GIỚI THIỆU CÁC LIỆU PHÁP TÂM LÝ
VÀ CÁC TRẮC NGHIỆM ĐO LƯỜNG TÂM LÝ
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Hiểu khái niệm về tâm lý trị liệu
2. Hiểu được các liệu pháp tâm lý thường được sử dụng – chỉ định và chống chỉ định
3. Hiểu các trắc nghiệm đo lường tâm lý – công cụ hỗ trợ cho việc điều trị
4. Định hướng bệnh nhân đến với nhà chuyên môn để điều trị tâm lý hoặc làm trắc
nghiệm trong trường hợp những biện pháp này giúp ích cho việc điều trị.
NỘI DUNG
I – TÂM LÝ TRỊ LIỆU LÀ GÌ?
Khoa học tâm lý trị liệu đã ra đời rất lâu trên thế giới, tuy nhiên, ở Việt Nam, cách đây
vài thập niên, trị liệu tâm lý đã được một vài nhà tâm lý thực hiện đơn lẻ và rất ít người
biết đến. Mãi đến vài năm trở lại đây, khoa học tâm lý trị liệu mới được biết đến nhiều
qua các kênh thông tin và môn tâm lý trị liệu được đưa vào giáo trình của các trường đại
học như là môn học chính quy cho sinh viên chuyên ngành. Hiện nay, việc thực hiện trị
liệu tâm lý được áp dụng ở một vài bệnh viện lớn như bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ
Chí Minh, Nhi Đồng I, Nhi Đồng II…. và một số trung tâm tâm lý ứng dụng.
Có nhiều định nghĩa về Tâm lý trị liệu:
1. Tâm lý trị liệu (còn gọi là tâm lý liệu pháp) là điều trị các vấn đề tâm lý, cảm xúc bằng
các phương pháp tâm lý. Trong tâm lý liệu pháp, bệnh nhân trò chuyện với nhà trị liệu về
các triệu chứng và các vấn đề mà họ mắc phải và thiết lập mối quan hệ giữa bệnh nhân và
nhà trị liệu. Mục đích của quá trình này là giúp bệnh nhân tìm hiểu chính họ, tạo nên một
cái nhìn mới về các mối quan hệ trong quá khứ và hiện tại, thay đổi những hành vi đã
định hình của người bệnh. (Tự Điển Bách Khoa Y Học Anh-Việt – NXB Y Học Tp.HCM
– XB năm 2005)
2. Tâm lý trị liệu là điều trị bằng các phương tiện tâm lý, các vấn đề có tính cảm xúc,
trong đó một người được đào tạo cố tình thiết lập mối quan hệ chuyên nghiệp với các
bệnh nhân với các đối tượng nhằm loại bỏ, sửa đổi hoặc làm chậm các triệu chứng hiện
1
có; mô hình trung gian bị xáo trộn của hành vi; và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
nhân cách tích cực (Wolberg năm 1977)
dạng – cội nguồn của chứng loạn thần kinh.
2
Ví dụ: sợ chết, sợ dơ, sợ bị bệnh là biến dạng của sự sợ hãi chia ly thời thơ ấu.
1.2.2 Diễn giải giấc mơ
Giấc mơ là một hình thức bị che đậy của việc thỏa mãn những ham muốn bị đè
nén. Những ham muốn này không được bản ngã ý thức chấp nhận nên nó được
biểu hiện dưới dạng theo lối ngụy trang hoặc theo lối “chấp nhận được”. Tức là
xung động được chuyển vào trong giấc mơ thông qua những biểu tượng. Ví dụ
mơ thấy rắn (rắn là biểu tượng)
Giấc mơ có hai cấp độ:
- Giấc mơ có nội dung rõ ràng (manifest content) mà khi tỉnh dậy người ta vẫn
nhớ và có thể kể lại những sự kiện diễn ra – đó là phần dễ được ý thức chấp
nhận.
- Giấc mơ có nội dung ẩn (latent content) mà người nằm mơ có thể nhớ một
cách lộn xộn hoặc không nhớ khi tỉnh dậy. Đây chính là phần tiềm ẩn những
ham muốn không được ý thức chấp nhận, nếu diễn tả trực tiếp sẽ gây đau khổ
hoặc lo lắng. Vì thế xung động không được chấp nhận đó được ẩn đi trong
giấc mơ đến độ người đó không nhận định là có. Tuy nhiên ý nghĩa thực sự
của giấc mơ thể hiện ở nội dung ẩn của nó và chỉ được khám phá trong quá
trình giải thích biểu tượng.
1.2.3 Phân tích chuyển di
Trong quá trình trị liệu, người bệnh thường có phản ứng cảm xúc với nhà trị liệu,
đồng hóa nhà trị liệu với người (ví dụ là cha, mẹ, anh, dì, chú…) đã gây ra cho họ
một cuộc xung đột cảm xúc trong quá khứ (yêu, ghét, thù hận…).
Sự chuyển di giúp nhà phân tích hiểu rõ về hoạt động vô thức của người bệnh,
giải thích các cảm xúc chuyển di và nguồn gốc của chúng trong kinh nghiệm và
thái độ thời thơ ấu của người bệnh, giúp họ hiểu thấu hơn những động cơ vô thức
quan trọng liên quan đến hoạt động hiện thực của họ …
1.3 Cơ chế phòng vệ
Cách phản ứng một cách vô thức của một người trước tình huống gây lo âu nhằm
khác những ý nghĩ, xúc cảm mà chủ thể không thích hoặc không muốn.
Cách khác, chủ thể quy kết nỗi lo âu của mình là do bên ngoài gây ra. Ví
dụ: thay vì nói “tôi ghét em tôi” thì người đó nói “em tôi ghét tôi”
- Cơ chế thoái lùi (regression): chủ thể quay về giai đoạn phát triển trước
đó, thay vì ở giai đoạn phát triển tiếp theo khi gặp tình huống gây lo âu.
Trẻ nhỏ có thể thoái lùi về thời kỳ nhủ nhi để được chăm sóc, ẵm bồng.
Người lớn tránh né quan hệ tình dục vì cảm thấy chưa trưởng thành về tâm
lý. Hiện tượng này chỉ xảy ra tạm thời vì khi hết lo âu, chủ thể trở về vị trí
đúng của mình.
- Cơ chế thăng hoa (sublimation): chủ thể chuyển những xung năng không
được xã hội chấp nhận, sang những xung năng được xã hội chấp nhận và
đề cao. Ví dụ, một người không hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân,
xung năng tình dục được chuyển thành xung năng muốn cống hiến cho xã
hội, cộng đồng bằng sự lao động, sáng tạo.
- Cơ chế tránh né (Avoidance): chủ thể tránh né những tình huống, chủ đề
gây cho mình căng thẳng, lo âu. Ví dụ: một người sợ cái chết, tránh không
nhắc tới hoặc không muốn nghe những nội dung, từ ngữ liên quan đến cái
chết.
- Cơ chế phủ nhận (denial): là người đó khăng khăng không chấp nhận sự
thật dù sự thật đó có bằng chứng xác thực. Phủ nhận, có thể phủ nhận thực
tế mà mình không hài lòng, hoặc thừa nhận thực tế nhưng phủ nhận tính
nghiêm trọng của nó, hoặc thừa nhận thực tế và tính nghiêm trọng nhưng
phủ nhận trách nhiệm…
4
1.4 Chỉ định và chống chỉ định:
- Chỉ định: những bệnh nhân bị loạn thần kinh hystery, loạn thần kinh ám ảnh,
những người rối loạn nhân cách borderline (như những người nghiện ma túy, mới
sinh con, rối loạn tính ái kỷ)
- Chống chỉ định: những bệnh nhân bị rối loạn tâm thể hoặc nhân cách rối loạn tâm
thể và tất cả những bệnh nhân loạn thần, đặc biệt là tâm thần phân liệt. Vì đối với
- Tái tạo lại những gì người bệnh nhân nói, là một cách đáp ứng. Qua đó nhà trị liệu
thể hiện sự cố gắng của mình trong việc hiểu những gì thân chủ đang trải nghiệm
và đang cố nói đến.
2.3 Chỉ định và chống chỉ định:
- Chỉ định: trầm cảm, lo âu, rối loạn nhân cách, những bệnh nhân rối loạn tâm thần.
- Chống chỉ định ban đầu với những bệnh nhân đang lo âu cực độ, trầm cảm lâu
ngày hoặc bị một sang chấn.
3 LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI (Cognitive Behavior Therapy)
3.1 Liệu pháp nhận thức – hành vi là gì?
Liệu pháp nhận thức – hành vi là phương pháp điều trị tâm lý giúp bệnh nhân hiểu
được những suy nghĩ và cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi, ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống và các mối quan hệ.
Liệu pháp nhận thức – hành vi nói chung là ngắn hạn và tập trung vào việc giúp
bệnh nhân đối phó với một vấn đề rất cụ thể. Trong quá trình điều trị, mục tiêu
nhằm xác định và thay đổi mô hình tư tưởng sai lệch có ảnh hưởng tiêu cực đến
hành vi, bởi vì “suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đóng một vai trò cơ bản trong
hành vi của chúng ta”.
Ví dụ: một người dành rất nhiều thời gian suy nghĩ về tai nạn xe cộ, kẹt xe, ùn tắt
giao thông, không khí ô nhiễm (nhận thức), người này lo lắng (cảm xúc), sẽ né
tránh ra đường (hành vi).
Mục tiêu của liệu pháp này nhằm hướng dẫn cho các bệnh nhân trong khi họ
không thể kiểm soát mọi khía cạnh của thế giới xung quanh họ, họ có thể kiểm
soát suy nghĩ của họ, giải thích như thế nào, và đối phó với những tình huống
trong môi trường của họ, nói cách khác là làm thay đổi niềm tin sai lệch để có
hành vi thích ứng.
Ví dụ: người đó suy nghĩ việc ùn tắc giao thông hay không khí ô nhiễm là điều
hiển nhiên, nhiều người vẫn đi ra đường (nhận thức). Người đó cảm thấy đỡ sợ
hơn (cảm xúc), ra đường với khẩu trang hoặc đi sớm hơn để tránh kẹt xe (hành
vi).
3.2 Các kỹ thuật:
hành hiệu quả trong đời sống gia đình, chứ không đơn thuần chỉ giải quyết "cá nhân có
vấn đề". Một khi cấu trúc gia đình trở nên lành mạnh, cơ chế vận hành đời sống gia đình
trở nên hiệu quả, thì triệu chứng hoặc vấn đề ở một cá nhân sẽ không còn điều kiện để
tồn tại nữa.
7
Ví dụ: đứa trẻ 10 tuổi đái dầm khi mẹ sinh em bé (đái dầm: triệu chứng, đứa trẻ: bệnh
nhân chỉ định). Đứa trẻ chưa được chuẩn bị tâm lý khi có em, lo âu bị bỏ rơi nên có hiện
tượng tâm lý thoái lùi để thu hút sự chú ý của ba mẹ. Trị liệu hệ thống giúp các thành
viên được lắng nghe và hiểu nhau để có hành vi ứng xử phù hợp.
Các tác giả của liệu pháp này là Watzlawick, Selvin Palazzoli, Murray Bowell…
4.2 Các kỹ thuật:
- Nghịch lý
- phân vai – đảo vai
- chiếc ghế trống
- Công cụ: cây phả hệ, phép ẩn dụ, phép nhiệm màu, thang đánh giá, cây đũa thần…
4.3 Chỉ định:
- Chỉ định:
+ những xung đột thuộc về vấn đề giao tiếp trong gia đình
+ Những bệnh lý liên quan đến sự gắn bó giữa cha mẹ - con cái (ví dụ chứng chán ăn tâm
thần)
+ Những rối loạn hành vi trong và ngoài gia đình
+ Những trị liệu cá nhân thất bại
+ Khi có một bệnh lý mà bệnh lý đó đóng vai trò vận hành trong gia đình (ví dụ tâm thần
phân liệt)
III – GIỚI THIỆU CÁC TRẮC NGHIỆM (TEST) ĐO LƯỜNG TÂM LÝ
1. Trắc nghiệm tâm lý là gì?
- Định nghĩa:
Là một hệ thống biện pháp đã được chuẩn hóa về kỹ thuật, được quy định về nội dung
và cách làm, nhằm đánh giá ứng xử và kết quả hoạt động của một người hay một nhóm
người, cung cấp một chỉ báo về tâm lý (trí lực, cảm xúc, năng lực, nét nhân cách…)
- Mô tả: bao gồm 12 tiểu test chia thành 2 nhóm: nhóm trí tuệ phần lời nói
và nhóm trí tuệ phần thao tác (có sự tham gia của khả năng tri giác – vận
động)
WAIS (Wechsler Adult Intelligence Scale)
Tương tự như test Wisc, Wais là trắc nghiệm sử dụng cho người lớn từ 16 –
74 tuổi
RAVEN (Raven’s Standard Progressive Matrices)
- Tác giả: Jonh Raven
- Mục tiêu: đánh giá khả năng quan sát và tư duy
- Mô tả: gồm 2 loại có màu và không màu: Bài tập có màu dành cho trẻ em
hoặc những người thiểu năng trí tuệ với 36 bài tập. Bài tập không màu
dành cho người lớn với 60 bài từ dễ đến khó. Đây là loại trắc nghiệm phi
ngôn ngữ nên có thể áp dụng cho nhiều đối tượng.
2.2 Trắc nghiệm về nhân cách:
- Dùng để đánh giá những nét tính cách và các mặt tình cảm của đương sự
RORSCHACH
- Tác giả: Hermann Rorschach – bác sĩ tâm thần, chuyên gia tâm lý Thụy Sĩ
- Mục tiêu: Từ ý nghĩa của những vết mực, phóng chiếu với nhân cách
người bệnh
- Mô tả: là trắc nghiệm dùng những vết mực, tưởng tượng ý nghĩa của nó.
9
TAT (Thematic Apperception Test)
- Tác giả: HerryA. Muray và Christiana D. Morgan (Đại học Havard, 1930)
- Mục tiêu: khám phá những động lực cơ bản của nhân cách, đánh giá rối
loạn nhân cách
- Mô tả: gồm một loạt các hình ảnh những cảnh tương đối mơ hồ, người làm
trắc nghiệm được xem một loạt các hình ảnh đó và kể lại một câu chuyện
theo trí tưởng tượng của đối tượng, liên quan đến những gì đã xảy ra, đang
xảy ra và sẽ xảy ra.
Qua câu chuyện kể, nhà tâm lý có thể đánh giá được nhu cầu, thái độ,
3. Kể tên các test Nhân cách?
4. Kể tên các test trí tuệ?
11
12