TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
PHAN MINH TUẤN
THỰC NGHIỆM NUÔI GHÉP CÁ CHÉP DÒNG HUNGARY
TRONG MÔ HÌNH LÚA – CÁ KẾT HỢP
Ở TỈNH HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. DƯƠNG NHỰT LONG
Ks. NGUYỄN THANH HIỆU 2009
-i-
LỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản – Đại Học
Cần Thơ đã nhiệt tình hướng dẫn cho em được thực hiện đề tài này.
Xin cảm ơn cán bộ Trại Thực Nghiệm Cá Nước Ngọt, Bộ Môn Thủy Sinh Học Ứng
Dụng cùng một số hộ nông dân ở huyện Long Mỹ: (anh) Phạm Thành Vũ, (chú)
Nguyễn Minh Dần, Huyện Vị Thủy: (chú) Nguyễn Văn Xê và Huỳnh Văn Mới,
huyện Vị Thủy của tỉnh Hậu Giang đã tao điều kiện, giúp đỡ cho em trong suốt thời
gian thực hiện đề tài.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Dương Nhựt Long và Nguyễn Thanh Hiệu đã tận
1.109 con/m
2
) cao hơn so với nghiệm thức 1 (4.300 cá thể/ lít, 534 con/m
2
). Tuy
nhiên sinh lượng của thực vật phù du của nghiệm thức 1 (784.001 cá thể/lit) thấp
hơn so với nghiệm thức 2 (2.005.500 cá thể/lít). Tỷ lệ sống cá nuôi của nghiệm thức
2 thấp hơn nghiệm thức 1. Tuy nhiên, năng suất cá nghiệm thức 2 (917,3 kg/ha) cao
hơn so với nghiệm thức 1 (857,6 kg/ha). Hiệu suất đồng vốn, tỷ suất lợi nhuận
(1,52, 0,52) mang lại từ mô hình của nghiệm thức 2 thấp hơn so với nghiệm thức 1
(2,09, 1,09).
Qua kết quả thực nghiệm cho thấy, cá chép dòng Hungary có thể xem là đối tượng
hoàn toàn có khả năng phát triển và nâng cao năng suất cá nuôi trong mô hình lúa –
cá kết hợp.
3.2.2 Đối tượng thí nghiệm .......................................................................... 14
3.2.3 Cơ cấu thả nuôi các loài cá .................................................................. 14
3.3 Thực nghiệm nuôi gồm các bước sau .......................................................... 14
3.3.1 Chuẩn bị ruộng làm nghiệm thức......................................................... 14
3.3.2 Cải tạo ruộng thật kĩ trước khi làm nghiệm thức .................................. 14
3.3.3 Quản lý hệ thống nuôi ......................................................................... 15
3.4 Phương pháp thu, phân tích mẫu và xử lý số liệu ....................................... 15
3.4.1 Thu mẫu .............................................................................................. 15
3.4.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình .............................................................. 19
Chương IV ............................................................................................................ 20
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................................... 20
4.1 Môi trường nước ......................................................................................... 20
4.1.1 Các yếu tố thủy lý hóa ......................................................................... 20
4.1.2 Thủy sinh vật ...................................................................................... 26
4.3 Sinh trưởng và năng suất cá nuôi trong hệ thống nghiệm thức..................... 30
4.3.1 Sự sinh trưởng của các loài cá nuôi trong 2 nghiệm thức .......................... 30
4.3.2 Năng suất của cá nuôi sau chu kỳ 6 tháng nuôi .................................... 31
-iv-
Chương V .............................................................................................................. 33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................................. 33
5.1 Kết luận ...................................................................................................... 33
5.2 Đề xuất ....................................................................................................... 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 34
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Cá chép dòng Việt
Hình 2.2 Cá chép dòng Hungary
Hình 3.1Ruộng I diện tích 4000 m
2
Hình 3.2 Ruộng II diện tích 6000 m
2
Hình 3.3 Ruộng III diện tích 5000 m
2
Hình 3.4 Ruộng IV diện tích 6000 m
2
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ ở 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.2 Biến độ trong ở 2 nghiệm qua các đợt thu mẫu
Hình 4.3 Biến động DO ở 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.4 Biến động H
2
S ở 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.5 Biến động COD ở 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.6 Biến động N-NH
3
ở 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.7 Biến động P-PO
4
3-
ở 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.8 Số lượng Phytoplankton của 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.9 Số lượng Zooplankton của 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
Hình 4.10 Số lượng Zoobenthos của 2 nghiệm thức qua các đợt thu mẫu
ghép cá Chép dòng Hungary trong mô hình lúa – cá kết hợp ở tỉnh Hậu Giang”
được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Thực nghiệm nuôi cá chép dòng Hungary, nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ
sống và năng suất của cá trong mô hình lúa – cá kết hợp ở vùng nông thôn tỉnh Hậu
Giang.
1.3 Đề tài được thực hiện với những nội dung sau
1) Khảo sát điều kiện môi trường nước (nhiệt độ, pH, O
2,
COD, N-NH
4
+
, H
2
S, P-
PO
4
3-
), động thực vật phiêu sinh và động vật đáy trong mô hình lúa – cá kết hợp ở
tỉnh Hậu Giang.
2
2) Khảo sát tăng trọng, tỉ lệ sống và năng suất của cá nuôi.
3) Phân tích hiệu quả kinh tế mang lại từ mô hình nuôi thương phẩm cá chép dòng
Hungary so với cá chép dòng Việt.
1.4 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Thời gian: Bắt đầu thực hiện đề tài từ tháng 10/2008 và kết thúc vào tháng 4/2009.
Địa điểm: Đề tài được thực hiện ở 2 huyện Vị Thủy và Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
Hình 2.2 Cá chép dòng Hungary
2.1.1.1 Phân loại
Lớp cá xương: Osteichthyes
Bộ cá Chép: Cypriniformes
Họ cá Chép: Cyprinidae
Giống cá Chép: Cyprinus
Loài: Cyprinus carpio. L.1758. Theo L.S Berg (1950)., Mai đình Yên
(1978) và Trần Đình Trọng (1965a). 4
Đặc điểm về hình thái của cá chép
Đặc điểm cá chép đồng bằng bắc bộ
Đây là loại hình được coi là đại diện của cá chép Việt Nam chúng sống tập tập
thành những quần đàn lớn. Loại hình cá này có những đặc điểm như vẩy bao phủ
toàn thân, vẩy phía đường bên thường có màu xanh đen nhạt, vẩy phần bụng thường
có màu trắng bạc hoặc trắng ngà, mắt lớn, chiều dài thường gấp ba lần chiều cao,
vẩy đường bên 32 – 34, số đốt sống dao động từ 32 – 35 cái ( Nguyễn Văn Kiểm,
2004).
Đặc điểm hình thái cá chép Vàng
Cá chép Vàng được di nhập vào nước ta khoảng giữa thế kỷ XX. Loại hình cá này
có một số đặc điểm điển hình như toàn cơ thể màu vàng nhạc đến vàng đạm, có thể
gặp cá thể màu đồng đỏ nhạt. Số đốt thân giao động 32 – 36, vẩy quanh cuốn đuôi 8
– 9 và số que mang trên cung mang thứ nhất dao động 18 – 19. Loại hình cá chép
Vàng được coi là 1 trong những loại hình cá cảnh ở Nhật Bản vì ngoài những cá thể
cơ thể có một màu còn có những cá thể có 2 màu trên thân (Nuyễn Văn Kiểm,
2004).
Trung Quốc. Hiện nay nước ta đã nhập các dòng cá Chép từ Indonexia, Hunggari,…
đề lai tạo với cá Chép Việt Nam nuôi trong ao, hồ, đồng ruộng (Nguyễn Tấn Trịnh,
1996).
2.1.1.3 Sinh trưởng
Cá Chép là loài có kích thước thuộc cỡ trung bình, cỡ lớn nhất có thể đạt 15 – 20
kg. Những nghiên cứu ở hạ lưu Sông Hồng cho thấy cấu trúc tuổi của đàn cá khá
phức tạp, gồm cá từ dưới 1 đến 6 tuổi. Cá 1 tuổi chiều dài trung bình 17,0 cm, cá 6
tuổi có chiều dài trung bình khoảng 47,5 cm. Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo
tuổi. Trong ao nuôi ở nước ta, trọng lượng trung bình của cá 1 năm đạt 0,2 – 0,3 kg,
2 năm trên dưới 0,5 kg (Mai Đình Yên, 1983).
2.1.1.4 Dinh dưỡng
Cá Chép là loài ăn tạp thiên về động vật không xương sống, sống đáy, Trong ống
tiêu hóa của cá thức ăn rất đa dạng như mảnh vụn thực vật, hạt, rễ cây, các loài giáp
xác (Copepoda, decopoda, Malacostiaca,…).
Ấu trùng, côn trùng (Chironomidae), thân mềm (Bivalvia, Gastropoda,…). Tính ăn
của cá Chép có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và sự hoàn thiện dần của
hệ thống men tiêu hóa trong cơ thể. Khi còn nhỏ thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du
có kích thước nhỏ. Khi trưởng thành, thức ăn thích hợp của cá Chép là sinh vật sống
đáy, ấu trùng côn trùng thủy sinh, mần non thủy thực vật. Ở cá trưởng thành thức ăn
viên thích hợp hơn, trong khi đó thức ăn ở dạng hạt nhỏ và lơ lửng lại có tác dụng
tốt đối với cá con.
Chất lượng thức ăn và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên của cá Chép là động vật
phù du sẽ đảm bảo nâng cao tỷ lệ sống của cá Chép ở giai đoạn đầu. Khi sử dụng
thức ăn nhân tạo mà có bổ sung vào thức ăn muối NaHCO
3
và muối Sulfat của Mn,
Mg, Zn với liều lượng thích hợp thì sự tăng trưởng của cá Chép giống có thể tăng
tới 100 % (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Cá nuôi, ngoài nguồn thức ăn tự kiếm trong thủy vực, còn ăn các loại thức ăn gia
công và thức ăn nhân tạo khác.
trong điều kiện tự nhiên, sức sinh sản tương đối cảu cá Chép dao động 60.000 –
80.000 trứng/kg cá cái, đường kính của trứng sau khi trương nước 1,24 – 1,42 mm
và trọng lượng trứng 0,86 – 1,41 mg.
Thực tế trong nững năm qua cho thấy khi các cơ sở sản xuất cá Chép bột ở Cần Thơ
và vùng ĐBSCL thu gom cá chép trong các mô hình nuôi thương phẩm về cho đẻ
ngay thì số lượng thu được trên một đơn vị khối lượng cá cái thấp (30.000 40.000
trứng/kg các cái), tỷ lệ cá đẻ róc chỉ chiếm 50 – 60 %, kèm theo đó là tỷ lệ thu tinh
thấp (35 – 45 %) và tỷ lệ nở dao động 65 – 70 %. Liên quan tới vấn đề này có chế
độ nuôi cá, vì các cơ sở này thường chỉ nuôi cá với thức ăn chính là cám và cho ăn
không thường xuyên (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
Các hình thức nuôi
Từ xưa đến nay, cá Chép được nuôi khá phổ biến không chỉ ở ĐBSCL, mà còn
được nuôi rộng rãi trong cả nước. Chúng thường được nuôi ghép với các loài cá
khác trong hệ thống canh tác. Ưu điểm của phương thức nuôi này là nâng cao hiệu
quả tổng hợp trong hệ thống canh tác nhờ cá tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên
7
trong nước kể cả sử dụng một số vi sinh vật hại lúa làm thức ăn, từ đó làm năng cao
năng suất lúa.
Ở các tỉnh phía bắc cá Chép thường được nuôi ghép trong các mô hình với tỷ lệ
khác nhau tùy theo vùng và mô hình nuôi. Ở mô hình VAC, tỷ lệ (%) hộ nuôi cá
Chép từ 60 – 100 % (tỷ lệ cá Chép từ 2,48 – 30,8 %) với sản lượng trung bình từ
5,07 – 28,6 % tương ứng với năng suất 255 kg/ha/năm). Mô hình nuôi cá ruộng thì
tỷ lệ số hộ nuôi khá cao (93,3 – 100 %) và thu nhập cá Chép chiếm 21,69 – 62,23 %
tổng thu nhập từ việc nuôi cá.
Riêng ở các tỉnh ĐBSCL việc thả nuôi cá Chép trong các mô hình cũng tương tự
như các tỉnh phía bắc, ty nhiên do đặc thù của các tỉnh Nam Bộ mà cá Chép ở đây
còn được thả nuôi trong các mương vườn. Đặc biệt một số tỉnh ở miền tây Nam Bộ
(An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang,..) có hình thức nuôi cá trong ruộng vào mùa
Cá Mè Vinh có tốc độ lớn tương đối nhanh, nuôi trong ruộng lúa với mật độ vừa
phải (1 – 2 con/m
2
) cá có thể đạt 0,3 – 0,35 kg/con sau 6 – 8 tháng nuôi. Trong hệ
thống mương vườn kết hợp, mật độ thả cá Mè vinh 3 con/m
2
, sau 6 tháng nuôi trọng
lượng cá có thể đạt 150 – 240 g/con (Dương Nhựt Long, 2003).
2.1.2.4 Sinh sản
Cá Mè vinh tham gia sinh sản lần đầu sau 1 tuổi. Ngoài tự nhiên mùa vụ sinh sản
của cá thường kéo dài từ tháng 5 – 9. Do vậy, trong hoạt động sinh sản nhân tạo, có
thể cho cá Mè vinh sinh sản gần như quanh năm, chỉ trừ 1 vài tháng cuối năm như
(tháng 11 và tháng 12). Một số cá Mẹ có thể tham gia sinh sản 4 – 5 lần/ năm. Sức
sinh sản của cá Mè Vinh dao động 200.000 – 300.000 trứng/ kg. Trứng cá Mè Vinh
thuộc nhóm bán trôi nổi như cá Mè Trắng, cá Trôi Ấn Độ. Trong điều kiện nhiệt độ
nước gaio dđộng từ 27 – 29
0
C, trứng cá Mè vinh sẽ nở sau 12 giờ. Cá Mè vinh là
loài di cư sinh sản, nuôi trong ao ruộng, mương vườn mật dù có trứng nhưng cá
không đẻ đó lá do thiếu các điều kiện thích hợp cho cá sinh sản (Dương Nhựt Long,
2003).
2.1.3 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi (Oreochomis niloticus)
2.1.3.1 Phân loại
Bộ cá vược: Perciformes
Họ: Cichlidae
Giống :Oreochomis
Loài : Oreochomis niloticus Linnaeus.
Cá Rô Phi đã được đổi tên gọi nhiều lần. Cho đến 1968 tất cả những loài Rô Phi có
một chấm đen ở cuối vây lưng (chấm tilapia) đều được xếp chung vào 1 giống
Tilapia và đến năm 1973, Trewavas đề nghị tách thành 2 giống mới : Thứ nhất là
Sau khi đẻ xong cá cái ngậm trứng và cá con mới nở trong miệng ( cá con được giữ
trong miệng đến khi hết noãn hoàng). Trong thời gian ngậm trứng và nuôi con cá
cái không bắt mồi vì vậy cá không lớn, cá chỉ bắt mồi khi đã giải phóng hết cá con
trong miệng (Dương Nhựt Long, 2003).
2.1.4 Năng suất của mô hình Lúa – Cá kết hợp trong và ngoài nước
2.1.4.1 Trong nước
Mô hình canh tác Lúa – Cá ở ĐBSCL mới được áp dụng gần đây (Rothuis, 1998a)
và có nguồn gốc sâu xa từ việc thu hoạch các loài cá nội đồng. Sự giảm sút sản
lượng cá nội đồng có nguyên nhân từ việc thâm canh lúa (UB Lâm Thời Hạ lưu
Sông Mêkong,1992; Đương, 1994; Thược, 1995); sự phát triển các kỹ thuật sản
xuất giống (Tuấn và Phương, 1994); sự hấp dẫn của các hìn thức nuôi cá trong
10
ruộng lúa (Nhân và Can, 1992; Nhân và ctv.1995; Hoa,1997) khiến nhà nông
chuyển từ sản xuất nông nghiệp qua dịch vụ ương cá giống. Các hệ thống canh tác
Lúa – Cá chủ động nguồn nước tập trung hầu hết ở các vùng bán ngập nước thuộc
trung tâm của miền Tây Nam Bộ. Các loài cá nuôi phổ biến trong hệ thống này là
Mè Vinh, Chép, Rô Phi,…Theo báo cáo của Tuấn và Phương (1994) chỉ có 35.000
ha trong tổng số 400.000 ha diện tích lúa nước thích hợp cho việc áp dụng. sản
lượng các loài cá kể trên biến động từ 99 – 730 kg/ha. Trong đa số các trường hợp,
sản lượng các loài cá thấp hơn 300 kg/ha, trong thời gian nuôi từ 6 – 9 tháng (Nhân
và ctv.1997); các hộ canh tác Lúa – Cá ở 2 huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây
ở Tiền Giang đạt sản lượng bình quân là 300 – 4.000 kg/ha/10 tháng (Nguyễn Văn
Hảo, 2000); Với nguồn thức ăn tự nhiên phong phú trong ruộng lúa vào mùa lũ, cá
phát triển rất tốt. Sau 6 tháng nuôi, năng suất cá đạt được 619 kg/ha trong năm 1999
và 909 kg/ha trong năm 2000 (Trần Ngọc Nguyên, 2001).
2.1.4.2 Ngoài nước
Nuôi cá trong ruộng lúa đã xuất hiện ở Ấn Độ từ 1500 năm trước và hiện đang rất
phổ biến ở Đông Nam Á. Mô hình lúa cá có thể được rút ra từ mô hình nuôi cá
Kumar Roy, 2001).
Trong suốt giai đoạn 1995 – 1996, Trung tâm phát triển Vùng (ADC) đã thi hành 10
dự án Lúa – Cá nhỏ. Trong khuôn khổ của các dự án, mô hình canh tác Lúa – Cá đã
thực hiện trên diện tích 526.300 m
2
với mật độ thả từ 20 – 25 con/100 m
2
. Chi phí
sản xuất trên 100 m
2
đất là 1.800 TK và nguồn thu từ cá là 47.225 TK, chưa tính
đến sản xuất lúa. Lợi nhuận thu được là 2.952TK/mẫu/vụ (Jiban Kumar Roy, 2001). 12
Chương III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hình 3.1 Ruộng I diện tích 4000 m
213
Hình 3.2 Ruộng II diện tích 6000 m
2
3.3 Thực nghiệm nuôi gồm các bước sau
3.3.1 Chuẩn bị ruộng làm nghiệm thức
Chọn ruộng đạt các tiêu chuẩn về kỹ thuật như: Ruộng có dạng hình chủ nhật, diện
tích 4.000 – 6.000 m
2
. Mương bao, sâu 1,2 m, rộng 3 m, mương bao hơn dốc về
phía cống, có cống cấp và thoát nước chủ động.
3.3.2 Cải tạo ruộng thật kĩ trước khi làm nghiệm thức
Tất cả cây cỏ thủy sinh không có giá trị dinh dưỡng ở bên trong và xung quanh bờ
ruộng được dọn dẹp kỹ.
Tát cạn ruộng nuôi, diệt cá tạp, cá dữ và các loài địch hại khác. Dùng đăng tre hay
lưới nylon bao quanh ruộng nuôi nhằm phòng ngừa địch hại từ bên ngoài và ngập
lụt vào mùa mưa.
Sên vét lớp bùn đáy ở mương bao quanh ruộng còn khoảng 20 – 30 cm.
15
Rãi vôi nung CaO trong ao hay mương bao quanh ruộng nuôi với liều lượng khoảng
10 – 15 kg/100 m
2
.
Phơi khô mương bao quanh 2 – 5 ngày.
Lấy nước vào hệ thống nuôi qua lưới lọc (lưới cưới a = 0,3 mm) và duy trì mức
nước ở thời điểm ban đầu sâu từ 0,8 m – 1,2 m, sau đó sẽ được điều chỉnh tằng dần
theo sự phát triển của cây lúa trong ruộng nuôi (1,2 – 2,0 m).
3.3.3 Quản lý hệ thống nuôi
Tháng thứ 1: Ương trong ao chứa, sử dụng thức ăn công nghiệp viên nổi (hàm
lượng đạm 25 – 30 %). Cho ăn 3 – 4 lần/ngày, khẩu phần ăn khoảng 5 – 7 % trọng
lượng thân/ngày.
Các tháng còn lại: Khi cá đã lớn cho ăn thức ăn tự chế biến, thức ăn tươi sống, như:
Thu mẫu định tính: Dùng gàu Petersen thu nhiều điểm. Sau đó mẫu được sàng sơ bộ
qua sàng đáy (mắt lưới 0,5mm) rồi cho vào túi nylon, cố định mẫu bằng formol với
nồng độ 8 %.
Thu mẫu định lượng: tương tự như thu định tính nhưng cần xác định rỏ diện tích
miệng gàu cũng như số lần lấy mẫu.
Lượng formol cần dùng được tính theo công thức: V
1
N
1
= V
2
N
2
.
Các chỉ tiêu thủy lý hóa
pH, O
2
, N-NH
3
, P-PO
4
3-
được kiểm tra theo phương pháp so màu bằng bộ Test Sera.
Độ trong đo bằng đĩa Secchi.
Nhiệt độ nước được đo bằng nhiệt kế thủy ngân.
H
2
S bằng phương pháp Iodine.
COD bằng phương pháp Permanganat trong môi trường kiềm.
Cách sử dụng bộ Test như sau:
2
.
Test P-PO
4
3-
.
Tráng rửa lọ nhiều lần với mẫu nước cần thử. Sau đó lấy 10 ml nước mẫu.
Nhỏ 6 giọt thuốc thử 1 lắc thạt kỹ.
Nhỏ 6 giọt thuốc thử 2 lắc thật kỹ.
Sau đó cho 1 thừa thuốc thử 3. Đậy nắp và lắc sôi nổi. Chờ 5 phút rồi so màu nước
ở (10 ml + 0 ml).
Nếu nước không có màu xanh là P-PO
4
3-
rất thấp hoặc không có
Nếu có màu xanh tối (> 2mg/L) giữ lại 5 ml nước có màu tối cộng 5 ml nước mẫu.
Lặp lại các bước như trên rồi so màu ở mức (5 ml + 5 ml).
Nếu màu vẫn còn xanh tối (> 4 mg/L), giữ lại 8 ml nước có màu tối cộng 2 ml nước
mẫu. Lặp lại các bước rồi so màu ở mức (2 ml + 8 ml).
Theo dõi sự tăng trưởng của cá
Định kỳ 30 ngày thu mẫu một lần. Mỗi lần thu 30 con/ruộng.
Cân trọng lượng (g): dùng cân đồng hồ để cân trọng lượng.
3.4.1.2 Phương pháp xử lý số liệu
Thực vật phiêu sinh
Đối với mẫu định tính: Lắng mẫu 12 – 24 giờ. Dùng pipet hút lấy tảo lắng dưới lọ,
nhỏ 1 giọt lên lame đậy lamel lại. Đưa lên kính hiển vi điện tử quan sát, xác định
tên giống, loài tảo quan sát được dựa vào tài liệu định danh.
Phân tích định lượng: Mẫu thu cần để lắng trong cahi nhựa 1 lít hơn. Sau đó cô đặc
mẫu bằng cách dùng ống nhựa ở đầu có bịt lưới phiêu sinh rút bớt phần nước trong
mẫu ra, cho vào chai nhựa nhỏ ghi nhận thể tích cô đặc. Khuấy đều mẫu vừa cô đặc,