TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
BỘ MÔN RĂNG HÀM MẶT RĂNG HÀM MẶT THÁI NGUYÊN - 2008
Lời nói đầu
Trong khi chờ đợi bộ sách giáo khoa chuẩn hoá, thống nhất dùng cho sinh viên
hệ Bác sỹ đa khoa trong cả nước. Bộ môn Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y khoa -
Đại học Thái Nguyên đã biên soạn tập giáo trình này, bao gồm những kiến thức cơ
bản cần thiết cho sinh viên hệ Bác sỹ đa khoa học môn Răng Hàm Mặt.
Để biên soạn được một tập giáo trình vừa cập nhật những thông tin mới nhất
trong lĩnh vực chuyên khoa, vừa phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và trí tuệ của nhiều người.
Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận
được sự thông cảm và những ý kiên đóng góp của bạn đọc để lần tái bản sau được
hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 06 năm 2008
BỘ MÔN RĂNG HÀM MẶT 4
Sự di chuyển của răng chủ yếu theo trục, đồng thời có sự xoay và di chuyển
ngang.
2. Số lượng, công thức, ký hiệu răng
2.1. Số lượng
Người ta mọc răng 2 lần trong đời, đầu tiên là răng sữa, sau đó là răng vĩnh viễn.
Hàm răng sữa có 20 răng, mỗi cung hàm có 5 răng là các răng I, II, III, IV, V.
Hàm răng vĩnh viễn có từ 28 đến 32 răng, mỗi cung hàm có từ 7 đến 8 răng là các
răng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8.
2.2. Công thức
Răng sữa:
2.3. Ký hiệu :
Có 2 cách ký hiệu
Cách l
: Dùng móc vuông để biểu thị cho 4 cung răng.
Hai hàm trên và dưới được chia đôi bởi đường giữa thành 4 khu.
Trên phải Trên trái
Dưới phải Dưới trái
Răng sữa: Biểu thị bằng số La Mã
V, IV, III, II, I I, II, III, IV, V
V, IV, III, II, I I, II, III, IV, V
5
3. Giải phẫu
3.1. Hình thể ngoài của răng
Gồm 4 phần:
Thân răng: Là phần nhô khỏi cung hàm, có 5 mặt: mặt nhai, mặt ngoài, mặt
trong, mặt gần và mặt xa. Mặt nhai: đặc trưng bởi các núm hình ngọn đồi, đối với răng
cửa gọi là rìa cắn. Mặt ngoài: là mặt tiếp xúc với môi má. Mặt trong: là mặt tiếp xúc
với lưỡi. Mặt gần: là mặt tiếp xúc với răng ở phía trước. Mặt xa: là mặt tiếp xúc với
răng ở phía sau.
Cổ răng: Là phần chuyển tiếp giữa thân răng và chân răng.
Chân răng: Là phần nằm trong ổ răng của xương hàm, các răng có số lượng chân
khác nhau.
Cuống răng: Là phần tận cùng của chân răng, ở đó có một lỗ rất nhỏ để cho mạch
máu thần kinh đi vào tuỷ răng.
7
3.2. Hình thể trong của răng
Gồm 2 phần: Buồng tuỷ và ống tuỷ. Từ các lỗ cuống răng của các chân răng, ống
tuỷ chạy dọc lên đến thân răng thì phình to ra tạo thành buồng tuỷ. Trong buồng tuỷ và
ống tuỷ có chứa tuỷ buồng và tuỷ chân.
4. Tổ chức học của răng
Răng được cấu tạo bởi 4 thành phần:
4.1. Men răng
Men răng là tổ chức cứng nhất cơ thể, bao bọc toàn bộ ngà thân răng, dầy nhất ở
núm, mỏng và tận hết ở cổ răng. Bề mặt men răng nhẵn bóng trong suất.
Dưới kính hiển vi điện tử men răng gồm các trụ men, sắp xếp theo hướng, vuông
góc với đường ranh giới men ngà. Các trụ men có hình lăng trụ, hình lục giác sắp xếp
Hữu cơ: chiếm 22%.
Muối và nước: chiếm 32%.
4.4. Tuỷ răng
Là tổ chức liên kết nằm trong hốc buồng tủy và ống tuỷ. Gồm 2 phần: Vùng
ngoại vi chủ yếu là các tế bào tạo ngà. Vùng trung tâm là mô liên kết lỏng lẻo chứa
mạch máu, thần kinh, bạch mạch.
Chức năng sinh lý tuỷ:
- Tạo ngà.
- Đảm bảo cảm giác men ngà.
- Chống đỡ bảo vệ tuỷ trong trường hợp bị viêm nhiễm.
- Dinh dưỡng.
5. Tuổi mọc răng
Chia làm 3 thời kỳ: Răng sữa mọc khi trẻ từ 6 đến 30 tháng tuổi.
Răng vĩnh viễn mọc khi trẻ từ 6 -12 tuổi.
Răng khôn mọc từ 18 tuổi trở lên.
Bảng 1. Tuổi mọc răng sữa
Răng I II III IV V
Thời gian mọc Hàm trên 8 10
(Tính theo tháng) Hàm dưới 6 12
16 - 20
12 - 16
20 - 30 Bảng 2. Tuổi mọc răm vĩnh viễn
Răng 1 2 3 4 5 6
7
Thời gian mọc Hàm trên 7 8
Triệu chứng:
Toàn thân: Trẻ sốt, ho, rối loạn tiêu hoá, viêm phế quản.
Tại chỗ: Trẻ tăng tiết dịch nước bọt, đỏ má, chạm mặt, viêm loét lợi miệng.
Những triệu chứng này thường lặp đi, lặp lại sau mỗi lần mọc răng.
Xử trí: Vệ sinh răng miệng. Chăm sóc - dinh dưỡng tốt. Điều trị các triệu chứng
toàn thân nếu có. Theo dõi, đề phòng các biến chứng do bội nhiễm.
7.2. Tai biến do mọc răng vĩnh viễn
Thường gặp ở răng khôn hàm dưới.
Nguyên nhân: - Do khoảng sau hàm hẹp.
- Răng mọc thường hay lệch trục, sai vị trí.
- Là răng mọc muộn, thời gian mọc kéo dài.
Vì vậy trong quá trình mọc thân răng không được bộc lộ hoàn toàn, ổ quanh răng
trũng dẫn đến dễ gây ứ đọng và gây viêm nhiễm.
Triệu chứng: Răng khôn hàm dưới gây biến chứng trước tiên là bệnh viêm quanh
thân răng. Triệu chứng cơ năng: Bệnh nhân thường ngứa, đau vùng răng đang mọc,
đau tăng dần, há miệng hạn chế, có thể khó nuốt. Toàn thân: Bệnh nhân sốt, có hạch
phản ứng vùng hàm mặt. Tại chỗ: Sưng nề lợi nơi răng khôn đang mọc, có thể nhìn
11
thấy một phần của thân răng hoặc không, có thể có in dấu răng ở hàm đối diện, có mủ
ở túi lợi quanh răng.
Tiến triển: Bệnh nhân khỏi hoàn toàn nếu được điều trị kịp thời và giải phóng
phần lợi trùm với điều kiện răng mọc thẳng trục, đủ chỗ. Bệnh khỏi tạm thời, thỉnh
thoảng tái phát nếu được điều trị kịp thời nhưng răng không thể mọc lên được do lệch
trục hoặc thiếu chỗ. Bệnh không khỏi và gây các biến chứng khác: viêm tấy các tổ
chức phần mềm quanh xương hàm (cơ cắn, cơ mút hàm, thành bên họng)
Xử trí: Dùng kháng sinh, giảm đau. Vệ sinh răng miệng. Chụp X quang răng. Kết
hợp Xquang và lâm sàng để có chỉ định điều trị bảo tồn hay nhổ răng.
8.2.2. Lệch lạc về khối lượng và hình thể răng
Răng có kích thước to hơn bình thường hoặc răng kích thước nhỏ hoặc răng có
hình thể đặc biệt.
8.2.3. Bất thường về cấu trúc
Răng có cấu trúc bất thường, đây là hình thức thiểu sản hoặc kèm ngấm canxi
trong qua trình hình thành và phát triển răng.
8.2.4. Lệch lạc về vị trí răng
Răng mọc ngoài cung hàm; Răng xoay quanh trục đứng; Răng mọc chen chúc;
Răng mọc đổi chỗ; Răng mọc lạc xa (răng nằm trong xoang hàm hoặc ngành lên
xương hàm dưới); Răng ngầm (thường thấy ở hàm dưới nhiều hơn hàm trên, hay gặp
răng khôn hàm dưới và răng nanh hàm trên).
8.2.5. Điều trị lệch lạc răng
Tuỳ theo bệnh cảnh lâm sàng và phương tiện kỹ thuật mà có thể nhổ bớt răng nếu
thiếu chỗ hoặc thừa răng, nắn chỉnh hàm để đảm bảo thẩm mỹ và đưa hàm răng về vị
trí khớp cắn trung tâm. Tuổi thích hợp cho nắn chỉnh hàm là sau khi răng đã mọc xong
hàm răng vĩnh viễn cho đến 25 tuổi.
mạnh mẽ nhất. Tất cả các quốc gia, tất cả các dân tộc đều bị sâu răng. Có nhiều nước
gần 100% dân số bị sâu răng, dẫn đến những khó khăn không thể đáp ứng được về tài
chính, nhân lực và thời gian cho quá trình điều trị khiến người ta phải tìm các biện
pháp phòng ngừa bệnh sâu răng.
Hiện nay nhiều hướng dự phòng được mở ra có triển vọng làm ngừng sự phát
triển của sâu răng và đang tiến tới đẩy lùi dần bệnh này.
15
1.2. Bệnh lý về bệnh sâu răng
Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, làm mất vôi và
tan rã tổ chức cứng của răng (men, ngà, xương răng) tiến tới hình thành một lỗ sâu.
Khởi đầu sâu răng không đau, khi lỗ sâu phát triển sâu và rộng phá huỷ nhiều tổ
chức men và ngà, thì ăn các thức ăn nóng, lạnh, chua, ngọt đều bị đau, nhưng hết đau
khi hết các kích thích. Nếu không được điều trị kịp thời, tổn thương sẽ lan tới tuỷ răng
và quanh cuống răng
Những biến chứng của sâu răng là viêm tuỷ răng, viêm quanh cuống răng làm
cho ăn uống khó khăn, ngủ cũng không yên giấc vì các đợt đau tự nhiên. Biến chứng
của sâu răng còn có thể gây viêm mô tế bào, viêm hạch, viêm xương tuỷ hàm, đôi khi
viêm lan rộng gây nhiễm khuẩn huyết, thậm chí gây viêm màng não rất dễ gây tử vong
trong những biến chứng nặng này. Mặt khác, nhiễm khuẩn ở quanh cuống răng có thể
gây rối loạn ở xa, ở khớp xương, ở tim, ở thận hoặc duy trì và làm nặng thêm bệnh đã
có ở các nơi đó
1.3. Sâu răng là tai hoạ thứ 3 của loài người
1.3.1. Bệnh sâu răng có thể mắc rất sớm và theo đuổi suốt cả cuộc đời
Trẻ chưa mọc đủ răng sữa đã sâu răng sữa. Trẻ chưa thay hết răng sữa thành răng
vĩnh viễn đã sâu răng vĩnh viễn.
1.3.2. Bệnh sâu răng rất phổ biến trên phạm vi toàn thế giới, không những số người
Sâu răng ở Việt Nam: (số liệu năm 2002)
Trẻ em 6 tuổi smt (Răng sữa): 6,15
12 tuổi SMT: 1,87
15 tuổi SMT: 2,16
Người lớn 18 tuổi SMT: 2,84
18 - 34 SMT: 3,29
35 - 44 SMT: 4,70
Từ 45 tuổi SMT: 8,93
Thế giới:
Có 2 xu hướng chính yếu:
- Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển (SMT trung bình trẻ 12
tuổi từ 2 tăng lên 4,1).
- Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước Công nghiệp hoá cao (SMT trung
bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7 - 10 xuống khoảng 2 - 4).
1.3.3. Tổn phí chữa răng rất lớn
Nước Pháp: Kinh phí chữa răng hàng năm chiếm hơn 30% kinh phí cho chữa
bệnh của các gia đình.
Nước Mỹ: Mỗi năm tốn hàng chục tỷ USD cho chữa răng kèm theo hàng trăm
triệu ngày công lao động mà vẫn còn hàng triệu răng không được chữa.
Việt Nam: Còn đại đa số dân chúng để bệnh phát sinh, phát triển tự nhiên cam
chịu đau đớn rồi mất dần răng. Chỉ có số ít người có điều kiện chữa ước răng.
2. Các yếu tố gây sâu răng
2.1. Trước năm 1975 người ta giải thích căn nguyên sâu răng bằng sơ đồ Keyes.
Hình 5. Sơ đồ Keyes
17
- Đường: Hiện nay có 1 số đường ít gây sâu răng.
- Vi khuẩn: Streptococcus mutans
) có khả
năng gây nên sự mất khoáng mạnh ở mô răng. Khi đó xuất hiện các cặn bã của quá
trình mất khoáng và hình thành những vết sâu răng - vết trắng (white spot lesion).
Từ vết trắng sẽ xuất hiện lỗ sâu răng, nếu quá trình mất khoáng mạnh tiếp diễn
xuống dưới lớp bề mặt, làm tăng các khoảng trống giữa các trụ men của men răng.
Ngược lại, vết trắng có thể mất hoàn toàn (hồi phục) nếu tạo điều kiện cho quá trình bù
khoáng cho men răng mạnh hơn mất khoáng. Đậm độ của con H
+
phụ thuộc vào pH tại
chỗ hạ thấp, do kết quả của tác động đồng thời hàng loạt các yếu tố căn nguyên tại
chỗ. Tuy nhiên quá trình huỷ khoáng còn phụ thuộc vào sức đề kháng của mô răng, mà
sức đề kháng này liên quan đến mã di truyền hoặc yếu tố vi lượng là Fluor
4. Tổn thương giải phẫu bệnh và phân loại sâu răng
Sâu men: Tổn thương sớm nhất bắt đầu từ bề mặt men gồm 4 lớp
Lớp 1 : Men đổi màu trắng(white spot lesion)
Lớp 2 : Thương tổn chính huỷ khoáng
Lớp 3: Vùng đen
Lớp 4: Vùng trong suốt
Sâu ngà: Khi tổn thương qua men, đến ngà có các mức độ sau:
Sâu bề mặt: Tổn thương vừa qua khỏi men tới ngà
Sâu ngà nông: Tổn thương trung bình
Sâu ngà sâu: Tổn thương tới gần tuỷ răng Hình 7. Thay đổi tổ chức răng khi có lỗ sâu răng
1. Men ngà bị phá huỷ thành hốc và mất khoáng
2. Ngà trong suốt và ngà phản ứng.
3. Ngà thứ phát và những thay đổi ở tuỷ
Chấm dứt sự phát triển của sâu răng.
Phục hồi hình thể răng và phục hồi sức nhai.
5.4.2. Nguyên tắc
Bảo tồn tới mức tối đa tổ chức răng
Không làm tổn thương tuỷ . 20
5.4.3. Phương pháp
Tạo lỗ hàn theo Black (1908) hoặc không
Sát trùng bằng thuốc sát trùng nhẹ
Hàn (trám) bằng các chất hàn thích hợp.
21
22
6. Phòng bệnh sâu răng
Từ hơn 50 năm nay vấn đề dự phòng sâu răng đã được đặt ra, bởi nếu để sâu răng
phát triển tự nhiên, sau đó mới điều trị, thì không một Quốc gia nào đáp ứng được vì
23
6.3. Dự phòng sâu răng bằng cách làm tăng sức đề kháng của men răng
Tác dụng của Fluor: Fluor là nguyên tố vi lượng có tác dụng tốt nhất cho men
răng. Men răng hình thành trong điều kiện dinh dưỡng đủ Fluor sẽ là Fluoro Apatit,
chất này làm cho men răng bền vững hơn và không bị huỷ khoáng trong môi trường
acid.
Fluor còn có tác dựng ức chế các enzym cho nên có tác dụng chống lại sự hình
thành mảng bám răng, đồng thời chống lại sự hình thành acid gây sâu răng từ các chất
đường.
Fluor có thể làm tăng nhanh tốc độ tái khoáng hoá men răng.
Nồng độ thích hợp và độc tính Fluor: Trong nước uống, fluor có tác dụng phòng
sâu răng là 1mg/l. Nồng độ 5 mặn trở lên có thể gây nhiễm độc men răng (đốm nâu ở
men răng). Nồng độ 8mg/l trở lên có thể gây tổn thương các khớp xương và xơ cứng
xương. Nồng đồ 50mg/l có thể gây tổn thương tuyến giáp. Nồng độ trên 125mg/l có
thể gây tổn thương thận. Uống 2,5- 5g Fluor 1 lần có thể gây tử vong.
Phân bố Fluor: Fluor có trong đất, nước, không khí, thực phẩm nhưng không
đồng đều giữa các vùng. Đất càng sâu càng có nhiều Fluor. Nước biển có nhiều Fluor
hơn nước sông. Chè, ngũ cốc có Fluor khá cao. Thịt rau quả cũng có Fluor nhưng
không đồng đều: Khoai sọ, khoai lang nhiều Fluor; thịt gà thịt bò Fluor nhiều hơn các
loại thịt khác; cá có da có Fluor; chúng và sữa có ít Fluor hành tỏi, rau muống có nhiều
Fluor; trái cây ít Fluor.
Sử dụng Fluor để phòng sâu răng: Sau khi điều tra nắm được vùng miền nào
thiếu Fluor (nồng độ dưới 0,7 màu), cần áp dụng 1 trong các biện pháp sau đây hoặc
đồng thời nhiều biện pháp:
- Fluor hoá nước máy thành phố, khu dân cư với nồng độ 0,8 - 1 mg/l.
- Cho Fluor vào bánh kẹo, bơ, sữa, muối ăn.
- Cho Fluor vào kem đánh răng với nồng độ 0,1 - 0,15% , nước xúc miệng NaF
25