Đề tài công tác tổ chức kế toán thuế giá trị gia tăng trong các doah nghiệp thương mại - Pdf 15



ĐỀ TÀI

CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN THUẾ
GTGT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI

1
Lời Mở đầu

Kế toán là một công cụ rất quan trọng trong công tác tính thuế và kiểm tra thuế đối
với Nhà nước. Đặc biệt là với thuế GTGT, kế toán đã trở thành một công cụ không thể
thiếu cho việc thu thuế của cơ quan thuế. Việc xác định số thuế đầu ra, đầu vào, thuế phải
nộp, đều phải dựa trên số liệu thực tế được phản ánh qua hoạt động kế toán. Chính vì vậy,
nếu các doanh nghiệp không tổ chức tốt công tác kế toán theo quy định thì sẽ rất khó khăn

Phần I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ KẾ TOÁN THUẾ
GTGT TRONG DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT và luật thuế GTGT ở Việt Nam.
1.1. Lịch sử hình thành thuế GTGT.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, Pháp tiến hành áp dụng thuế doanh thu
nhằm động viên sự đóng góp của quần chúng vào nguồn thu ngân sách. Thời kì đầu, thuế
chỉ thu ở giai đoạn cuối của quá trình lưu thông hàng hoá với thuế suất thấp, do đó, số thu
rất thấp và khó quản lý. Sau đó, thuế doanh thu đã được điều chỉnh, đánh vào từng khâu
của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, cách này đã phát sinh nhược điểm là tính trùng lặp, đặc
biệt khi quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua nhiều khâu. Và để khắc phục nhược
điểm này, năm 1936, Pháp tiến hành cải tiến thuế doanh thu từ việc đánh thuế vào từng
khâu sang đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất. Việc này đã
khắc phục được nhược điểm là đánh thuế trùng lập nhưng lại làm cho việc thu thuế bị
chậm trễ so với trước đây vì chỉ khi hàng hoá đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được
thuế.
Trước một thực tế là Nhà nước muốn thu được nhiều thuế và thu kịp thời,
vừa thúc đẩy phát triển sản xuất, vừa bồi dưỡng nguồn thu, các nhà kinh tế đã nghĩ ra
nhiều biện pháp để hoàn thiện luật thuế doanh thu. Vào đầu những năm năm mươi, một
người Đức đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế doanh thu, đó là thuế
GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ qua mỗi công đoạn từ
nhiên sản xuất đến tiêu dùng. Tuy nhiên, do lý luận chưa đủ sức thuyết phục Chính phủ
nên chính sách này đã không được chấp nhận. Và trên thực tế thì thuế GTGT được nghiên
cứu và áp dụng đầu tiên tại Pháp vào ngày1/7/1954. Ban đầu thuế GTGT ra đời chỉ nhằm
vào một số nghành cá biệt, mãi đến năm 1968, thuế GTGT mới được áp dụng cho mọi
nghành nghề, mọi lĩnh vực. Cho đến nay, với ưu điểm của mình, thuế GTGT đã được áp
dụng và triển khai ở nhiều nước. Với Việt Nam, việc chuyển sang áp dụng thuế GTGT
ngoài mục đích từng bước hoà nhập vào chính sách thuế của các nước trong khu vực và

ngành nghề và giá trị sử dụng của hàng hoá, dịch vụ.
1.3. Luật thuế GTGT và việc vận hành luật thuế GTGT ở Việt Nam.
1.31. Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế.
1.311. Đối tượng chịu thuế.
Theo quy định tại điều 2, Luật thuế GTGT và điều 2 Nghị định số 79/2000/NĐ-CP
ngày 29/12/2000

thì đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất,
kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam, trừ tất cả các đối tượng quy định tại mục II, phần A,
thông tư số 122/2000/TT-BTC ra ngày 29/12/2000 của Bộ Tài Chính.
1.312. Đối tượng nộp thuế.

4
Theo quy định tại điều 3, Luật thuế GTGT và điều 3 Nghị định số
79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000

thì đối tượng nộp thuế GTGT bao gồm:
_ Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng kí kinh doanh theo Luật Doanh
nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Hợp tác xã.
_ Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp
khác.
_ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác
kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức
nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo luật Đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam.
_ Cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm kinh doanh độc lập và các đối
tượng kinh doanh khác.
1.313. Đối tượng không chịu thuế.
Bao gồm tất cả các đối tượng được quy định tại mục II, phần A, thông tư số

+ Hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, mua của đơn vị kinh
doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng;
+ Hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến mua vào không có
hoá đơn;
+ Hàng hoá chịu thuế TTĐB cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản
xuất để bán ra có hoá đơn bán hàng (kể cả trường hợp mua của đại lý bán hàng chịu thuế
tiêu thụ đặc biệt theo đúng giá của cơ sở sản xuất, hưởng hoa hồng).
+ Tiền bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng
chịu thuế GTGT (tính trên giá trị bồi thường bảo hiểm) thuộc trách nhiệm bồi thường của
cơ sở kinh doanh bảo hiểm.
_ Tỷ lệ 2% trên giá trị hàng hoá mua vào theo Bảng kê đối với hàng hoá là nông,
lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến; đất, đá, cát, sỏi, các phế liệu mua của người bán không
có hoá đơn. Riêng đối với cơ sở sản xuất sản phẩm là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa
qua chế biến không chịu thuế GTGT, nếu cơ sở dùng các sản phẩm này để tiếp tục sản
xuất, chế biến ra các hàng hoá khác thuộc diện chịu thuế GTGT thì giá được tính khấu trừ
theo tỷ lệ quy định là giá thành sản xuất của các mặt hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản.
Tỷ lệ (%) khấu trừ trên đây áp dụng thống nhất cho cả trường hợp kinh doanh trong
nước và xuất khẩu.
_ Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ đặc thù (kể cả
hoá đơn mua hàng dự trữ quốc gia của cơ quan dự trữ quốc gia) ghi giá thanh toán là giá
đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại
điểm 14 Mục I Phần B của Thông tư này để xác định giá không có thuế và thuế GTGT
đầu vào được khấu trừ.
c) Xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ:

6
_ Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ dùng
cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT.
_ Hàng hoá mua vào bị tổn thất do thiên tai, hoả hoạn, bị mất, xác định do trách
nhiệm của các tổ chức, cá nhân phải bồi thường thì thuế GTGT đầu vào của số hàng hoá


7
Văn phòng Tổng công ty không trực tiếp hoạt động kinh doanh và các đơn vị hành
chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường
đào tạo không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này.
Cơ sở sản xuất hàng hoá chịu thuế TTĐB trực tiếp hoặc uỷ thác xuất khẩu thì thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng để sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt xuất khẩu được tính khấu trừ hoặc hoàn thuế theo quy định.
d) Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT
được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được khấu trừ thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp dụng nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào trước tháng được áp dụng nộp
thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
1.332. Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng.
a) Xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT GTGT của hàng hóa, Thuế suất thuế của
= x
phải nộp dịch vụ chịu thuế hàng hoá, dich vụ đó

GTGT của Doanh số của hàng hoá, Gía vốn của hàng hoá,
= -
hàng hóa, dịch vụ dịch vụ bán ra dịch vụ bán ra Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:
_ Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh bán hàng là số chênh lệch giữa doanh số
bán với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh.

kinh doanh đó.
Doanh số hàng hóa, dịch vụ bán ra quy định trên đây bao gồm cả các khoản phụ
thu, phí thu thêm ngoài giá bán mà cơ sở kinh doanh được hưởng, không phân biệt đã thu
tiền hay chưa thu được tiền.
Doanh số hàng hóa, dịch vụ mua vào quy định trên đây bao gồm cả các khoản thuế
và phí đã trả tính trong giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ mua vào - Cơ sở kinh doanh
thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT không được
tính giá trị tài sản mua ngoài, đầu tư, xây dựng làm tài sản cố định vào doanh số hàng
hoá, dịch vụ mua vào để tính giá trị gia tăng.
b) Phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với
từng cơ sở kinh doanh như sau:
_ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có
hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua,
giá bán ghi trên chứng từ.
_ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hóa,
dịch vụ, xác định được đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ theo hoá đơn bán hàng hoá,

9
dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì GTGT được xác định bằng
doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
_ Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá
đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của
từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế; giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu
ấn định nhân với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu.
Tổng cục Thuế hướng dẫn các Cục thuế xác định tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh
thu làm căn cứ tính thuế GTGT phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh và hợp lý giữa
các địa phương.

2.Tổ chức công tác kế toán thuế GTGT trong doanh nghiệp thương mai
2.1. Tài khoản sử dụng.

- Số thuế GTGT phải nộp của thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập bất thường;
- Số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa nhập khẩu
Số dư bên Có: Số thuế GTGT còn phải nộp cuối kỳ
Số dư bên Nợ: Số thuế GTGT đã nộp thừa vào NSNN
_ Tài khoản 3331 có hai Tài khoản cấp 3:
+ Tài khoản 33311 - Thuế GTGT đầu ra: dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra,
số thuế GTGT phải nộp, đã nộp, còn phải nộp của hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ.
+ Tài khoản 33312 - Thuế GTGT hàng nhập khẩu: dùng để phản ánh thuế GTGT
phải nộp, đã nộp, còn phải nộp của hàng nhập khẩu.
2.2. Kế toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế
2.21. Kế toán thuế GTGT đầu vào
(1) Nhập kho vật liệu dụng cụ hàng hoá:
Nợ TK 152, 153, 156, 611  Giá mua chưa có thuế
Nợ TK 133  Thuế GTGT đầu vào
Có TK 111, 112, 131…  tổng số tiền thanh toán
(2) Mua vật liệu, dung cụ dùng ngay vào hoạt động bán hàng hoặc quản lý doanh
nghiệp.
Nợ TK 641, 642  Giá mua chưa có thuế
Nợ có TK 133  Thuế GTGT đầu vào
Có TK 111, 112, 131  Tổng số tiền thanh toán
(3) Hàng hoá mua bán gửi bán hoặc bán ngay cho khách hàng và chịu thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ.
Nợ TK 157, 632, 611  Giá mua chưa có thuế
Nợ TK 133  Thuế GTGT đầu vào
Có TK 111, 112, 331  Tổng số tiền thanh toán
(4) Mua TSCD cho hoạt động sản xuất kinh doanh các loại sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:

11
 Nợ TK 211 (213)  Giá mua chưa có thuế

Nợ TK 111  Tổng giá thanh toán
Có TK 511  Doanh thu bán hàng (giá mua chưa thuế)

12
Có TK 33311  thuế GTGT đầu ra phải nộp
(2) Khoản thu nhập hoạt động tài chính,thu nhập khác phát sinh kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 138  Tổng giá thanh toán
Có TK 515, 711  thu nhập tính theo giá chưa thuế.
Có TK 33311  thuế GTGT đầu ra phải nộp
(3) Bán sản phẩm hàng hoá theo phương thức trả góp, kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 131  Tổng giá thanh toán
Có TK 33311  thuế GTGT đầu ra phải nộp
Có TK 511  Giá bán trả 1 lần chưa có thuế GTGT
Có TK 3387  Lãi trả chậm.
(4) Bán hàng hoá chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế để đổi lấy hàng
sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh các loại hàng hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ thuế, kế toán ghi:
(a) Phản ánh doanh thu bán hàng và thuế GTGT phải nộp:
Nợ TK 131  Tổng giá thanh toán
Có TK 511  Giá bán chưa có thuế GTGT
Có TK 3331  thuế GTGT đầu ra phải nộp
(b) Khi nhận vật tư hàng hóa trao đổi về có hoá đơn GTGT, kế toán ghi:
Nợ TK 156, 152  Gía chưa có thuế
Nợ TK 133  Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 131  Tổng giá thanh toán
(5) Khi bán hàng hoá, dịch vụ để đổi lấy hàng hoá dùng cho hoạt động sản xuất
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, kế
toán ghi:
(a) Nợ TK 131  Tổng giá thanh toán
Có TK 511  Giá bán chưa có thuế GTGT

(7) Dùng hàng hoá trả lương cho nhân viên:
Nợ TK 334  Giá có thuế GTGT
Có TK 512  Giá chưa có thuế GTGT
Có TK 33311  thuế GTGT đầu ra phải nộp
2.23. Kế toán quyết toán thuế GTGT:
Cuôí kì kế toán xác định số thuế đầu vào không được khấu trừ trong tổng số
thuế GTGT đầu vào khi mua TSCĐ dùng chung cho hoạt động sản xuất kinh doanh chịu
thuế GTGT dựa trên cơ sở tỷ lệ doanh thu chịu thuế GTGT và doanh thu không chịu thuế
GTGT.Số thuế đầu vào không được khấu trừ hoạch toán như sau:
Nợ TK 1421  thuế GTGT đầu vào được khấu trừ lớn
Nợ TK 642  thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ nhỏ
Có TK 133  thuế GTGT đầu vào chờ phân bổ

14

Và Nợ TK 642
Có TK 1421  thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ
phân bổ trong kì
Cuối kì phân bố thuế GTGT đầu vào cho doanh thu của hàng chịu thuế
GTGT và không chịu thuế GTGT.
Mức phân bổ thuế GTGT doanh thu của hàng
đầu vào cho hàng chịu thuế GTGT Doanh thu của
= X
chịu thuế GTGT theo Tổng doanh thu của hàng chịu hàng chịu thuế
GTGT
phương pháp khấu trừ thuế GTGT và không chịu thuế
GTGT

Mức phân bổ thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào Mức phân bổ thuế
GTGT đầu vào co hàng không chịu = - đầu vào cho hàng

(1) Khi mua hàng hoá kế toán ghi:
Nợ TK 152, 153, 156, 211
Có TK 111, 112, 331
(2) Nếu vật tư hàng hoá nhập khẩu kế toán ghi:
Nợ TK 152, 156  giá trị có thuế
Có TK 111, 112, 331
Có TK 3333  thuế nhập khẩu
Có TK 33312  thuế GTGT phải nộp
Khi nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGT của hàng nhập khẩu
Nợ TK 3333
Nợ TK 33312
Có TK 111, 112
(3) Khi bán hàng hoá kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 511, 512
(4) Khi bán hàng đổi lấy vật tư, hàng hoá dùng cho sản xuất kinh doanh chịu
thuế
GTGT theo phương pháp tính trực tiếp, kế toán ghi:
(a) Doanh thu bán hàng
Nợ TK 131
Có TK 511  Tổng giá thanh toán
(b) Trị giá vật tư hàng nhận
Nợ TK 152, 153, 156
Có TK 131

16
(5) Khi phát sinh các khoản thu nhập hoạt động tài chính, hoạt động khác, kế
toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 113
Có TK 515, 711

Doanh thu bán hàng
Thu nhập tài chính,
bất thường
133
Thuế GTGT đƣợc khấu trừ
142, 632, 641, 642…
3331
Thuế GTGT phải nộp
Thuế GTGT đầu
vào
phát sinh trong kỳ
Thuế GTGT đầu
vào
không được khấu trừ
Thuế GTGT đầu ra
152, 153, 156, 211,…
Thuế GTGT hàng nhập
khẩu phải nộp NSNN nếu
không được khấu trừ
Thuế GTGT đã được khấu trừ
111, 112

với số lượng nhỏ.
c/ Hoá đơn tự in, chứng từ đặc thù
Để sử dụng hoá đơn, chứng từ khác với mẫu quy định chung (kể cả hoá đơn
tự phát hành),doanh nghiệp phải đăng ký với Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) và chỉ
được sử dụng sau khi được chấp thuận bằng văn bản. Hoá đơn tự in phải đảm bảo
phản ánh đầy đủ các nội dung thông tin theo quy định của hoá đơn, chứng từ (hoá
đơn GTGT, hoá đơn bán hàng).
- Các chứng từ đặc thù như tem bưu điện, vé máy bay, vé xổ số, giá ghi trên
vé là giá đã có thuế GTGT.
d/ Bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ
Trường hợp cơ sở kinh doanh trực tiếp bán lẻ hàng hoá, cung ứng dịch vụ
cho người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện phải lập hoá đơn bán hàng
thì khi bán hàng phải lập "Bảng kê bán lẻ hàng hoá, dịch vụ" theo Mẫu số
05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của
Bộ Tài chính
e/ Bảng kê thu mua hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản của người trực tiếp sản
xuất

19
Nếu doanh nghiệp mua hàng hoá là các mặt hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản
chưa qua chế biến của người sản xuất trực tiếp bán ra không có hoá đơn theo chế
độ quy định thì người mua phải lập "Bảng kê thu mua hàng nông sản, lâm sản, thuỷ
sản của người trực tiếp sản xuất" theo Mẫu số 04/GTGT ban hành kèm theo Thông
tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ Tài chính.
2.42. Tổ chức hệ thống sổ chi tiết, tổng hợp về thuế GTGT
2.421. Doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ
_ Với doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ Nhật ký – Sổ cái, kế toán cần mở
thêm 4 cột để phản ánh tài khoản 133 và tài khoản 3331.
Hàng ngày, căn cứ vào chứng từ gốc, kế toán tiến hành ghi vào Nhật ký – Sổ
cái, đồng thời phản ánh vào sổ chi tiết tài khoản 133,3331, cuối tháng khoá sổ,

a/ Bảng Cân đối kế toán ( Mẫu số B 01 – DN )
Bảng Cân đối kế toán ( Mẫu số B 01 – DN ) có bổ sung chỉ tiêu có Mã số
133 ( thuế GTGT được khấu trừ ).
Chỉ tiêu ” Thuế GTGT được khấu trừ ” ( Mã số 133 ) dùng để phản ánh số
thuế GTGT còn được khấu trừ và số thuế GTGT được Cơ quan có thẩm quyền
chấp nhận hoàn lại nhưng đến cuối kỳ kế toán NSNN chưa hoàn trả.

Số liệu để ghi vào chỉ tiêu, căn cứ vào số dư bên Nợ Tài khoản 133 trên Sổ
Cái tại thời cuối kỳ kế toán.
b/ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ( Mẫu số B 02 – DN )
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm có 3 phần, trong đó phần III là phần phản
ánh thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khấu trừ khấu trừ cuối kỳ;
Số thuế GTGT được hoàn lại, đã hoàn lại và còn được hoàn lại; Số thuế GTGT
được miễn giảm, đã miễn giảm và còn được miễn giảm cuối kỳ.
2.432. Quyết toán thuế.
Theo quy định tại điều 14, Nghị định số 79/2000/NĐ - CP thì doanh nghiệp
cần tiến hành lập và gửi quyết toán thuế GTGT hàng năm cho cơ quan thuế. Doanh
nghiệp sẽ thực hiện quyết toán tài chính theo chế độ Nhà nước quy định. Trên cơ sở
quyết toán tài chính, doanh nghiệp phải tiến hành kê khai toàn bộ số thuế phải nộp,
số đã nộp, số thuế được hoàn lại tính đến thời điểm quyết toán thuế. Doanh nghiệp
phải kê khai đầy đủ, đúng chỉ tiêu và số liệu theo mẫu quyết toán thuế, gửi bản
quyết toán thuế đến cơ quan thuế địa phương, nơi cơ sở đăng ký nộp thuế, trong
thời gian quy định. Trường hợp cơ sở kinh doanh được áp dụng quyết toán tài
chính khác năm dương lịch thì vẫn phải quyết toán thuế theo năm dương lịch.
Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của số liệu quyết toán
thuế và phải có trách nhiệm nộp số thuế GTGT còn thiếu sau 10 ngày kể từ ngày
nộp báo cáo quyết toán, nếu nộp thừa thì số thừa sẽ được trừ vào số phải nộp kỳ
sau.
dung hoat động kinh tế giữa các bên tham gia. Tuy nhiên, số lượng hoá đơn nhiều
nhưng chưa thật đủ, cụ thể là những trường hợp sau:
_ Khi doanh nghiệp bán hàng thì sẽ có hoá đơn bán hàng, hoá đơn
GTGT phản ánh hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Nhưng vì lý do nào đó,
khách hàng trả lại hàng đã mua cho doanh nghiệp. Hàng hoá trả lại có thể là một
phần hay toàn bộ hàng hóa đã mua. Nhưng cho dù giá trị trao đổi của hoạt động
này nhỏ hay lớn, thì hoạt động này cũng có nội dung rõ ràng, thể hiện tư cách pháp
của các pháp nhân độc lập. Như vậy, việc không có một hoá đơn đặc thù để phản
ánh hoạt động này là không hợp lý. Ngoài ra, những hoạt động như chiết khấu

23
thanh toán, giảm giá tuy có xảy ra sau giao dịch mua bán nhưng cũng có tính chất
như trên, do vậy cũng cần có hoá đơn đặc thù để phản ánh.
_ Doanh nghiệp thương mại với hoạt động bán hàng là chủ yếu
nên doanh nghiệp phải thường xuyên áp dụng hình thức chiết khâú thương mại để
thu hút khách hàng. Chiết khấu thương mại phản ánh sự ưu đãi cho khách hàng khi
mua hàng hoá của doanh nghiệp và được tách ra khỏi tổng số tiền thanh toán phải
trả. Tuy nhiên, trên hoá đơn bán hàng hay hoá đơn GTGT hiện nay chỉ ghi tổng giá
thanh toán mà không ghi rõ phần chiết khấu thương mại người mua được hưởng.
Như vậy, việc ghi thiếu đã không phản ánh được hết nội dung nghiệp vụ kinh tế
phát sinh.
_ Một hoạt động khác của doanh nghiệp thương mại là hoạt
động nhận uỷ thác xuất, nhập khẩu. Theo quy định của Bộ Tài Chính và Tổng cục
thuế, các đơn vị nhận ngoài việc lập hoá đơn GTGT thu phí uỷ thác còn phải lập
hoá đơn GTGT khi giao hàng cho cơ sở uỷ thác ( đối với trường hợp nhận uỷ thác
nhập khẩu ). Như vậy, hoạt động này phải sử dụng hai hoá đơn khác nhau, sẽ gây
khó khăn cho việc kiểm tra sai phạm của các cơ quan chức năng.
1.12. Về tài khoản sử dụng và phương pháp kế toán thuế GTGT
_ Tài khoản 133 ’’Thuế GTGT được khấu trừ’’, có tên gọi còn chưa phù hợp
với nội dung. Tài khoản 133 phản ánh toàn bộ số thuế GTGT đầu vào, gồm cả thuế

thuế GTGT đầu vào là 10% ; bán hàng ra với giá bán chưa thuế là 40, thuế suất
thúê GTGT là10%. Gỉa sử, toàn bộ thuế GTGT đầu vào đều được khấu trừ, toàn bộ
thuế GTGT đầu ra là thuế phải nộp.
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ = 20*10% = 2 tr
Thuế GTGT đầu ra = 40*10% = 4 tr
Thuế GTGT phải nộp = 4 - 2 = 2 tr
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
GTGT = 44 – 22 = 22 tr
Thuế GTGT phải nộp = 22*10% = 2,2 tr
Như vậy, doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp sẽ phải nộp thuế
nhiều hơn doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ. Nguyên nhân là do
công thức:
GTGT = Doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra – Gía vốn của hàng hoá,
dịch vụ mua vào
= (Gía bán không thuế + Thuế GTGT đầu ra) – (Gía mua không thuế
+ Thuế GTGT đầu vào)
= (Gía bán không thuế – Gía mua không thuế) + (Thuế GTGT đầu ra
– Thuế GTGT đầu vào)
Thuế GTGT chỉ tính trên GTGT của hàng hóa. Theo công thức trên, thuế
GTGT đã tính thêm trên phần GTGT của thuế, như vậy là có hiện tượng tính trùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status