Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––
LÊ THỊ HẢI
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ CHO HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG MẦM NON TỈNH BẮC KẠN L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
N
N
NL
L
Í
ÍG
G
I
I
Á
Á
O
OD
D
Ụ
Ụ
C
C L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
C
C
OD
D
Ụ
Ụ
C
C
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN QUỐC THÀNH
THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quốc Thành
Phản biện 1:
Phản biện 2: Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn
Họp tại:Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Ngày tháng năm 2009
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
A
A
R
R
Y
YO
O
F
FM
M
A
A
S
S
T
T
E
E
R
RT
T
T
T
I
I
O
O
N
N
A
A
L
LM
M
A
A
N
N
A
A
G
G
E
E
M
M
E
E
nhóm giải pháp chủ yếu để phát triển giáo dục- đào tạo là:
“Đổi mới quản lý giáo dục”. Cụ thể là: Đổi mới cơ chế và phương thức
giáo dục; Xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục-
Đào tạo; Bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp về
kiến thức, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất của từng cán bộ quản lý.
Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: việc đổi mới quản lý
giáo dục các cấp là khâu đột phá để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục.
Tại Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TƯ khoá VIII, Đảng ta cũng đã xác
định nhiệm vụ cho Giáo dục-Đào tạo là: “Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng
cán bộ, sắp xếp, chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý giáo
dục-đào tạo”.
Để đổi mới quản lý giáo dục, chúng ta phải quan tâm đến công tác bồi
dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, từng bước nâng cao trình độ cho đội ngũ này.
Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muôn việc thành công hoặc thất
bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là bậc học đầu
tiên có nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ em từ (3 tháng đến 6 tuổi). Giáo
dục mầm non đặt nền móng đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân
cách con người; chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào các bậc học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
phổ thông. Do đó, phát triển giáo dục mầm non một cách vững chắc là nền
tảng cho sự phát triển nguồn lực con người, phục vụ cho phát triển giáo dục
phổ thông.
Trường mầm non khác với các nhà trường phổ thông ở chỗ: trường
mầm non phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục trẻ. Nhiệm vụ của giáo viên trường mầm non rất nặng nề. Trong đó
vai trò của hiệu trưởng là hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nhà
trường. Là người chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động trong nhà trường.
HT trường mầm non tại tỉnh Bắc Kạn là rất quan trọng và cấp thiết. Vì những
lý do nêu trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Biện pháp tăng cường
hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng trường Mầm non
tỉnh Bắc Kạn".
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng công tác bồi dưỡng HT trường mầm
non tỉnh Bắc Kạn đề xuất các biện pháp tăng cường hiệu quả bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ này qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản
lý nhà trường, thúc đẩy sự phát triển của bậc học trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
3. Giả thuyết khoa học
Trình độ nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng các trường mầm của tỉnh
Bắc Kạn còn những hạn chế nhất định nếu đề xuất và thực hiện một số biện
pháp tổ chức bồi dưỡng phù hợp đặc điểm kinh tế-xã hội và giáo dục mầm
non tỉnh Bắc Kạn, thì trình độ NVQL của HT trường MN sẽ được nâng lên
với đòi hỏi thực tế của các trường.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng các trường mầm non của tỉnh Bắc Kạn.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tăng cường hiệu quả bồi dưỡng nghiệp
vụ quản lý cho hiệu trưởng các trường mầm non tỉnh Bắc Kạn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý luận về nghiệp vụ quản lý trường mầm non và bồi
dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng trường mầm non.
5.2. Tìm hiểu thực trạng trình độ nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu
trưởng các trường mầm non và công tác bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội
ngũ này ở các trường mầm non của tỉnh Bắc Kạn.
5.3. Đề xuất một số biện pháp tăng cường hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ quản
- Phương pháp quan sát
Tổ chức quan sát các hoạt động của hiệu trưởng,phó hiệu trưởng trường
mầm non nhằm hiểu rõ đặc điểm hoạt động của họ, từ đó có cơ sở xác định
nhu cầu, nội dung bồi dưỡng.
7.3. Các phương pháp khác
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Sử dụng phương pháp này,
chúng tôi lấy ý kiến của các cán bộ quản lý trường mầm non có kinh
nghiệm và những người am hiểu về công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo
dục nhằm xác định các nội dung và biện pháp bồi dưỡng cho hiệu trưởng
trường mầm non.
- Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu được của đề tài đều được
xử lý bằng toán thống kê.
8. Đóng góp mới của luận văn
Đây là một trong những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống
thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tỉnh Bắc Kạn và đề xuất
một số biện pháp tăng cường hiệu quả bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu
trưởng trường mầm non cả về kiến thức và kỹ năng nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả quản lý trường mầm non trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ QUẢN LÝ
CHO HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG MẦM NON
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và quản lý giáo dục trong
và ngoài nước. Cho đến nay, do nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ
cán bộ quản lý các cấp, các ngành nên các tác giả đã bàn nhiều đến vấn đề cán
học mầm non tỉnh Thái Nguyên - Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Mai Loan -
ĐHSP Hà Nội 2002; Một số biện pháp tổ chức thực hiện chương trình bồi
dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý trường mầm non ở Hà Nội - Luận văn
Thạc sĩ của Đỗ Thuý Hảo - ĐHSP Hà Nội 2002 Các công trình trên đã đề
cập đến những vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động của HT trường MN và
đưa ra một số biện pháp giúp họ nâng cao khả năng quản lý nhà trường. Các
biện pháp đó bao gồm cả các biện pháp đào tạo và bồi dưỡng. Đồng thời cũng
gợi ra một số nội dung trong NVQL của HT trường MN. Để công tác bồi
dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng trường mầm non trong giai đoạn
hiện nay đáp ứng được với yêu cầu phát triển, giáo dục nói chung và bậc
học mầm non nói riêng và phù hợp với thực tiễn của các nhà trường Đòi
hỏi phải đi sâu vào các biện pháp tăng cường hiệu quả bồi dưỡng kiến thức
kỹ năng NVQL cụ thể cho HT trường MN thì các công trình chưa đề cập
một cách hệ thống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ NHÀ TRƢỜNG
1.2.1. Quản lý và chức năng của quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người
trong cộng đồng, nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra khi nói đến
hoạt động quản lý người ta thường nhắc tới ý tưởng sâu sắc của Các Mác:
“Một nhạc sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc
trưởng” [9, 480]. Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý dưới các
góc độ khác nhau và đa dạng về cách tiếp cận, do đó có nhiều định nghĩa khác
nhau về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước.
Trong tác phẩm “những vấn đề cốt yếu của quản lý “tác giả Hrold
Kontz viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những
nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động trong
một tổ chức Vì vậy trong công việc phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành,
kiểm tra, mà người đứng đầu (thủ trưởng) biết phối hợp nỗ lực các thành viên
trong nhóm để đạt được những mục tiêu đề ra.
Từ những quan niệm về quản lý đã nêu trên ta có thể hiểu: Quản lý là
sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản
lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt
được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Ngày nay trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật.và sự biến động
không ngừng của nền kinh tế-xã hội, quản lý được xem là một trong năm
nhân tố phát triển kinh tế-xã hội (vốn-nguồn lực lao động-khoa học kỹ thuật-
tài nguyên và quản lý) trong đó quản lý đóng vai trò cho sự thành công hay
thất bại của công việc.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
1.2.1.2. Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là nội dung cơ bản mà chủ thể quản lý phải thực
hiện trong quá trình hoạt động quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Chức năng quản lý là dạng hoạt
động quản lý thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý
nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [37, 58]. Như vậy khái niệm chức
năng quản lý gắn liền với sự xuất hiên và sự tiến bộ của phân công hợp tác lao
động trong một quá trình sản xuất của một tập thể người lao động. Quá trình
tạo ra một sản phẩm phải trải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn người lao
động phải thực hiện một nhiệm vụ hay một chức năng nhất định. Từ chức
năng đó của khách thể quản lý (người lao động) làm xuất hiện một cách khách
quan dạng hoạt động quản lý chuyên biệt nhất định tương ứng của chủ thể
quản lý gọi là chức năng quản lý.
Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau.
tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt
động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết từ đó có những quyết định điều chỉnh
cho phù hợp với những chi phí bỏ ra. Thực chất công việc kiểm tra là gắn với
sự đánh giá, tổng kết kinh nghiệm và điều chỉnh mục tiêu.
Tổng hợp tất cả các chức năng quản lý chính là cơ sở để phân công lao
động quản lý giữa những cán bộ quản lý và cũng là nền tảng để hình thành
cấu trúc của sự quản lý. Điều đáng chú ý trong quá trình quản lý là nhà quản
lý phải thực hiện một dãy các chức năng kế tiếp nhau một cách lô gic, bắt đầu
từ việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý cho đến khi kiểm tra kết quả
đạt được và tổng kết quá trình quản lý. Mỗi quá trình quản lý xảy ra trong thời
gian cụ thể, nhất định. Trong một chu trình quản lý các chức năng kế tiếp
nhau và độc lập với nhau chỉ là tương đối bởi vì một số chức năng diễn ra
đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện chức năng khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Ngoài 4 chức năng trên trong một chu trình quản lý chủ thể quản lý phải
sử dụng thông tin như là một công cụ để thực hiện các chức năng.
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là hoạt
động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đầy sự
phái triển xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được
tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống thống nhất. Điều này dẫn đến
một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong
giáo dục, đó là hoạt động quản lý giáo dục. Quản lý giáo dục được xem như là
một hoạt động chuyên biệt để quản lý các cơ sở giáo dục.
* Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
Theo P.V Khuđôminxki: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong các cơ sở giáo dục.
- Duy trì, điều chỉnh sự vận hành của hệ thống giáo dục hướng đến các
mục tiêu giáo dục đã xác định.
- Quản lý giáo dục với mục tiêu là đào tạo, rèn luyện nhân cách của thế
hệ trẻ người công dân mẫu mực, phải bám sát mục tiêu, nguyên lý, phương
châm giáo dục của Đảng.
Từ những khái niệm QLGD được nêu trên ta có thể hiểu rằng: QLGD là
quản lý quá trình GD-ĐT ở một cơ sở giáo dục nhất định. Đó là quản lý nhà
trường hay quản lý một hệ thống các cơ sở GD-ĐT ở một đơn vị hành chính-
hệ thống giáo dục theo lãnh thổ. Theo nghĩa đó, quản lý giáo dục là những tác
động khoa học, có hệ thống, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý và việc sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành,
đảm bảo được các tính chất và nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam, đạt
được mục tiêu giáo dục.
* Quản lý nhà trường
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - xã
hội, là nơi trực tiếp làm công tác GD-ĐT và giáo dục thế hệ trẻ. Nó nằm trong
môi trường xã hội và có tác động qua lại với môi trường đó. Theo Nguyễn
Ngọc Quang “Trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp
quản lý giáo dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó quản lý
nhà trường nhất thiết phải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội (Nhà nước
và xã hội cộng đồng và hợp tác trong việc quản lý nhà trường)” [ 37, 33].
Các nhà trường hoạt động theo Luật Giáo đục và Điều lệ nhà trường do
Bộ trưởng Bộ giáo dục ban hành.
Điều lệ một nhà trường bao gồm những nội dung, chủ yếu sau:
- Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường.
cầu của từng vùng miền, đối tượng của nó là các cơ sở giáo dục mầm non,
trong đó có đội ngũ nhà giáo. Cũng như các ngành học khác trong hệ thống
giáo dục quốc dân, GDMN cũng có mạng lưới quản lý từ cấp Bộ xuống các
trường, lớp mầm non. GDMN cũng thể hiện rõ các nội dung cần quản lý:
- Vị trí, mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục mầm non
+ Vị trí của giáo dục mầm non
Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục MN là bậc học
đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Hiện nay
GDMN có hệ thống Nhà trẻ, trường Mẫu giáo, trường MN trên quy mô toàn
quốc. Giáo dục MN là sự thể hiện sinh động nguyên tắc: Nhà nước, xã hội và
nhân dân cùng làm. Cho tới nay, GDMN đã tồn tại với đủ các loại quy mô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
trường, lớp, nhóm với các loại hình công lập, bán công, dân lập và tư thục.
Với cách làm sáng tạo, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội và thế mạnh của
từng vùng, miền, được sự quan tâm của Đảng và chính quyền các cấp,
GDMN đã thực sự tạo được niềm tin trong nhân dân và đóng góp không nhỏ
vào sự nghiệp giáo dục chung. Vì thế, vị trí của GDMN ngày càng được
khẳng định trong sự nghiệp GD- ĐT con người.
+ Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất,nhận
thức,ngôn ngữ, tình cảm- xã hội, trí tuệ và thẩm mĩ, hình thành những yếu tố
đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một.
+ Nhiệm vụ của GDMN
Thực hiện nội dung giáo dục toàn diện và ngày càng nâng cao chất
lượng giáo dục trẻ theo mục tiêu, kế hoạch giáo dục.
Tuyên truyền và hướng dẫn công tác nuôi dạy trẻ theo khoa học cho các
bậc cha mẹ; ủng hộ những tập quán tốt, bài trừ những tập quán phản khoa học
trong việc CS, GD trẻ ở các gia đình và cộng đồng, góp phần cùng các lực
lượng xã hội khác quan tâm thích đáng đến những trẻ em thiệt thòi.
riêng biệt khác hẳn với các ngành học, bậc học khác. Thực tế các trường MN
cho thấy việc quản lý một tập thể toàn nữ rất khó khăn, phức tạp. Bởi vì phụ
nữ có những điểm khác biệt với nam giới. Phụ nữ thường cẩn thận, tỉ mỉ,
thích nhẹ nhàng tình cảm, dễ xúc động nhưng cũng hay đố kỵ, tự ti Do đó,
còn có những mặt hạn chế. Nhất định, Điều đó đòi hỏi người CBQL phải hết
sức khéo léo, tế nhị, am hiểu tâm lý phụ nữ nhưng phải quyết đoán để có
những quyết định đúng đắn, kịp thời nhằm phát huy những mặt mạnh và hạn
chế những mặt yếu còn tồn tại trong tập thể nữ.
- Quản lý giáo dục mầm non
Quản lý giáo dục MN là một bộ phận của quản lý giáo dục quốc dân.
Quản lý GDMN các cấp đều nhằm mục đích tạo ra những điều kiện thuận lợi
cho các cơ sở giáo dục thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục. Như vậy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
quản lý GDMN được hiểu như sau: Quản lý GDMN là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch của các cấp quản lý đến các cơ sở GDMN
nhằm tạo ra những điều kiện tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục.
Nhà trường là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục được thành lập theo quy
hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, được tổ
chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục. Trường MN là
đơn vị cơ sở của bậc học MN và cũng được tổ chức theo các loại hình như các
bậc học khác. Thực chất, quản lý GDMN là quản lý hệ thống nhà trường MN,
quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ em trong các trường MN.
* Quản lý nhà trường mầm non
Theo quyết định số 55 của bộ Giáo dục và Đào tạo- quy định mục tiêu,
kế hoạch đào tạo của nhà trẻ - trường mẫu giáo (7), Điều lệ trường MN (ban
hành kèm theo quyết định số 14/2008/QĐ-Bộ GD & ĐT ngày 07 tháng 4 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT) (44) đã quy định:
- Vị trí của trường mầm non
theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn.
+ Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt
động nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
+ Tổ chức cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các
hoạt động xã hội trong cộng đồng.
+ Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ
em theo đúng quy định.
+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
- Tính chất của trường mầm non
+ Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhằm hình thành, phát triển
nhân cách trẻ em một cách toàn diện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
+ CS, GD trẻ em mang tính chất giáo dục gia đình, giữa cô và trẻ là
quan hệ tình cảm mẹ - con, trẻ thông qua chơi mà học, học bằng chơi.
+ Tổ chức nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính chất tự nguyện; Nhà
nước và nhân dân cùng chăm lo.
Quản lý trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên để chính họ tác
động trực tiếp đến quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu
giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học.
Từ khái niệm nêu trên cho thấy nội dung của công tác quản lý trường
MN là quản lý quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ. Nội dung đó bao gồm:
- Quản lý mục tiêu, nhiệm vụ CS, GD trẻ.
- Quản lý nội dung CS, GD trẻ.
- Quản lý phương pháp, phương tiện CS, GD trẻ.
- Quản lý giáo viên (lực lượng giáo dục).
- Quản lý trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi (đối tượng giáo dục).
- Quản lý kết quả CS, GD trẻ.