Tổng quan về nghiệp vụ ngân hàng thương mại - Pdf 15

Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
L ịch sử hình thành và sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương
mại.
Chức năng của hệ thống ngân hàng thương mại

Khái niệm về NHTM.
Ngân hàng thương mại(NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng
có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều
khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại:
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ
tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận
của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ
dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ
đầu tư.
Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng
thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và
chủ yếu là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng l0/1998:
“Ngân Hàng” là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Nghị định của Chính phủ số 49/20001NĐ-CP ngày 12/9/2000 định
nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu
lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước ".
Nhóm 3

quản tiền và các tài sản khác…
Giai đoạn 2: từ thế kỷ thứ V đến X sau công nguyên.
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
- Giai đoạn này các chủ ngân hàng đã biết cách sử dụng số hiệu tài
khoản để ghi chép theo dõi tiền gửi của các thân chủ (theo dõi số tiền cho
vay, thu nợ, lãi…)
- Nghiệp vụ thanh toán bù trừ cũng được các NH áp dụng trong các giao
dịch thanh toán giữa các đối tượng.
Từ thế kỷ XII – XVI sau công nguyên, các nghiệp vụ ngân hàng phát
triển đa dạng và phong phú: nghiệp vụ chuyển tiền, trả tiền trước cho các
thương phiếu chưa đến hạn (chiết khấu)…
Giai đoạn 3: Từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX:
- Hệ thống NH phát triển nhanh chóng, các NH chạy đua cạnh tranh
hình thành 2 hệ thống NH:
+ Hệ thống NH phát hành -> NH trung ương.
+ Hệ thống NHTM
Tóm lại qua sự phân tích lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng trung
gian, có thể nói NHTM ra đời bằng 2 con đường:
- Thứ nhất, những người chuyên làm nghề kinh doanh tiền đúc dần dần
tích lũy được số vốn, chuyển sang hoạt động cho vay nặng lãi, rồi cùng với
sự phát triển của xã hội, với sức ép từ nhà nước và Giáo hội, họ từng bước hạ
thấp lãi suất cho vay, mở rộng các nghiệp vụ để hình thành các NH cổ từ TK
XIII trở về trước.
- Thứ hai, các nhà kinh doanh trong lĩnh vực công thương nghiệp, dịch
vụ, đứng trước gánh nặng lãi suất của NH cho vay nặng lãi, đã làm cho
họ phải hợp lực lại với nhau, hùn vốn, góp vốn để lập ra các Hội tín
dụng và sau đó phát triển thành các NHTM để hoạt động kinh doanh
ngân hàng với lãi suất thích hợp và vừa phải. Những ngân hàng loại
này ra đời vào khoảng TK XVI trở về sau.

Lượng tiền không đủ chi tiêu và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế—xã
hội vì vậy nhà nước phải in tiền để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của các
đơn vị hành chính sự nghiệp. Tuy nhiên, việc làm này đã có những ảnh
hưởng không tốt như làm cho lạm phát tăng, xói mòn tiết kiệm, khuyến
khích tích trữ và đầu cơ, tăng nhu cầu vốn từ NH, lãi suất thực âm, tỷ giá
bị bóp méo, tiền lương không đủ trang trải tạo sức ép NH phải in nhiều
tiền hơn. Hậu quả là NH không bảo toàn được đồng vốn, không tính toán
được hiệu quả kinh tế và do đó lạm phát càng tăng cao( siêu lạm phát)\
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
- Tình trạng độc quyền hệ thống NH đã làm duy trì tình trạng trì trệ
trong NH, giảm vai trò trung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu hiệu
quả kinh tế.
- NHNN VN hoạt động theo mô hình NH một cấp: vừa thực hiện các
chức năng nhiệm vụ của NHTW vừa thực hiện các hoạt động của
NHTM.
2) Hệ thống NH trong chuyển đổi cơ chế kinh tế ( sau năm 1988)
- Từ tháng 4/1988, hệ thống mô hình NH một cấp chuyển đổi thành hệ
thống NH 2 cấp, trong đó NH cấp I là NHNN VN chỉ thực hiện chức
năng, nhiệm vụ vốn có của NHTW, còn NH cấp II, bao gồm các
NHTM, các tổ chức tín dụng khác, hoạt động kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ - NH. Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương mại
quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính.
Tháng 12.1997 trước yêu cầu cao của thực tiễn hai Pháp lệnh ngân
hàng đã được Quốc hội nâng lên thành hai luật về ngân hàng (có hiệu
lực từ ngày 1.10.1998) và sau đó Luật NHNN và Luật các TCTD được
sửa đổi và bổ sung vào năm 2003, 2004.
- Đặc điểm nổi bật là mô hình hệ thống NH của nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung chuyển sang mô hình của nền kinh tế thị trường. Đa dạng

2,8 lần so với năm 2001) từ các nguồn vốn trong xã hội, tăng dư nợ cho vay
với mọi thành phần kinh tế (dư nợ năm 2005 tăng 40 lần so với năm 1990, tại
TP.HCM dư nợ cho vay cuối năm 2005 của các NHTM 170.200 tỷ đồng gấp
3 lần so với năm 2001), tăng đầu tư vào những chương trình trọng điểm quốc
gia, qua đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng liên tục với tốc độ cao (GDP tăng bình quân 7.5% trong 5 năm 2001-
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
2005), góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội (trong 5 năm 2001-2005 cả
nước tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động), góp phần xóa đói giảm nghèo (tỷ
lệ hộ nghèo còn 7%) và làm giàu hợp pháp. Nhiều dịch vụ tiện ích (chi
lương, thu chi hộ, thanh toán chuyển khoản, chuyển tiền tự động, dịch vụ
ngân hàng điện tử, dịch vụ thẻ…) và nhiều sản phẩm mới xuất hiện đã đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và sản xuất kinh doanh của mọi thành phần
kinh tế…
Hiệu quả kinh doanh của các NHTM VN nhìn chung có những chuyển biến
tích cực, lợi nhuận tăng trưởng khá cao, có những NHTM tỷ suất lợi nhuận
ròng trên vốn tự có (ROE) đạt trên 20%, riêng tại TP.HCM kết thúc năm
2005 các NHTM đã có những kết quả kinh doanh (thu nhập-chi phí) tăng khá
cao so với năm 2004 (NHTMN tăng 73,9%, NHTMCP tăng 41,3%), dư nợ
tồn đọng giảm dần.
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự
đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu
(dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn
cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Năm 2005-2006
Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương
mại Nhà nước với mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính
của các tổ chức này. Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại
hoàn tất việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng , trong

100
5 Đội ngũ nhân viên tận tụy, ham học hỏi và có khả năng tiếp
cận nhanh các kiến thức, kỹ thuật hiện đại.
75
6 Có được sự quan tâm và hỗ trợ đặc biệt từ phía NH Trung
ương.
80
7 Môi trường pháp lý thuận lợi. 60
8 Hầu hết đều đang thực hiện hiện đại hóa ngân hàng. 60
ĐIỂM YẾU (Weaknesses)
Nội dung Tỷ
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
lệ (%)
1 Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu
của NHTM hiện đại, bộ máy quản lý cồng kềnh, không hiệu quả.
90
2 Chính sách xây dựng thương hiệu còn kém. 90
3 Chất lượng nguồn nhân lực kém, chính sách tiền lương chưa
thỏa đáng, dễ dẫn đến chảy máu chất xám.
90
4 Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần
lớn các NHTM VN đều thua kém các ngân hàng trong khu vực.
70
5 Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng và chưa đáp ứng nhu cầu toàn
diện của khách hàng.
80
6 Thiếu sự liên kết giữa các NHTM với nhau. 50
7 Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là tín dụng, nợ quá hạn cao,
nhiều rủi ro.

3 Hội nhập kinh tế quốc tế giúp các NHTM VN học hỏi được
nhiều kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng
nước ngoài. Các ngân hàng trong nước sẽ phải nâng cao trình độ
quản lý, cải thiện chất lượng dịch vụ để tăng cường độ tin cậy đối
với khách hàng.
90
4 Hội nhập quốc tế sẽ tạo động lực thúc đẩy cải cách ngành
ngân hàng VN, thị trường tài chính sẽ phát triển nhanh hơn tạo điều
kiện cho các ngân hàng phát triển các loại hình dịch vụ mới…
100
5 Hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng VN
từng bước mở rộng hoạt động quốc tế, nâng cao vị thế của các
NHTM VN trong các giao dịch tài chính quốc tế.
60
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
6 Mở ra cơ hội trao đổi, hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong
hoạt động kinh doanh tiền tệ, đề ra giải pháp tăng cường giám sát và
phòng ngừa rủi ro, từ đó nâng cao uy tín và vị thế của hệ thống
NHTM VN trong các giao dịch quốc tế. Từ đó, có điều kiện tiếp cận
với các nhà đầu tư nước ngoài để hợp tác kinh doanh, tăng nguồn
vốn cũng như doanh thu hoạt động.
70
7 Chính hội nhập quốc tế cho phép các ngân hàng nước ngoài
tham gia tất cả các dịch vụ ngân hàng tại VN buộc các NHTM VN
phải chuyên môn hoá sâu hơn về nghiệp vụ ngân hàng, quản trị
ngân hàng, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị rủi ro, cải
thiện chất lượng tín dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn,
dịch vụ ngân hàng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới mà các
ngân hàng nước ngoài dự kiến sẽ áp dụng ở VN.

cạnh tranh yếu. Đây là nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với các
NHTM.
75
7 Hội nhập kinh tế, quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi
ro của hệ thống ngân hàng, trong khi cơ chế quản lý và hệ thống
thông tin giám sát ngân hàng còn rất sơ khai, chưa phù hợp với
85
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
thông lệ quốc tế.
8 Cấu trúc hệ thống Ngân hàng tuy phát triển mạnh mẽ về
chiều rộng (cả ở khu vực quản lý lẫn khu vực kinh doanh) nhưng
còn quá cồng kềnh, dàn trải, chưa dựa trên một mô hình tổ chức
khoa học làm cho hiệu quả và chất lượng hoạt động còn ở mức kém
xa so với khu vực.
80
9 Việc đào tạo và sử dụng cán bộ, nhân viên còn bất cập so với
nhu cầu của nghiệp vụ mới, đặc biệt còn coi nhẹ hoạt động nghiên
cứu chiến lược và khoa học ứng dụng làm cho khoảng cách tụt hậu
về công nghệ ngân hàng của VN còn khá xa so với khu vực. Nền
văn minh tiền tệ của nước ta do đó chưa thoát ra khỏi một nền kinh
tế tiền mặt.
85
10 Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận và huy động
nhiều nguồn vốn mới từ nước ngoài nhưng đồng thời cũng mang
đến một thách thức không nhỏ cho các NHTM VN là làm như thế
nào để huy động vốn hiệu quả. Vì khi đó, NHTM VN thua kém các
Ngân hàng nước ngoài về nhiều mặt như công nghệ lạc hậu, chất
lượng dịch vụ chưa cao… sẽ ngày càng khó thu hút khách hàng hơn
trước.

NHTMCP phát hành thêm cổ phiếu mới để tăng vốn tự có và năng cao năng
lực tài chính của mình. Việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ
phần của các ngân hàng thương mại trong nước (tối đa 30%) cũng góp phần
tăng nhanh vốn điều lệ của các NHTMCP VN. “Cái bánh ngon” (lợi nhuận
hoạt động ngân hàng) đã được chia cho nhiều người, trong đó có người nước
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
ngoài không có gì lo ngại, vấn đề là làm sao cho cái bánh đó ngon hơn, chất
lượng hơn và to hơn. Sau NHTMCP Sài Gòn Thương Tín cần tạo điều kiện
cho các NHTMCP khác niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán VN
và tiến tới là niêm yết trong khu vực ASEAN. Vốn điều lệ tăng sẽ góp phần
hiện đại hóa công nghệ, mở rộng mạng lưới, nâng cao năng lực tài chính và
thực hiện nhiều chiến lược khác.
° Cần có một chiến lược kinh doanh trung hạn và dài hạn, đặc biệt là
chiến lược nhân sự. Gắn chiến lược nhân sự với các trường đại học trọng
điểm và hình thành các trung tâm đào tạo tại các ngân hàng thương mại.
Nhân viên ngân hàng là những người làm việc trên lĩnh vực dịch vụ cao cấp
nên phải đảm bảo tính chuyên nghiệp và lương cao. Vì vậy, cần có cơ chế
tiền lương phù hợp với trình độ và năng lực của cán bộ, tránh chi trả lương
theo cơ chế DNNN, hạn chế việc bình bầu thi đua khen thưởng. Nếu tiếp tục
như vậy sẽ mất hết cán bộ giỏi hoặc cán bộ dễ quan liêu, tham nhũng, tiêu
cực…
° Các ngân hàng thương mại cần củng cố và hoàn thiện mạng lưới chi
nhánh (thế mạnh của NHTM VN), đi liền với chính sách chăm sóc khách
hàng và tăng cường công tác tiếp thị. NTHM VN, cần tiếp tục đa dạng hóa
các sản phẩm dịch vụ ngân hàng: trong huy động vốn, tín dụng sản xuất kinh
doanh, tín dụng tiêu dùng, tài trợ xuất nhập khẩu, dịch vụ thanh toán, thẻ, thu
hộ chi hộ, giữ hộ, ủy thác, ngân hàng điện tử Cần chú ý phát triển các sản
phẩm gắn với thị trường chứng khoán và hoạt động bảo hiểm.
° Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và phải xem đây là mục tiêu chiến

phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại VN trong
tiến trình hội nhập quốc tế.
Tóm lại quá trình hình thành và phát triển của hệ thống NHTM ở Việt
Nam trải qua một chặng đường khá dài với nhiều khó khăn, thử thách nhưng
đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Càng ngày hệ thống càng hoàn thiện
và phát triển đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, là
một bộ phận gắn bó khăng khít với hệ thống NHTM thế giới và đang từng
bước khẳng định chỗ đứng, tầm ảnh hưởng đối với thế giới.
II, Chức năng của NHTM
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ
biến nhất hiện nay. Đây là tổ chức nhận tiền gửi (depository institutions)
đóng vài trò là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch
vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình
thức các khoản vay trực tiếp. Các ngân hàng thương mại huy động vốn chủ
yếu dưới dạng: tiền gửi thanh toán (checkable deposits), tiền gửi tiết kiệm
(saving deposits), tiền gửi có kỳ hạn (time deposits). Vốn huy động được
dùng để cho vay: cho vay thương mại (commercial loans), cho vay tiêu dùng
(consumer loans), cho vay bất động sản (mortage loans) và để mua chứng
khoán chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương. Ngân hàng thương
mại dù ở quốc gia nào cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, cũng
là trung gian tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất.
Với vị trí quan trọng đó, Ngân hàng thương mại đảm nhiệm những chức
năng khác nhau trong nền kinh tế như:
a, Trung gian tín dụng.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại
đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với
chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa
đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng

Công ty
Xí nghiệp
Tổ chức kinh tế
Hộ gia đình
Cá nhân
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
Những hợp đồng vay nợ thường có đặc điểm là lãi suất cố định để khắc
phục tình trạng khi cung cấp vốn để đảm bảo người đi vay sẽ dùng số tiền
vay đầu tư vào dự án có nhiều rủi ro.
Giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng và 2 vấn đề liên đới là lựa
chọn đối nghịch .
Để góp phần giảm bớt chi phí giao dịch ( gồm tiền và thời gian thực
hiện giao dịch tín dụng ) cho khách hàng khi có nhu cầu về vốn .
Do đó NH có: Khả năng vượt trội .
Có tính chuyên nghiệp.
Đội ngũ cán bộ có năng lực tốt.
Tiếp cận các thông tin của người đi vay và kiểm soát
những hoạt động đầu tư của người đi vay.
“Trung gian tín dụng” được hiểu theo 2 khía cạnh sau:
- NH chỉ là nơi trung gian để chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa (bằng
nghiệp vụ nguồn vốn) sang nơi thiếu bằng (nghiệp vụ tín dụng) .Các chủ thể
tham gia gồm những người gửi tiền vào NHTM và những người vay tiền từ
NH không có mối liên hệ kinh tế trực tiếp nào.Như vậy NHTM có trách
nhiệm hoàn trả tiền gửi cho người gửi (bất kể người đi vay sử dụng vốn có
hiệu quả hay không).Còn người đi vay có trách nhiệm trả nợ cho NH.
- NH không phải là người trung gian tài chính thuần túy , mà là trung
gian tín dụng , nghĩa là việc thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này
phải đi theo nguyên tắc “Hoàn trả “ vô điều kiện.
Tuy nhiên , trong hoạt động của NHTM có một số công việc mang tính

Khảo sát tình hình “tín dụng’’ ở một số nước , Quỹ Tiền Tệ quốc tế IMF
cho biết nước nào có tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP càng cao, thì không
những nó cho thấy sự hoạt động có hiệu quả với hiệu suất cao của hệ thống
NHTM , mà còn nhờ đó làm cho nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định .Tỷ
lệ tín dụng/GDP của các nước công nghiệp phát triển hầu hết đều đạt trên
100% ; ở châu Á , những nước như Thái Lan , Trung Quốc , Singapore đều
có tỷ lệ từ khoảng 120% - 135% .Ở Việt Nam tỷ lệ này chỉ mới đạt ở mức
65%.
Nhờ nguồn vốn tín dụng lớn và luân chuyển liên tục , thông qua việc
thực hiện chức năng nói trên sẽ làm cho nền kinh tế phát triển được cung ứng
đầy vốn ngày càng đầy đủ để phát triển.
Tạo phương tiện thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán cho
nền kinh tế:
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá
nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ
tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào
tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác
theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện
thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ
thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho
mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không
phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh
toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực
hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất
nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô
hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc
độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của

khách hàng tham gia thanh toán đều có tài khoản giao dịch tại ngân hàng , vì
vậy nhiệm vụ hàng đầu của NHTM không những ảnh hưởng tới chức năng
này mà còn ảnh hưởng tới chức năng trung gian tín dụng chính là việc mở tài
khoản giao dịch tại ngân hàng.Thủ tục phải chặt chẽ nhưng đơn giản , đảm
bảo bí mật , an toàn cho khách hàng.
• Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách
hàng
Thanh toán tại ngân hàng là thanh toán bằng chuyển khoản , vì vậy các
chứng từ dùng làm căn cứ để hạch toán vào tài khoản phải là những chứng từ
do chính ngân hàng cung cấp và kiểm soát để đảm bảo quá trình thanh toán
được thực hiện nhanh chóng , an toàn và chính xác , quyền lợi của khách
hàng được đảm bảo.
NHTM thiết kế và cung cấp nhiều loại phương tiện thanh toán khác
nhau cho khách hàng( VD: séc, giấy chuyển tiền, tín dụng thư, thẻ tín
dụng, ) đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát chặt chẽ đồng thời được sử
dụng linh hoạt và tiện lợi.
Tính chất , đặc điểm và nội dung của các tài khoản giao dịch thanh toán
đòi hỏi phải có nhiều phương tiện thanh toán thích hợp.
• Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng
là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của NHTM phải đáp ứng được:
- Nhanh chóng và chính xác.
- Đảm bảo an toàn và tiện lợi .
Nhóm 3
Nghiệp vụ ngân hàng
Thực hiện chức năng NHTM trở thành người thủ quỹ và là trung tâm thanh
toán của xã hội. Thực tế chứng minh với vai trò như sau:
- Giảm bớt lượng tiền mặt lưu thông , tăng khối lượng thanh toán bằng
chuyển khoản
- Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển Tiền- Hàng.Điều này không những thúc
đẩy kinh tế -xã hội trong nước phát triển mà còn thúc đẩy các quan hệ

thức sử dụng và biện pháp quản lí khác nhau.
Như ta đã biết để thành lập một doanh nghiệp thì điều bắt buộc ở đây là phải
có vốn.và trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng cũng vậy.các NHTM muốn hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status