i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
HUỲNH TẤT ĐẠT
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium
rosenbergii de Man, 1879) TRÊN NỀN ĐẤT LÚA VÀO MÙA
KHÔ Ở HUYỆN TAM NÔNG - ĐỒNG THÁP
THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium
rosenbergii de Man, 1879) TRÊN NỀN ĐẤT LÚA VÀO MÙA
KHÔ Ở HUYỆN TAM NÔNG - ĐỒNG THÁP LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGHÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Giáo viên hướng dẫn
TS. DƯƠNG NHỰT LONG
KS. TRẦN VĂN HẬN
2009
ivTÓM TẮT
Đề tài “ Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh trên nền đất lúa vào mùa khô ở huyện
Tam Nông tỉnh Đồng Tháp ” được thực hiện, nhằm góp phần nâng cao thu nhập
cho người nuôi và xây dựng hoàn chỉnh qui trình kỹ thuật nuôi tôm càng xanh
trong ruộng lúa.
Các yếu tố về môi trường nước như nhiệt độ (29,25 – 30
o
C), pH (7,3 – 8,0), độ
trong (31 – 34 cm), Oxy (4,2 – 5,0 mg/l), ammonium (0,4 – 0,8 mg/l), P – PO
4
3-
(0,05 – 0,1 ppm), H
2
S (0,04 – 0,7 ppm), COD (17,7 – 20,7 mg/l). Trọng lượng
trung bình tôm nuôi lần lượt ở 6 ruộng sau 6 tháng nuôi lần lượt là 44,53 ± 22,84
g, 49,73 ± 20,38 g và 49,83 ± 26,89 g, 49,16 ± 22,43 g, 48,36 ± 20,92 g, 48,.93 ±
22,25 g. Nhìn chung trọng lượng trung bình của tôm nuôi ở các ruộng là khá cao
và đạt cao nhất là tôm nuôi ở ruộng 3. Kết quả thực nghiệm cho thấy tỷ lệ sống
trung bình ở ruộng 1 là 28%, ruộng 2 là 29%, ruộng 3 là 23%, ruộng 4 là 27%, ở
Chương I GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
1.4 Thời gian 2
Chương II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố tôm càng xanh 3
2.1.3 Vòng đời tôm càng xanh 3
2.1.4 Phân biệt giới tính 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 6
2.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng 6
2.1.8 Đặc điểm sinh thái môi trường 7
2.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh trong nước và trên thế giới 8
2.2.1 Tình hình thế giới 8
2.2.2 Tình hình trong nước 8
2.2.3 Tình hình nuôi tôm càng xanh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 9
Chương III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thời gian thực hiện 11
3.1.1 Thời gian 11
3.2 Vật liệu nghiên cứu 11
3.3 Phương pháp nghiên cứu 11 vi 3.3.1 Thực nghiệm nuôi 11
viiDANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Chu kỳ lột xác của tôm càng xanh ở các giai đoạn khác nhau
Bảng 2.2: Thức ăn tự nhiên của tôm càng xanh
Bảng 3.1: Tên chủ ruộng và diện tích của nuôi của từng ruộng
Bảng 3.2: Tính lượng thức ăn cho tôm
Bảng 3.3: Thời gian cho tôm ăn trong ngày được thể hiện qua bảng sau
Bảng 4.1: Các yếu tố thủy lý trong hệ thống nuôi tôm trong ruộng lúa
Bảng 4.2: Các yếu tố thủy hóa trong hệ thống nuôi tôm trong ruộng lúa
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng trung bình của tôm nuôi trong ruộng lúa qua các
tháng
Bảng 4.4: Phân cở của tôm càng xanh trong ruộng nuôi
Bảng 4.5: Năng suất và tỷ lệ sống của mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng
lúa
Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế và lợi nhuận từ mô hình nuôi tôm càng xanh trong
ruộng lúa
Hình 4.8: Thể hiện sự biến động của COD qua các tháng nuôi
Hình 4.9: Thể hiện sự tăng trưởng theo ngày của tôm nuôi qua các tháng
Hình 4.10: Thể hiện sự phân cở của tôm nuôi 9
Chương I
GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) là loài có kích thước lớn nhất trong
các loài tôm nước ngọt, là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, mang lại
nguồn thu nhập lớn cho người dân nông thôn Việt Nam nói chung và Đồng Bằng
Sông Cửu Long nói riêng.
Theo FAO (2000), tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt trên 119.000
tấn, đạt giá trị 410 triệu USD vào năm 2000. Châu Á, đặt biệt là Trung Quốc
được xem là nơi xản suất chủ yếu với 95% tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế
giới (Miao, 2003 được trích dẫn bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2004).
Ở nước ta nhờ vào sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên và diện tích mặt nước rộng
lớn mà nghề nuôi tôm càng xanh đã có những tiến bộ nhất định như: việc cải tiến
và hoàn chỉnh các qui trình sản xuất giống và các qui trình nuôi ở mức độ thâm
canh, bán thâm canh, nuôi kết hợp… Đã giúp cho nghề nuôi ngày càng hoàn thiện
hơn mang lại năng suất và lợi nhuận khá cao cho người nuôi.
Theo các nhà nghiên cứu về tôm càng xanh trước đây về tôm càng xanh trên
ruộng lúa ở vùng lũ tại các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long An trên cơ
sở hợp tác giữa bộ môn kỹ thuật nuôi khoa thủy sản trường Đại Học Cần Thơ cho
kết quả rất khả quan. Nuôi tôm ở vùng lũ tỉ lệ sống đạt từ 37 – 57% cùng với
năng suất đạt từ 1.017 – 1.253 kg/ha/vụ. Hiệu quả kinh tế của mô hình thực
nghiệm rất cao và ít rủi ro, lợi nhuận đạt từ 20 – 30 triệu đồng/ha/vụ (Trần Tấn
Huy và ctv, 2004).
Riêng huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp nhất là: Phú Thành B, Phú Thọ, Phú
11
Chương II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm càng xanh
2.1.1 Vị trí phân loại
Tôm càng xanh là một trong những loài giáp xác quan trọng trong nghề nuôi
trồng thủy sản, có vị trí phân loại như sao:
Ngành: Arthropoda
Lớp: Crustaceae
Bộ: Decapoda
Họ tôm sông: Palaemonidae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbergii
2.1.2 Phân bố tôm càng xanh
Trong tự nhiên, tôm càng xanh phân bố ở hầu hết các thủy vực nước ngọt trong
nội địa như sông, hồ, ruộng, đầm hay các thủy vực nước lợ khu vực cửa sông ở
các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở khu
vực Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương, chủ yếu ở khu vực Châu Úc
đến Tân Guinea, Trung Quốc và Ấn Độ, đặc biệt là vùng Đồng Bằng Sông Cửu
vùng nước ngọt như sông, rạch, ruộng, ao, hồ… ở đó chúng sinh sống và lớn lên.
Tôm có thể di cư rất xa trong phạm vi hơn 200km từ bờ biển vào nội địa. Khi
trưởng thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ có độ mặn thích hợp để sinh sản và
vòng đời lại tiếp tục (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2004).
2.1.4 Phân biệt giới tính
Tôm đực có kích thước lớn hơn tôm cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp
hơn. Đôi càng thứ 2 to, dài và thô. Ở con đực có nhánh phụ đực mọc kế nhánh
phụ trong của chân bụng thứ 2. Nhánh phụ đực bắt đầu xuất hiện ở giai đoạn ấu
niên khi tôm đạt kích cở 30 mm và hoàn chỉnh khi tôm đạt 70 mm. Lỗ sinh dục
của con đực nằm ở gốc chân ngực thứ năm. Ngoài ra, ở giữa mặt bụng của đốt
bụng thứ nhất còn có điểm cứng
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn đực, có phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon.
Tôm cái có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và dài tạo thành khoang bụng rộng làm 13
buồng ấp trứng. Quá trình nở rộng của các tấm bụng này bắt đầu khi tôm đạt
chiều dài tổng cộng 95 mm. Lỗ sinh dục của con cái nằm ở gốc chân ngực thứ ba.
Trên chân bụng của tôm cái có nhiều lông tơ có tác dụng giúp trứng bám vào
trong quá trình đẻ và ấp trứng (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2004).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Ở thời gian đầu tôm với trọng lượng nhỏ sẽ có mức tăng trọng lớn, càng lớn mức
độ càng thấp nhưng trọng lượng đạt lớn (Nguyễn Việt Thắng, 2003). Trong quá
trình lớn lên, tôm trãi qua nhiều lần lột xác. Chu kì lột xác (thời gian giữa hai lần
lột vỏ liên tiếp nhau) tùy thuộc vào kích cở của tôm, giới tính, tình trạng sinh lý,
điều kiện dinh dưỡng và điều kiện môi trường. Tôm nhỏ có chu kỳ lột xác ngắn
hơn tôm lớn. Trong giai đoạn từ tôm bột đến đạt kích cỡ 30 – 50g sự sinh trưởng
của tôm đực và tôm cái tương đương nhau, sau đó chúng khác nhau rõ theo giới
tính. Tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái và đạt trọng lượng gấp đôi tôm cái
trong cùng thời gian nuôi (Nguyễn Thanh Phương, 2004).
chính là khoảng tháng 4 – 6 và tháng 8 – 10. Sức sinh sản của tôm phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như kích thước, môi trường sống và điều kiện dinh dưỡng. Sức sinh
sản của tôm càng xanh tăng dần theo kích thước từ 20g – 140g, lớn hơn 140g sức
sinh sản của tôm giảm dần (Nguyễn Việt Thắng, 1993) tùy thuộc vào kích cở và
trọng lượng của tôm cũng như chất lượng và số lần tham gia sinh sản của tôm có
thể thay đổi từ 7000 – 50000 trứng. Trung bình, sức sinh sản tương đối của tôm
khoảng 500 – 1000 trứng/gram trọng lượng tôm. Tuy nhiên, tôm nuôi trong ao hồ
sức sinh sản tương đối của chúng có thể thấp hơn, trung bình khoảng 300 – 600
trứng/gram trọng lượng tôm (Trần Ngọc Hải, 1999). Tôm cái thành thục lần đầu
khoảng 3 – 3,5 tháng kể từ tôm bột (PL 10 – 15). Kích cở tôm nhỏ nhất đạt thành
thục đã được phát hiện là khoảng 10 – 13cm và nặng 7,5g. Tuy nhiên, tuổi và
kích cỡ khi thành thục của tôm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi
trường và thức ăn.
Trong quá trình thành thục, buồng trứng trải qua 4 giai đoạn phát triển trong vòng
14 – 20 ngày (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2004).
- Giai đoạn I: Chưa thành thục, đường kính trứng đạt 0,064 – 0,128 mm
- Giai đoạn II: Chớm thành thục, đường kính trứng đạt 0,191 – 0,447 mm
- Giai đoạn III: Thành thục, đường kính trứng đạt 0,319 – 0,545 mm
- Giai đoạn IV: Chín muồi, đường kính trứng đạt 0,447 - 0,545 mm
2.1.7 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm càng xanh là loài giáp xác bật cao, nhưng được ghép vào loại động vật sống
đáy. Tuy nhiên, trong thực tế là loài ăn tạp, tính lựa chọn thức ăn không cao:
chúng là các dạng hữu cơ phân hủy, động vật và các khoáng (Nguyễn Việt Thắng,
2003). Hàm lượng đạm tối ưu cho tôm là từ 27 đến 35%. Nhu cầu đạm của tôm
thay đổi rất lớn theo giai đoạn phát triển. Ngoài nhu cầu về đạm tôm còn có nhu
cầu về một số chất khác như: chất béo 6 – 7,55%, chất bột đường (tôm càng xanh
có khả năng sử dụng tốt chất bột đường) vitamin và chất khoáng (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2004).
Ngoài ra trong điều kiện nuôi thì tôm cũng ăn thức ăn viên. Hình dạng, kích
thước và mùi vị của thức ăn đóng vai trò đặc biệt quan trọng việc kích thích tôm
Tôm càng xanh là loài giáp xác 10 chân, sống chủ yếu ở tầng đáy. Tôm sống hầu
hết ở các thủy vực nước ngọt trong nội địa và vùng nước lợ. Tôm là loài giáp xác
vừa bơi vừa bò. Các chỉ tiêu môi trường thích hợp cho tôm càng xanh phát triển
như sau:
Độ phèn pH: có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của tôm, tôm
sinh trưởng tốt trong môi trường nước trung tính pH dao động từ 7,0 – 8,5, pH từ
5,5 – 6,5 tôm có thể sống nhưng tăng trọng rất kém. Độ pH < 5,5 tôm sẽ chết.
Điều này cần lưu ý khi nuôi tôm ở vùng ĐBSCL, đặc biệt là những vùng bị nhiễm
phèn.
Nhiệt độ: tôm thích ứng ở nhiệt độ 25 – 30
o
C. Tôm không chịu được lạnh hay quá
nóng 35 – 38
0
C. Vì thế nuôi tôm trong mùa khô phải đảm bảo đủ độ sâu tối thiểu
của nước 0,8m. 16
Oxygen hòa tan: tôm thích sống trong môi trường nước sạch, không nhiễm mặn,
phèn và nhiễm bẩn. Tốt nhất nên đảm bảo oxy hòa tan là 5mg/l.
Độ mặn: tôm sinh trưởng và phát triển tốt trong môi trường nước ngọt, tuy nhiên
trong môi trường nước lợ (5 - 7
0
/
00
) tôm vẫn sinh trưởng và phát triển bình
thường.
2.2 Tình hình nuôi tôm càng xanh trong nước và trên thế giới
2.2.1 Tình hình thế giới
Ở Miền Bắc, nghề nuôi tôm càng xanh cũng rất phát triển. Ở Lai Châu, sau 4
tháng nuôi tôm sinh trưởng trung bình 9 – 10 g/con/tháng, tỉ lệ sống 40 – 50%,
năng suất đạt 0,9 – 1 tấn/ha. Nam Định, sau 6 tháng nuôi thu được 1.583,5 kg/ha
(Chu Thị Thơm và ctv, 2005).
Vùng ĐBSCL có diện tích nuôi tôm càng xanh trên 6.000 ha, sản lượng ước đạt
1.400 tấn/năm (năm 2005). Theo ngành thủy sản, đến năm 2.010, diện tích nuôi
tôm càng xanh trong vùng sẽ lên đến 32.000 ha (sản lượng đạt khỏang 60.000
tấn).
Hiện nay, những mô hình nuôi tôm càng xanh trong khu vực ĐBSCL phát triển
rất phong phú, từ quảng canh, quảng canh cải tiến đến thâm canh ở các mương
vườn, ruộng lúa, đăng quầng ven sông Tiền, sông Hậu. Đặc biệt, nông dân xây
dựng “Mô hình nuôi tôm càng xanh trong ruộng lúa”. Để sử dụng hiệu quả diện
tích mặt nước, làm tăng thu nhập (www. Aroviet.gov.vn).
Ngoài ra tôm càng xanh được thả nuôi chung với vụ trồng lúa Hè – Thu và thu
hoạch trước khi bắt đầu trồng vụ lúa Đông – Xuân. Mô hình này được áp dụng
phổ biến cho các vùng không bị ngập lũ hoặc ngập lũ thấp và đang được áp dụng
ở một số tỉnh như Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang,… Mô hình này được vận
hành ở mức quảng canh cải tiến hay bán thâm canh mức thấp với mật độ thả dao
động từ 3 – 6 con/m
2
.
Tại Cần Thơ, trước năm 1991 nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa, lượng tôm
giống tự nhiên thả ít và không đầu tư thức ăn. Từ năm 1992 – 1997 mức độ đầu
tư tăng dần, mật độ thả từ 1 – 3 con/m
2
. Sản lượng tôm càng xanh thu hoạch trong
các năm phụ thuộc vào mực nước lũ, năm 1997 có lũ lớn nên năng suất đạt cao
hơn năm 1998, mặc dù lượng giống thả gấp đôi năm 1997 nhưng không có lũ nên
sản lượng chỉ đạt phân nửa (Phạm Trường Yên và Trần Ngọc Nguyên, 2000).
An Giang nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa cũng khá thành công. Năm 2001
Ngoài ra tỉnh đã hình thành nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản có sự kết hợp với
trồng lúa, làm vườn, chăn nuôi gia súc, gia cầm mang lại hiệu quả, như các mô
hình: nuôi tôm đăng quầng, tập trung ở huyện Hồng Ngư, Tam Nông, Cao Lãnh
năng phổ biến 3 – 5 tấn/ha; nuôi tôm trong bờ bao ruộng lúa ở huyện Lấp Vò, Lai
Vung, Châu Thành với năng suất bình quân 200 kg/ha/vụ; nuôi trong ruộng lúa ở
huyện Tháp Mười, Lấp Vò, Lai Vung, năng suất bình quân 1 tấn/ha; nuôi trong ao
hầm, mương vườn ở rải rác trong tỉnh, năng suất bình quân 5 – 7 tấn/ha (một số
ao nuôi thâm canh ở huyện Tam Nông, Tân Hồng, Hồng Ngự dạt từ 30 – 70
tấn/ha).
Tại huyện Cao Lãnh, nông dân thu hoạch vụ tôm 2005 – 2006 đạt năng suất từ
1,2 – 1,5 tấn/ha, với giá bán dao động từ 85.000 – 90.000 đồng/kg, sau khi trừ chi
phí còn lãi trên 40 triệu đồng.
Ở các huyện khác như Lấp Vò, Tam Nông, Thanh Bình mô hình nuôi tôm càng
xanh trên ruộng lúa cũng cho thu nhập từ 30 – 70 triệu đồng/ha, cao hơn từ 6 – 10
lần so với trồng lúa. (Đoàn Quốc Khanh, 2008).
19
Chương III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian thực hiện
3.1.1 Thời gian: Thời gian thực hiện đề tài bắt đầu từ tháng 11 năm 2008 đến
tháng 05 năm 2009.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Các vật liệu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài:
Vôi (CaO, CaCO
3
)
Rễ cây thuốc cá
1 Trần Văn Minh 2,5 4.000
2 Phan Văn Phe 3 5.000
3 Trần Văn Đạt 2 3.000
4 Hứa Văn Môn 5 6.000
5 Lê Văn Sáu 3 3.000
6 Hứa Văn Điển 5 6.000 Hình 3.1: Mặt cắt ngang của ruộng nuôi
3.3.2 Biện pháp kỹ thuật ứng dụng
3.3.2.1 Chuẩn bị hệ thống ao nuôi: Cải tạo ao là khâu kỹ thuật quan trọng trong
nuôi tôm. Trước mỗi vụ nuôi cần làm tốt các khâu cải tạo như:
Trước tiên dùng mương bao liền kề với ruộng lúa để ương giống, và diện tích ao
ương chiếm khoảng 20%.
Tiếp theo ta tiến hành dọn dẹp sạch rơm rạ, cây cỏ thủy sinh trong ruộng và xung
quanh mương bao.
Tát cạn ao nuôi, diệt tạp, cá dữ và các loại địch hại khác (cá lóc, cá trê, cá rô
đồng )
Cao
1,5 m
1,5 m
Ruộng nuôi
5 m
M
ặt bờ
rộng 3 m
khắp mương và bờ ruộng. Bón vôi ngoài việc diệt tạp, tiêu độc đáy mương bao nó
còn có tác dụng như một hệ đệm làm cho giá trị pH nước trong ruộng nuôi được
duy trì ở mức thích hợp (7 – 8,5) trong việc tạo thức ăn tự nhiên ở giai đọan ban
đầu cần thiết cho tôm ương nuôi phát triển tốt.
Phơi mặt ruộng lúa và đáy mương bao, hay ao khoảng 2 - 3 ngày, không phơi
nắng quá lâu mặt ruộng bị nứt nẻ dẫn đến việc bị xì phèn làm cho chất lượng
nước không tốt cho họat động ương, nuôi sau này.
Cấp nước vào ruộng hay ao ương nuôi tôm càng xanh phải qua lưới lọc (lưới
cước 2a = 1mm) để ngăn chặn địch hại và tép cá tạp vào làm giảm sản lượng và
cạnh tranh thức ăn của tôm nuôi. Khi mực nước trong mương bao đạt 0,8 m - 1,2
m thì bón phân vô cơ DAP từ 1- 2 kg/1.000 m
2
để gây màu nước. Sau đó mở lưới
chắn của mương bao hay ao ương cho tôm giống vào ruộng nuôi. 22
3.3.3 Nguồn giống
Giống được cung cấp từ các trại sản xuất giống có đăng ký và chịu sự quản lý
chất lượng của nhà nước, tôm có kích thước dao động từ 1 – 1,2 cm/con, tôm
khỏe có kích thước đồng đều, màu sắc trong sáng, không bị dị hình, đồng cỡ,
hoạt động nhanh nhẹn. Nhận biết tôm khỏe bằng cách cho tôm vào thau nước
dùng tay xoay tròn nước trong thau những tôm khỏe sẽ bám vào thành thau và bơi
ngược dòng nước.
3.3.4 Mật độ thả nuôi
Đối tượng: Tôm càng xanh giống 1,2cm/con, thả tôm ngay sau khi hoàn thiện
công tác chuẩn bị ao. Thả tôm vào sáng sớm hay chiều mát và ngâm bao giống từ
10 – 15 phút để tránh tôm bị sốc.
Mật độ thả 10 con/m
2
21 – 27
28 – 34
35 – 40
6,5
5,5
4,2 – 4,5
3,7 – 4,0
3,0 – 3,5
2,5 – 2,7
1,7 – 2,0
1,0 – 1,4
Bảng 3.3: Thời gian cho tôm ăn trong ngày được thể hiện qua bảng sau
Thời gian cho tôm ăn trong ngày
Buổi Thời gian
Sáng
Trưa
Chiều
Tối
7 – 8h
10 – 11h
17 – 18h
22 – 23h
Quản lý nước ao nuôi
Chăm sóc và quản lý ruộng nuôi trong thời gian 1 tháng đầu giai đoạn này tôm
còn rất nhỏ ta nên hạn chế thay nước để giữ cho môi trường nước ao ương ổn
định để hạn chế tôm hao hụt, từ tháng thứ 2 trở đi cần phải giữ môi trường nước
ruộng nuôi tốt để tôm lớn nhanh và ít hao hụt bằng cách định kỳ trao đổi nước, ít
nhất 2 lần/tháng vào lúc nước cường. Sau khi ương khoảng 30 ngày thì dâng cao
nước cho tôm lên ruộng và lúc này tôm sẽ lớn nhanh vì trên ruộng có nhiều thức
ăn tự nhiên.
-
2
, N-NH
4
+
, P-PO
4
3-
, được test bằng bộ test Sera dựa theo bảng so
màu.
Các chỉ tiêu: H
2
S được phân tích bằng phương pháp Metylen blue, COD được
phân tích bằng phương pháp chuẩn độ bằng KMnO
4
trong môi trường kiềm.
3.5.2 Mẫu tôm
Định kỳ thu 30 mẫu/lần/tháng để tiến hành cân trọng lượng của tôm, đánh giá tỷ
lệ sống và sức tăng trưởng của tôm.
25
3.5.3 Các công thức tính
Tăng trưởng ngày (Daily weight gain):
DWG (g/ngày) =
12
12
tt
WW
+ Chi phí biến đổi
Chi phí cải tạo ao nuôi: vôi, dây thuốc cá …
Tôm giống
Thức ăn
Vận chuyển
Nhiên liệu
Công chăm sóc
Các chi phí khác