TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1. Ngân hàng thương mại :
1.1.1 Khái niệm
Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941 đã định nghĩa : “ Ngân hàng
thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: “
Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện tồn bộ họat động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các
mục tiêu kinh tế của Nhà nước ”.
1.1.2 Các lọai hình ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Phân lọai theo hình thức sở hữu
- Ngân hàng thương mại quốc doanh
- Ngân hàng thương mại cổ phần
- Ngân hàng thương mại liên doanh
- Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngồi
- Ngân hàng thương mại nước ngồi
1.1.2.2 Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng
- Ngân hàng bán buôn
- Ngân hàng bán lẻ
- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ
1.1.2.3 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động
- Ngân hàng chuyên doanh
- Ngân hàng đa năng
1.2 Các dịch vụ ngân hàng :
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Nghiệp vụ ngân hàng
Nghiệp vụ ngân hàng là việc cụ thể hóa các họat động chủ yếu mà Luật các tổ
chức tín dụng cho phép ngân hàng thương mại có thể thực hiện.
Các nghiệp vụ ngân hàng gồm :
thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như của nhiều nước phát triển trên Thế giới.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngồi chức
năng truyền thống của định chế tài chính trung gian ( huy động vốn và cho vay ). Quan
niệm này chỉ nên dùng trong phạm vi hẹp, khi xem xét hoạt động của một ngân hàng cụ
thể để xem các dịch vụ mới, phát triển như thế nào, cơ cấu ra sao trong hoạt động của
mình.
Khi nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan niệm
dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Trong thực tế, một ngân hàng bán lẻ lớn thường có
trên 300 dịch vụ khác nhau cho khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp. Dịch vụ ngân
hàng ngày càng hiện đại và không có giới hạn khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xã
hội ngày càng văn minh và nhu cầu của con người ngày càng cao và đa dạng.
Theo Tổ chức thương mại Thế Giới ( WTO ): một dịch vụ tài chính là bất kỳ
dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.
Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm,
mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác ( ngoại trừ bảo hiểm). Như vậy dịch
vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ tài chính và cũng khó phân định rõ
đâu là dịch vụ ngân hàng và đâu là dịch vụ tài chính như :
- Nhận tiền gởi
- Tất cả các loại hình cho vay
- Cho thuê tài chính
- Dịch vụ thanh tốn và chuyển tiền
- Bảo lãnh và cam kết
- Buôn bán cho chính tài khoản của mình hoặc cho tài khoản của người tiêu dùng
hoặc là tại sở giao dịch, tại thị trường phi tập trung hoặc ở các nơi khác các sản phẩm
sau: các công cụ của thị trường tiền tệ, ngoại tệ, các sản phẩm phái sinh, tỷ giá và các
công cụ lãi suất, các chứng khốn chuyển nhượng được, các công cụ mua bán được khác
và các tài sản chính
- Tham dự vào tất cả các vấn đề liên quan đến chứng khốn, bao gồm nhận bảo lãnh
và đầu tư như một đại lý và cung cấp các dịch vụ có liên quan
- Môi giới tiền tệ
ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao,
đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
b/- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân
hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa
phương những người bán các khoản nợ ( khoản phải thu ) của khách hàng cho ngân
hàng để lấy tiền mặt. Đó là bược chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay
trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua vật tư, hàng hóa dự trữ hoặc
mua sắm thiết bị sản xuất và xây dựng văn phòng .
c/- Nhận tiền gửi. Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng
đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn
quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi
tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được
hưởng mức lãi suất tương đối cao. Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng
hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm
nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay
gấp ba lãi suất tiết kiệm.
d/- Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực
hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Một
điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng ( ghi nhận
về các tài sản đang được lưu giữ ) có thể được lưu hành như tiền – đó là hình thức đầu
tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách
hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện.
e/- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những
năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn
của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu – Mỹ. Thông
thường, ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu
Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động
được. Các ngân hàng đã cam kết cho Chính phủ Mỹ vay trong thời kỳ chiến tranh.
Ngân hàng Bank of North America được Quốc hội cho phép thành lập năm 1781, ngân
hàng này được thành lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và
đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung
có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có
mức sinh lời thấp. Đầu thế kỷ này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi
của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh