Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man 1897) phân bố rộng ở
các vùng nước ngọt và lợ trên thế giới và tập trung ở khu hệ Ấn Độ Dương
và Tây Nam Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố chủ
yếu ở các tỉnh nam bộ, đặc biệt là vùng nước ngọt Đồng Bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL).
Đây là loài tôm có kích thước lớn nhất trong các loài tôm vùng nước ngọt,
thịt thơm ngon không có nhiều cholesterol, nên được ưa chuộng trong nước
cũng như trên thế giới. Nhiều nước nuôi tôm càng xanh mang lại kinh tế cao
như: Đài Loan, Pháp, Mỹ Đặc biệt là Isarel.
Ở nước ta, đặc biệt là vùng nước ngọt ĐBSCL hội đủ các điều kiện cho
nghề nuôi tôm thương phẩm. Điều kiện thời tiết rất thuận lợi cùng với diện
tích mặt nước có thể tận dụng để nuôi tôm càng xanh đã tạo cho vùng này
một phong trào nuôi tôm càng xanh rầm rộ trong những năm gần đây. Các
mô hình người dân thường áp dụng là: Ao, mương vườn, đăng quầng, nuôi
kết hợp với ruộng lúa đa số người dân sử dụng giống thu gom từ tự nhiên,
một số ít sử dụng giống nhân tạo. Tuy nhiên, giống tự nhiên ngày càng cạn
kiệt và thói quen sử dụng con giống tự nhiên không còn phù hợp nữa. Do
đó, phong trào sản xuất giống tôm nhân tạo phát triển mạnh trong những
năm gần đây nhằm để đáp ứng nhu cầu con giống cho người nuôi.
Chính vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống với nhiều
quy trình khác nhau trong đó có quy trình nước xanh cải tiến. Bên cạnh đó,
cũng có nhiều công trình nghiên cứu ương ấu trùng tôm càng xanh ở các độ
mặn khác nhau nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng.
Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể nào để đánh giá tốc độ tăng
trưởng, tỷ lệ sống cũng như năng suất tôm nuôi từ nguồn tôm giống được
sản xuất ở các độ mặn khác nhau khi được đem ra nuôi ở môi trường nước
ngọt. Trên cơ sở đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu ương tôm càng
xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man 1897) từ nguồn tôm giống sản
Sau 4 năm nghiên cứu (1962- 1966) Ling đã cho ra đời tác phẩm “ Sinh lý
và phương pháp nuôi tôm nước ngọt”. Kết quả này đã góp phần vào việc
phát triển nghề nuôi tôm càng xanh. Trong thực tiễn tác giả đã sử dụng nước
xanh, thức ăn tổng hợp và artemia đã sản xuất được 4-6 triệu tôm giống
Fujimura (1965) chuyển tôm bố mẹ từ Malaysia sang Hawai đễ sản xuất
giống đại trà thành công. Đây là mốc thành công quan trọng thứ hai.
Tiếp theo đó năm 1972, công trình sản xuất Postlarvae với số lượng lớn của
Fujimura và Okamoto đã được những thành tựu đáng kể ở Hawai.
Năm 1977, Aquacop theo dõi sự biến động hoá học của nước trong quá trình
ương tăng sản của tôm càng xanh phải giữ nguồn nước trong sạch không
cho các khí độc sinh ra từ sự dư thừa thức ăn như đạm dạng nitrite và
amonia, khống chế chất lượng nước là vấn đề quan trọng hàng đầu trong quá
trình ương.
Năm 1978, Trung tâm nghiên cứu nghề cá nước lợ Tepera (Indonesia) đã
tiến hành sản xuất hàng loạt tôm bột với việc dùng thức ăn tự pha chế (bột
cá + sữa + trứng vịt + nước + bột mì) có bổ sung Artemia, kết quả tỷ lệ
sống đạt 63,4%.
Qui trình nước trong hở được Ling nghiên cứu và đề xuất vào năm 1966,
sau đó được hoàn thiện bởi Aquacop (1984). Đặc điểm chính của qui trình
3
này là nước trong bể ương được thay hàng ngày bằng nước sạch và có thể
ương với mật độ cao.
Qui trình nước trong kín hay còn gọi là qui trình nước trong tuần hoàn được
Sandifer nghiên cứu qui trình này từ năm 1976 và được Aquacop hoàn thiện
vào năm 1984 . Đặc điểm quan trọng của qui trình này là nước từ hệ thống
bể ương được đưa đến bể lọc sinh học nhờ hệ vi khuẩn chuyển hoá ammonia
(N-NH
3
) và nitrite (N-NO
2
Ở Thái Lan nuôi thâm canh trong ao đạt năng suất từ 6-8 tấn/ha/vụ. Tất cả
các nước trên thế giới đều sử dụng nguồn tôm nhân tạo để nuôi nhất là thả
4
trực tiếp tôm bột từ 15-20 ngày tuổi hay tôm ương lên giống nhỏ và tôm bột
nuôi được ương ở độ mặn 9-12‰.
2.1.2. Ở Việt Nam
Trước 1975 hầu hết các tác giả nghiên cứu về tôm càng xanh chỉ dừng lại ở
việc thu thập số liệu, tổng kết các thông tin từ tài liệu của nước ngoài và
kinh nghiệm của nông dân nhằm mục đích phục vụ cho khai thác.
Năm 1975, FAO đã đầu tư xây dựng trại tôm càng xanh đầu tiên tại Vũng
Tàu. Tuy nhiên, sau ngày giải phóng trại trong tình trạng xây dựng chưa
hoàn chỉnh và chưa hoạt động. Đến năm 1987, thông qua Uỷ ban quốc tế
sông Mekông, chính phủ Úc đã tài trợ khôi phục, hoàn thiện và đưa vào hoạt
động trại tôm Vũng Tàu.
Các cơ quan viện trường như: Viên nghiên cứu nưôi trồng Thuỷ sản II,
trường Đại Học Cần Thơ từ những năm 1980 đã có nhiều nghiên cứu và ứng
dụng các qui trình nước trong kín, nước trong hở và nước xanh trong sản
xuất giống tôm càng xanh và đạt được những kết quả quan trọng (Thắng,
1993). Từ năm 1998 đến nay, khoa thuỷ sản trường Đại Học Cần Thơ đã
tiến hành và ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh theo hướng mới với mô hình
nước xanh cải tiến và đạt được những thành công quan trọng, đã nâng cao tỷ
lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh theo mô hình nước xanh cải tiến có thể
pha nước ương ở nồng độ muối từ 6‰-12‰ (Đặng Hữu Tâm, 2003). Cũng
theo Đặng Hữu Tâm tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh không ổn định
và dao động rất lớn, ở nghiệm thức nồng độ muối 3‰ cho tỷ lệ sống thấp
nhất 31% và tỷ lệ sống cao nhất ở nồng độ muối 9‰ là 56%. Khi so sánh
thống kê về tỷ lệ sống giữa các lô thí nghiệm không có sự khác biệt có ý
nghĩa (P>0,05). Với kết quả này cho thấy nồng độ muối thấp hơn 12‰ (6‰
và 9‰) ấu trùng tôm càng xanh vẩn phát triển tốt và cho tỷ lệ sống cao
tương đương so với nồng độ muối 12‰. Tuy nhiên, kết quả xử lý thống kê
Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong các loài tôm nước ngọt, cơ
thể gồm hai phần:
Phần đầu ngực phía trước được bao dưới tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực.
Phần bụng phía sau gồm có 6 đốt có thể cử động và 1 đốt đuôi, tấm vỏ phía
trước xếp chồng lên tấm vỏ phía sau. Tuy nhiên tấm vỏ hai phủ vòng 1 và 3.
Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và hẹp 2 bên.
6
Tôm nhỏ, cơ thể màu trong sáng, trên giáp đầu ngực có những sọc xanh đen
2 bên, tôm trưởng thành có những vạch màu xanh hơi sậm ngang lưng xen
kẻ với màu trắng trong cơ thể. Tôm có chủy dài vượt vảy râu, uống cong từ
đoạn giữa chủy, gốc chủy ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào chủy có 11
-16 răng trên chủy, 10-15 răng dưới chủy.
Có 2 đôi chân ngực đầu tiên của tôm chuyển hoá thành càng, đôi càng thứ 2
to và dài dùng để bắt mồi và tự vệ. Khi còn nhỏ, đôi càng có màu vàng cam,
chưa có gai hay có gai rất mịn trên càng, chưa có hay có rất ít lông tơ khi
tôm lớn, đôi càng có màu xanh đậm, xuất hiện nhiều lông tơ và gai nhọn
trên càng.
2.2.2. Phân bố
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) phân bố rộng ở các nhiệt đới
và á nhiệt đới, tập trung nhiều ở khu hệ Ấn Độ và Tây Nam Thái Bình
Dương.Tôm phân bố hầu hết ở các thuỷ vực nước ngọt trong nội địa như:
Sông, hồ, ruộng, đầm hay cả các vùng nước lợ khu vực cửa sông.
Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bố chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ đặc biệt là
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Ở các thuỷ vực độ mặn 18‰ đôi khi cả
25‰ vẫn thấy xuất hiện.
2.2.3. Chu kỳ sống
Hình 2: Vòng đời của tôm cáng xanh
Vòng đời của tôm càng xanh có bốn giai đoạn (Trứng, ấu trùng, hậu ấu
trùng và tôm trưởng thành). Tôm trưởng thành sống chủ yếu ở nước ngọt
khi thành thục, tôm bắt cặp, đẻ trứng và trứng dính vào chân bụng của tôm
thiếu hụt lâu dài vitamine sẻ dẩn đến sự xuất hiện các triệu chứng bệnh lý,
hàm lượng vitamine ở giai đoạn giống 100-500mg/kg thức ăn. Nhu cầu về
khoáng cho giáp xác dao động trong khoảng 2-19,5% tính theo trọng lượng
thô.
2.2.5. Đặc điểm sinh trưởng
Sự tăng trưởng của tôm tuỳ thuộc vào giai đoạn, giới tính, điều kiện ương
nuôi như: Môi trường, mật độ, dinh dưỡng
8
Quá trình lột xác của tôm được chia làm các giai đoạn : Giai đoạn tiền lột
xác; Giai đoạn lột xác; Giai đoạn hậu lột xác; Giai đoạn giửa chu kỳ lột xác.
Tôm nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tôm lớn, tôm đực lớn nhanh hơn
tôm cái, tôm được bổ sung thức ăn động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành
thục hơn so với tôm ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn, trong điều nuôi có
thể đạt 35-40g sau 6 tháng nuôi và 70-100g sau 8 tháng nuôi.
2.2.6. Đặc điểm sinh sản
Phân biệt tôm đực và tôm cái
Tôm đực: Có kích cỡ lớn hơn tôm cái cùng tuổi. Đầu ngực tôm đực to hơn
và có khoang bụng hẹp hơn tôm cái, đôi càng thứ hai to, dài và thô. Ngoài
ra, lỗ sinh dục con đực ở gốc chân ngực 5, nhánh phụ đực mọc kế nhánh
trong của chân bụng 2.
Tôm cái: Có lỗ sinh dục ở gốc chân bụng 3, trên các chân bụng có nhiều
lông tơ.
Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng
Tôm sinh sản hầu như quanh năm tuỳ từng nơi, tôm cái thành thục lần đầu
khoảng 3-3,5 tháng kể từ post
10-15
, kích cỡ tôm nhỏ nhất đạt thành thục 10-
13cm và 7,5g, tuy nhiên tuổi và kích cỡ thành thục còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như môi trường và thức ăn.
Khi buồng trứng đạt giai đoạn IV, tôm cái lột xác tiền giao vĩ, sau 1-22 giờ,
0
C): 26-31
0
C, tốt nhất 28-30
0
C
pH: 7-8,5
Độ măn (‰): Giai đoạn ấu trùng 6-18‰, tốt nhất 10-12‰. Tôm trưởng thành từ
0 - 25‰, tốt nhất dưới 10‰
Oxy hoa tan (mg/l) : Lớn hơn 3 mg/l
Đạm : Amonia <0,1mg/l, Nitrite <0,1mg/l, Nitrate <20mg/l
Photphate : <0,1mg/l
H
2
S : <0,003mg/l
Độ cứng : Thích hợp trong khoảng 50-150 mgCaCo
3
/l
2.2.8 Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống
Theo Đỗ Thị Thanh Hương và ctv (2004) thì ở độ mặn 6‰, 9‰, 12‰, tỷ lệ
sống của ấu trùng tôm càng xanh lần là 64,3%, 57,4%, 69,2% khác biệt không
có ý nghĩa thống kê nhưng ở độ mặn 3‰ tỷ lệ sống của ấu trùng rất thấp 27,6%.
Theo D.Ismael và G.S.Moreira (1997) nghiên cứu ành hưởng của nhiệt độ và độ
mặn lên tỷ lệ sống cùa ấu trùng tôm Macrobrachium acanthurus (0, 7, 14, 21, 28
và 35‰ ờ các mức nhiệt độ 15, 20, 25, 30°C), cho thấy trong môi trường nước
ngọt với tất cả các mức nhiệt độ ấu trùng đều chết. Tỷ lệ sống cao nhất khi nhiệt
độ từ 25-30°C ứng với độ mặn từ 14-21‰.
10
Theo Đặng Hữu Tâm tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh không ổn định
và dao động rất lớn, ở nghiệm thức nồng độ muối 3‰ cho tỷ lệ sống thấp
và 2m
3
, bể nhựa (70 lít), máy thổi
khí, máy bơm nước, máy phát điện, sàng cho tôm ăn, keo ấp Artemia, ca nhựa,
giá thể và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ cho công tác nghiên cứu.
Đối tượng thí nghiệm: Tôm càng xanh.
Tôm bố mẹ
Nguồn tôm bố mẹ có mang trứng sẳn được mua ở các điểm thu mua tôm tự
nhiên ở Cần Thơ, chọn tôm khỏe không bệnh tật (chấm đen, đốm đỏ, ký sinh
trùng, đóng rong …) và màu sắc tươi sáng.
Nước bố trí thí nghiệm
Nước ngọt sử dụng nước máy thành phố Cần Thơ.
Nước mặn nước ót có độ mặn 80-100‰.
Nước tảo từ cá rô phi,10‰ (cho thí nghiệm 1), 0‰ (cho thí nghiệm 2).
Cách nuôi tảo từ việc nuôi cá rô phi
Chuẩn bị bể nuôi bằng composite 1-2m
3
đặt dưới mái che nhựa trong suốt.
Cấp nước vào với mực nước ban đầu khoảng 0,4m. Độ mặn dao động trong
khoảng 0-10‰, sục khí liên tục.
Cá rô phi lớn (50-100g/con) được thả vào bể với mật độ 10con/m
3
.
Cho cá ăn bằng thức ăn viên với tỷ lệ 5-10% trọng lượng cá mỗi ngày.
Sau thời gian nuôi khoảng 1 tuần nước sẽ có màu xanh vàng thì lọc nước sang
bể mới thông qua túi vải lọc dày (5µm). Các chất vẫn, cặn bã hay tảo lớn sẽ bị
giữ lại trên túi vải, nước và tảo đơn bào (chủ yếu là Chlorella) sẽ được đi qua túi
lọc, nước sẽ có màu xanh.
Chuyển cá sang bể mới, cấp thêm nước và nâng độ mặn lên tương ứng là 0,5-
0,6m và 10-12‰ (cho thí nghiệm 1) và hạ độ mặn xuống 0‰ (cho thí nghiệm
Thí nghiệm được trình bày (Bảng1).
13
Bảng 1. Mật độ tôm thả ở các nghiệm thức
Nghiệm thức Mật độ tôm (ấu trùng/l)
NTI (6‰)
NTII (9‰)
NTIII (12‰)
60
60
60
Hình 3. Hệ thống thí nghiệm (A-NTI; B-NTII; C-NTIII)
Bể ương: Bể nhựa 70 lít, tổng số 9 bể.
Nguồn nước: Nước lợ 6‰, 9‰, 12‰ được pha từ nước ót có độ mặn 80 –
100‰ và nước ngọt.
Nguồn ấu trùng: Từ tôm mẹ tự nhiên.
Mật độ ương: 60 ấu trùng /lít.
Qui trình ương: Nước xanh cải tiến.
Tảo: Chlorella bổ sung để duy trì màu nước xanh.
Chăm sóc và quản lý
Cách cho ăn: Ngày đầu không cho ăn. Giai đoạn 1, 2, 3 cho ăn Artemia bung
dù, cho ăn 2 lần/ngày (sáng 8 giờ, chiều 16 giờ). Đến giai đoạn 4 thì cho ăn
Artemia nở và thức ăn chế biến, cho ăn 4 lần/ngày (8 giờ, 10 giờ, 14 giờ, 16
giờ).
Bổ sung tảo Chlorella để duy trì màu nước. Không thay nước và siphon trong
suốt quá trình ương. Khi cho ăn thức ăn chế biến phải tắt sục khí trước khi cho
ăn.
14
A
B
C
ngày 3-4‰. Chia làm 2 lần hạ trong ngày, sáng 2‰, chiều 2‰.
Khi nước đạt 0‰ thì tiến hành thu post bằng cách rút cạn nước và đếm số lượng
post
Tỉ lệ sống = X 100
Trong đó: SL: số lượng; SLAT: số lượng ấu trùng.
3.2.2.2. Thí nghiệm 2: Nuôi tôm trong bể composite từ nguồn tôm giống
ương ở các độ mặn khác nhau
Hình 4. Bố trí thực nghiệm ngoài trời
Nơi thực hiện thí nghiệm: Trại thực nghiệm Khoa Thủy sản trường Đại học Cần
Thơ.
Các nghiệm thức thí nghiệm nuôi tôm trong bể hoàn toàn bằng nguồn nước
ngọt, nguồn tôm bột được lấy từ ấu trùng ương ở các độ mặn khác nhau (6‰,
15
SL post thu+SLAT còn lại
Tổng số ấu trùng ban đầu
9‰, 12‰) bằng qui trình nước xanh cải tiến cỡ post 15, trọng lượng trung bình
(0,1g – 0,15g), chiều dài trung bình (1,2 mm – 1,5 mm). Các nghiệm thức được
bố trí với 3 lần lặp lại .
NTI: Nghiệm thức sử dụng tôm post đưọc sản xuất từ môi trường ương với
nồng độ muối (6‰).
NTII: Nghiệm thức sử dụng tôm post được sản xuất từ môi trường ương
nồng độ muối (9‰).
NTIII: Nghiệm thức sử dụng tôm post đưọc sản xuất từ môi trường ương
nồng độ muối (12‰).
Bể nuôi: gốm 9 bể có thể tích 2 m
3/
bể . Chiều sâu mực nước 0,8m.
Mật độ thả nuôi: 250 con/bể, sử dụng giá thể lục bình, dây nylon và có sục khí
liên tục.
Thời gian nuôi: 3 tháng.
1tuần/ lần
1tuần/lần
1tuần/lần
1tuần/lần
Nhiệt kế
Đo bằng máy
Test (Germany)
Test (Germany)
Test (Germany)
Test (Germany)
Test (Germany)
Vệ sinh sàng ăn mỗi ngày, định kỳ siphon 1 tuần/lần và vệ sinh giá thể 3
ngày/lần.
Theo dõi tôm nuôi
Đo chiều dài và cân khối lượng tôm bột ương trên bể 2 tuần/lần, mẫu được đo
bằng giấy kẻ ôli và cân bằng cân 2 số lẻ Satorius. Mẫu được thu ngẫu nhiên 20
con/bể.
16
Tính tốc độ tăng trưởng :
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Daily weight gain-DWG)
DWG = (Wc-Wđ)/t
Trong đó:
Wc: trọng lượng cuối (g)
Wđ: trọng lượng đầu (g)
t: thời gian nuôi (ngày)
Tỷ lệ sống của tôm nuôi khi kết thúc thí nghiệm.
Tỷ lệ sống = x 100
Xác định tỉ lệ phân đàn sau khi thu mẫu 90 ngày dựa vào chiều dài (mm) và
trọng lượng (g) của tôm.
NO
2
-
(mg/L)
Sáng Chiều Sáng Chiều
NTI
27,11±1,1
1
28,21±1,1
1
8,31±0,0
9
8,49±0,07 1,08±0,55
0,30±0,1
6
NTII
27,17±1,1
8
28,28±1,10
8,36±0,0
8
8,53±0,06 1,07±0,66 0,37±0,23
NTIII 27,08±1,14 28,17±1,15
8,36±0,0
9
8,52±0,06 1,01±0,59 0,23±0,07
Nhiệt độ (°C)
Biến động nhiệt độ không có sự khác biệt lớn giữa các nghiệm thức, nhiệt độ
sáng (27,08 -27,17°C) và nhiệt độ chiều (28,17-28,28°C). Sự biến động giữa
nhiệt độ sáng và chiều không quá 1°C (Bảng 4). Trung bình nhiệt độ của NTII
cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến quá trình thẩm thấu của màng tế bào, làm
cho quá trình trao đổi muối giữa cơ thể sinh vật với môi trường nước (Trương
Quốc Phú, 2006). Theo Singholka, 1985 trích bởi Trương Quang Trí,1990 nếu
pH nhỏ hơn 5 thì ấu trùng hoạt động yếu, nổi đầu hay trôi dạt vào thành bể và có
thể chết trong 6 giờ sau đó nếu không xử lý kịp thời. pH thích hợp cho phát triển
của ấu trùng là 7-9, tối ưu 7,5-8,5 (Whetstone et al, 2002) và Boyd (2002). Theo
Boyd (1995) pH thích hợp cho phát triển từ 7,5-8,5. Nhìn chung, pH trong quá
trình thí nghiệm đều trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng.
Hàm lượng NH
4
+
(mg/L)
19
Qua kết quả cho thấy hàm lượng NH
4
+
không có sự khác biệt giữa các nghiệm
thức (P>0,05), NTI (1,08±0,55 mg/L), NTII (1,07±0,66 mg/L) và NTIII
(1,01±0,59 mg/L) (Bảng 4).
Hình 7. Biến động NH
4
+
theo thời gian (mg/L)
Hàm lượng NH
4
+
thấp trong 6 ngày đầu sau đó có xu hướng tăng dần ở các
nghiệm thức cho đến cuối thí nghiệm (Hình 7), NH
4
+
(mg/L)
Qua kết quả thống kê cho thấy hàm lượng NO
2
-
không có sự khác biệt giữa các
nghiệm thức (P>0,05), NTI (0,30±0,16 mg/L), NTII (0,37±0,23 mg/L) và NTIII
(0,23±0,07 mg/L) (Bảng 4).
20
Hình 8. Biến động NO
2
-
theo thời gian (mg/L)
Hàm lượng NO
2
-
thấp trong 3 ngày đầu sau đó có xu hướng tăng dần ở các
nghiệm thức, đặc biệt là nghiệm thức NTII cho đến ngày thứ 21 do thức ăn dư
thừa trong bể và ở NTII có hiện tượng tảo tàn do bị nhiễm luân trùng và
Protozoa, vì vậy NO
2
-
ở NTII cao hơn 2 nghiệm thức còn lại. Mặc dù NO
2
-
tăng
nhưng cũng thấp hơn so với một số tác giả đã nghiên cứu trước đó. Khi so sánh
một số tác giả trước đây đã áp dụng qui trình nước xanh cải tiến như theo
Nguyễn Ngọc Hiền (2001) hàm lượng NO
2
-
tiến NO
2
-
có thể đạt tới 4-5 mg/L chưa thể hiện sự bất lợi đến quá trình sinh
trưởng của ấu trùng tôm. Vì vậy, cho thấy hàm lượng NO
2
-
trong suốt quá trình
thí nghiệm nằm trong khoảng giới hạn thích hợp.
4.1.2. Quá trình phát triển của ấu trùng
Trong sản xuất giống tôm càng xanh, hiện tượng phân đàn rất lớn do nhiều yếu
tố tác động như: Nồng độ muối, dinh dưỡng, môi trường, nguồn gốc tôm bố mẹ.
Ấu trùng nở ra không đồng loạt, có khoảng thời gian nhất định, nhưng sau khi
21
nở ra tất cả đều ở giai đoạn 1, từ đây tốc độ phát triển hoàn toàn khác nhau đối
với từng cá thể.
Bảng 5. Chỉ số giai đoạn trung bình LSI (Larvae Stage Index) qua các ngày
thí nghiệm
Ngày tuổi NTI NTII NTIII
4 2,6±0,15
a
2,7±0,15
a
2,8±0,10
a
8 5,2±0,15
a
5,3±0,06
a
5,2±0,10
b
Các giá trị của mỗi chỉ số trong cùng một hàng có chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê
(P<0,05)
Qua (Bảng 5) cho thấy chỉ số phát triển giai đoạn của ấu trùng giữa các nghiệm
thức của thí nghiêm 1 khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05). Tuy nhiên ở ngày
thứ 24 NTII khác biệt có ý (P<0,05) so với NTI và NTIII. Đến ngày thứ 28
NTIII khác biệt có ý (P<0,05) so với NTI và NTII. Điều này cho thấy rằng càng
về sau thì sự ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển của ấu trùng tôm càng rõ
ràng. Ngày thứ 28 ấu trùng ở NTIII phát triển nhanh hơn so với NTI và NTII.
Qua kết quả bảng 5 cho thấy sau 4 ngày ương ấu trùng tôm càng xanh trong thí
nghiệm chủ yếu ở giai đoạn III, (LSI dao động từ 2,6-2,8), ở NTII và NTIII
nhóm ấu trùng ở giai đoạn I chiếm tỷ lệ thấp khoảng 3%. Theo Hồ Văn Việt
(2001) trong ương tôm theo qui trình nước xanh cái tiến thì 5 giai đoạn đầu mỗi
ngày ấu trùng chuyển thành một giai đoạn. Theo Đặng Hữu Tâm (2003) ương
tôm càng trong môi trường nồng độ muối khác nhau thì sau 4 ngày ương ấu
trùng phân thành 2 nhóm, ấu trùng ở giai đoạn I và giai đoạn II, không có ấu
trùng ở giai đoạn III. Vì vậy, cho thấy ấu trùng trong thí nghiệm này chuyển giai
đoạn khá sớm.
Từ ngày thứ 8 ấu trùng ở các nghiệm chỉ phân thành 2 nhóm là giai đoạn V và
VI. Nhưng chủ yếu là giai đoạn V, NTIII và NTI có tốc độ phát triển chậm hơn
NTII (LSI dao động từ 5,2-5,3). Sự biến thái của ấu trùng ngày thứ 12 cũng
không có sự khác biệt, ấu trùng của cả 3 nghiệm thức đều đạt giai đoạn VI
(bảng 5). Theo kết quả Hồ Văn Việt (2001) sau 7 ngày ương ấu trùng 100% đã ở
giai đoạn V .Theo Đặng Hữu Tâm (2003) sau 8 ngày ương ấu trùng phân thành
4 nhóm, ấu trùng ở giai đoạn V là 78%, giai đoạn VI là 37% và sau 12 ngày
ương giai đoạn VI của nghiệm thức 12‰ chiếm tỷ lệ là 75% . Nhìn chung ở thí
22
nghiệm này sau 8 ngày ương thì tốc phát triển của ấu trùng tôm tương đối phù
hợp và ít phân nhóm hơn so với tác giả trên.
Sau 16 ngày ương ấu trùng phân thành 3 nhóm cho cả 3 nghiệm thức, nhưng chủ
giai đoạn Post của NTII chiếm tỷ lệ cao nhất (63%), ấu trùng ờ giai đoạn Post
của NTI (60%) và NTIII (60%). Mặc dù sau 28 ngày ương ấu trùng chuyển qua
giai đoạn Post chiếm tỷ lệ khá cao (60-63%), tuy nhiên thí nghiệm này chậm
hơn so với các kết quả trước nguyên nhân do ảnh hưởng nhiệt độ thấp. Theo Lê
23
Thị Cẩm Oanh (2000) thì sau 19 ngày ương bắt đầu xuất hiện giai đoạn Post.
Sức khỏe ấu trùng đảm bảo tốt, duy trì nhiệt độ thích hợp thì ngày xuất hiện giai
đoạn Post đầu tiên là 16-18 ngày (New, 1982). Chỉ số LSI ngày thứ 28 ở nghiệm
thức lần lượt là NTIII (11,7±0,10), NTII (11,6±0,25), NTI (11,6±0,21). Ấu trùng
đã chuyển sang Post 100% ở NTIII vào ngày thứ 29 và ở NTII và ngày thứ 30,
sang ngày thứ 31 ở TNI có khoảng 90% ấu trùng chuyển sang Post còn lại 10%
ấu trùng ở giai đoạn XI. Như vậy tỷ lệ chuyển Post ở NTIII sớm hơn so vơi NTI
và NTII.
4.1.3. Tỷ lệ sống ấu trùng
Tỷ lệ sống trung bình giữa các nghiệm thức NTI (32,7%), NTII (37,1%) và
NTIII (48,9%) (Bảng 6 ) và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Bảng 6. Tỷ lệ sống ấu trùng
NT NTI NTII NTIII
TLS TB (%) 32,7±7,22
a
37,1±6,23
ab
48,9±10,05
b
Nhìn chung, tỷ lệ sống của ấu trùng tôm càng xanh không ổn định và dao động
rất lớn, ở NTI tỷ lệ sống thấp nhất (32,7%) và tỷ lệ sống cao nhất là ở NTIII
(48,9%). Tỷ lệ sống có xu hướng tăng dần khi độ muối càng cao. Theo Đặng
Hữu Tâm thì tỷ lệ sống cao nhất là 40% (12‰) và thấp nhất là 29% (6‰). Kết
quả này phù hợp với báo cáo của Đặng Hữu Tâm (2003) và với các nghiên cứu
trước đây (ương ở độ muối 12‰).
Chiều 28,0±0,50 28,6±0,05 28,6±0,05
6
Sáng 25,0±0,50 25,3±0,50 25,3±0,57
Chiều 28,0±0,50 28,7±0,57 28,9±0,34
7
Sáng 23,0±0,50 24,0±0,34 24,0±0,12
Chiều 25,7±0,23 26,0±0,15 26,0±0,50
8
Sáng 23,0±0,50 23,0±0,15 23,0±0,00
Chiều 24,7±0,57 25,0±0,05 25,0±0,28
9
Sáng 26,6±0,05 26,8±0,05 26,7±0,05
Chiều 29,8±0,15 30,0±0,05 29,9±0,34
10
Sáng 26,0±0,50 26,5±0,50 26,5±0,00
Chiều 30,7±0,23 30,0±0,15 31,2±0,34
11
Sáng 28,0±0,32 28,4±0,32 28,5±0,05
Chiều 30,7±0,23 31,4±0,34 31,4±0,15
Kết quả (Bảng 7) cho thấy nhiệt độ trong quá trình thực nghiệm không có sự
khác biệt giữa các nghiệm thức (P> 0,05). Nhiệt độ dao động sáng và chiều
không lớn (khoảng 3
0
C) và ở mức khá thấp (Hình 10). Ðặc biệt vào tuần thứ 7
và thứ 8, buổi sáng 23
0
C buổi chiều 25
0
C, nhiệt độ nầy rất thấp có thể ảnh
hưởng đến quá trình tăng trưởng của tôm vì gần đến ngưỡng dễ bị sốc nhiệt khi