịch mua bán hàng hóa

hàng hóa quốc tế được phép thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế nếu việc áp dụng
hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam.25
- Tập quán thương mại quốc tế được các điều ước thương mại quốc tế liên
quan quy định áp dụng. Trong trường hợp một điều ước quốc tế về thương mại có
quy phạm quy định áp dụng một hoặc một số tập quán thương mại quốc tế thì các
tập quán thương mại quốc tế đó sẽ đương nhiên được áp dụng cho các quan hệ của
các bên chủ thể mang quốc tịch hoặc có trụ sở ở các nước là thành viên của điều
ước quốc tế đó. Điều này có nghĩa là kể cả trong trường hợp khi giao kết hợp đồng
các bên chủ thể này đã không thỏa thuận dẫn chiếu đến một tập quán thương mại
quốc tế, thì tập quán thương mại đó vẫn được áp dụng nếu nó được quy định trong
điều ước quốc tế về thương mại có liên quan.
- Tập quán thương mại quốc tế được luật trong nước quy định áp dụng. Trong
trường hợp luật trong nước điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa giữa các bên quy
định áp dụng tập quán thương mại quốc tế thì tập quán thương mại quốc tế đó được
áp dụng.
- Cơ quan xét xử cho rằng, các bên chủ thể đã mặc nhiên áp dụng tập quán
thương mại quốc tế trong giao dịch thương mại của họ. Đây là trường hợp áp dụng
tập quán thương mại quốc tế trong việc xét xử các tranh chấp phát sinh từ giao dịch
thương mại quốc tế. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận cụ thể về việc
áp dụng tập quán thương mại quốc tế, đồng thời các điều ước quốc tế và luật trong
nước có liên quan cũng không có quy định cụ thể về vấn đề này thì cơ quan xét xử
có thể áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp khi có đủ cơ sở
pháp lý để khẳng định rằng trong khi giao kết hợp đồng, các bên chủ thể đã ngầm
hiểu là họ phải hành động theo tập quán thương mại quốc tế mà bất cứ nhà kinh
doanh mua bán hàng hóa quốc tế nào cũng hành động như vậy trong hoàn cảnh
tương tự.
Có thể thấy rằng, tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị bổ sung cho hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Vì vậy, những vấn đề hợp đồng đã quy định thì tập
quán thương mại quốc tế sẽ không có giá trị, hay nói cách khác, hợp đồng mua bán

Tóm lại, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dù được ký kết hoàn chỉnh, chi
tiết đến đâu, bản thân nó cũng không thể dự kiến, chứa đựng, bao gồm tất cả những
vấn đề có thể phát sinh trong thực tế. Trong trường hợp này, việc xác định nguồn
luật điều chỉnh cụ thể cho hợp đồng đóng vai trò rất quan trọng, bởi vì, đó là cơ sở
pháp lý để giải quyết tranh chấp giữa các bên nếu có xảy ra.
1.2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
Cũng giống như tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa khác, hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế được thực hiện thông qua việc các bên thực hiện nghĩa vụ của
mình được quy định trong hợp đồng. Nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được
xác lập trên cơ sở các điều khoản do chính các bên thỏa thuận, trong trường hợp
không có sự thỏa thuận thì nghĩa vụ của họ được xác định dựa trên cơ sở luật áp
dụng.26
1.2.1 Nghĩa vụ của bên bán
1.2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng hóa phù hợp với hợp đồng
Trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, do các bên trong hợp đồng
thường cách rất xa, nên đàm phán thường tiến hành thông qua các phương tiện
thông tin liên lạc (phương thức giao kết hợp đồng gián tiếp). Song trên thực tế, triết
lý “bên mua lầm chứ bên bán thì không” đã cảnh báo rằng, so với bên mua, bên
26

Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế, Trường Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, Nxb.
Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2007, trang 188.

GVHD: ThS. Diệp Ngọc Dũng

19

SVTH: Nguyễn Thanh Thoại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status