Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
LỜI MỞ ĐẦU
Hoa Đồng Tiền có tên khoa học là Gerbera jamesonii (còn gọi là hoa mặt trời Phu
Lăng).
Hoa Đồng Tiền rất phong phú và đa dạng với nhiều màu sắc khác nhau như: đỏ,
cam ,vàng, trắng, phấn hồng, tím,… Trên một bông hoa có thể có một màu đơn hoặc
nhiều màu xen kẽ. Hoa Đồng Tiền có giá trị kinh tế cao, mặc dù hoa Đồng Tiền chỉ
chiếm tỉ lệ rất nhỏ (3-5%) trong tổng số các loài hoa cắt cành, song không thể vắng
mặt trên thị trường hoa.
Ngày nay, phương pháp nhân giống cổ truyền bằng cách tách chồi từ cây mẹ đã
không còn phù hợp. Do sau một thời gian tồn tại ngoài đồng ruộng khá lâu nên tất
yếu sẽ nhiễm rất nhiều loại vi rút và vi khuẩn làm cho chất lượng cây giống không
cao, thoái hóa ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cành hoa.
Trong vài năm gần đây, tại Đà Lạt- Lâm Đồng, việc ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy
mô tế bào trong nhân giống được phát triển mạnh mẽ. Có nhiều cơ quan nhà nước,
công ty, cơ sở tư nhân (Trung Tâm Nghiên Cứu Khoai Tây, Rau & Hoa, Trung tâm
Ứng dụng Đà Lạt, công ty Hasfarm, Bonniefarm, Rừng Hoa và một số cơ sở tư nhân
nhỏ) đã và đang nghiên cứu, ứng dụng lĩnh vực này trong nhân giống các loại rau,
hoa và đã có nhiều thành công đáng kể. Nhân giống hoa Đồng Tiền bằng phương
pháp này đang dần phổ biến và được nhiều người biết đến. Đề tài “Tìm hiểu quy
trình nhân giống hoa Đồng Tiền in vitro” nhằm tìm hiểu quá trình nhân giống hoa
Đồng Tiền như thế nào, tìm hiểu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống hoa
Đồng Tiền in vitro, nhằm khắc phục những nhược điểm và đáp ứng được những yêu
cầu hiện nay.
Qui trình nhân giống hoa Đồng Tiền in vitro được ghi nhận tại Bộ môn Công
Nghệ Sinh Học thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoai Tây, Rau & Hoa – Đà Lạt.
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
1 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
I. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoa Đồng Tiền xuất hiện ở nước ta vào những năm 1940 và đến nay đã phát triển
3 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sản xuất hoa:
1.1.1. Tình hình sản xuất hoa trên thế giới:
Ngày nay, hoa là một sản phẩm đặc biệt. Hoa làm tăng chất lượng cuộc sống của
con người và hoa đem lại cho con người những cảm xúc tuyệt vời mà các quà tặng
khác không có được.
Ngày nay, sản xuất hoa trên Thế Giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và đã trở
thành một ngành thương mại cao. Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích to lớn cho nền
kinh tế các nước trồng hoa trên Thế Giới.
Diện tích hoa của Thế Giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên. Các
nước sản xuất hoa lớn trên Thế Giới là: Nhật với khoảng 3.731 tỷ đôla, Hà Lan
khoảng 3.558 tỷ đôla, Mỹ khoảng 3.270 tỷ đôla.
Sản xuất hoa của Thế Giới sẽ tiếp tục phát triển và mạnh mẽ nhất ở các nước
Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Mục tiêu sản xuất hoa cần hướng tới là
giống hoa đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp.
1.1.2. Tình hình sản xuất hoa ở Châu Á:
Châu Á Thái Bình Dương có diện tích trồng hoa khoảng 134 000 ha, chiếm 60%
diện tích hoa Thế Giới. Nhưng diện tích hoa thương mại của Châu Á nhỏ. Tỷ lệ thị
trường hoa của các nước đang phát triển chỉ chiếm 20% thị trường hoa Thế Giới.
Nguyên nhân là do các nước Châu Á có diện tích trồng hoa được bảo vệ thấp. Ở đây
hoa được trồng trong điều kiện tự nhiên của đồng ruộng. Hoa được trồng chủ yếu
phục vụ cho thị trường nội địa. Mấy năm gần đây thị trường hoa xuất hiện nhiều nước
mới, trong đó có các nước ở khu vực Châu Á như: Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc,
Singapore, Ấn Độ.
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
4 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Các nước ở Châu Á có diện tích trồng hoa lớn là: Trung Quốc (3 000 ha), Ấn Độ
1.1.3.1. Diện tích trồng hoa ở Việt Nam:
Việt Nam có diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha. Diện tích trồng hoa ở Việt Nam
còn nhỏ, chiếm khoảng 0,02% diện tích trồng trọt. Hoa được trồng từ lâu đời. Diện
tích hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống của thành phố, khu công nghiệp,
khu du lịch, nghỉ mát như Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng
Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn, thị xã
Thanh Hóa ( Thanh Hóa), Gò Vấp, Hóc Môn (Thành Phố Hố Chí Minh), Đà Lạt. Đà
Lạt là vùng sản xuất hoa lớn nhất cả nước với tổng diện tích trồng hoa khoảng 2 027
ha (năm 2005).
Theo điều tra ở các tỉnh trong các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam, các loài
hoa chính được trồng trong sản xuất là:
Bảng 1.1: Các loài hoa trồng phổ biến ở Việt Nam
Tên thường gọi Tên khoa học
Hoa Hồng
Hoa Cúc
Hoa Cẩm Chướng
Hoa Lay Ơn
Hoa Huệ
Hoa Loa Kèn
Hoa Thược Dược
Hoa Đồng Tiền
Rosa sp.
Chrysanthemum sp.
Dianthus caryofullus
Gladiolus communis
Polianthes tuberosa L.
Lilium longiflorum Thumb.
Dahlia pinnata Cav.
Gerbera jamesonii
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
7 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Diện tích tự nhiên lớn, 80% dân số sống bằng
nghề nông. Nông dân cần cù, giàu kinh nghiệm sản xuất. Nghề trồng hoa có từ lâu
đời.
Thị trường tiêu thụ hoa nội địa ngày càng mở rộng. Có tiềm năng xuất khẩu hoa ra
các nước.
Một số họ, loài hoa nhiệt đới có nguồn gốc ở Việt Nam. Thích hợp với điều kiện
tự nhiên của vùng.
Nhà nước đang khuyến khích phát triển hoa để phục vụ nhu cầu trong nước và
xuất khẩu.
b) Những hạn chế của sản xuất hoa ở Việt Nam:
Khí hậu miền Bắc nóng, ẩm về mùa hè. Đặc biệt trong các tháng 5 đến tháng 8. Số
ngày nhiệt độ cao (>30
0
C ), độ ẩm không khí cao (85-90%). Mùa đông có gió mùa
đông bắc lạnh. Nhiều ngày nhiệt độ dưới 15
0
C. Độ chiếu sáng ngắn, yếu. Miền Nam
quanh năm nóng ấm, có một mùa nóng khô và một mùa nóng mưa, ẩm độ cao. Điều
kiện khí hậu đó không thuận lợi cho các cây hoa có nguồn gốc ôn đới.
Chưa có các giống hoa chất lượng cao, thích ứng với điều kiện của vùng. Tuy
vùng có một số giống đẹp, quý như hoa lan, trà, anthurium,… nhưng ở dạng hoa dại.
Thị trường thế giới hiện giờ ưu thích các dạng hoa lai tạo đẹp và có màu sắc sặc sỡ
hơn.
Sản xuất hoa tản mạn. Các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, bảo quản hoa chưa
được áp dụng rộng rãi trong sản xuất hoa.
Thiếu các phương tiện, thiết bị để bảo vệ hoa trong điều kiện nắng, nóng, mưa
bão,… như nhà kính, nhà lưới, nhà che,…
Thị trường hoa chưa phát triển cả ở trong nước và xuất khẩu.
loài khác ở Nam Phi là Gerbera hybrida. Hiện nay tồn
tại hàng trăm giống khác nhau.
1.2.1.2. Phân loại:
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
9 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Giới : Plantae
Ngành : Magnoliophyta
Lớp : Magnoligopsida
Bộ : Asteraceae
Phân họ : Mutisioideae
Chi : Gerbera Hình 1.1: Cây hoa Đồng Tiền
1.2.1.3. Đặc điểm:
Hoa Đồng Tiền thuộc loại hoa lưu niên ra hoa quanh năm, độ bền hoa cắt cao,
được coi là một loài hoa đẹp trong thế giới hoa. Dựa vào hình thái hoa, người ta chia
thành 3 nhóm: hoa đơn, hoa kép và hoa đơn nhị kép.
− Nhóm 1- hoa đơn: hoa chỉ có một hoặc hai tầng cánh, xếp xen kẽ nhau
tạo vòng tròn. Hoa mỏng và yếu hơn hoa kép, màu sắc hoa ít hơn, điển hình là
màu trắng, đỏ, tím, hồng.
− Nhóm 2- hoa kép: cành hoa to, gồm hơn hai tầng cánh, bông to, đường
kính hoa có thể đạt tới 12-15 cm, cánh hoa tụ lại thành bông nằm ở đầu trục
chính, cuống dài 40-60 cm. Màu sắc đa dạng như màu trắng, đỏ, vàng, hồng,
màu gạch cua.
− Nhóm 3- hoa đơn nhị kép: bên ngoài cùng cánh đơn, bên trong cánh
kép dày đặc, thường màu trắng trong lớp cánh kép màu cánh sen nhưng nhóm
này không đẹp bằng hoa kép.
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
10 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
1.2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa Đồng Tiền ở Việt Nam:
1.2.2.1. Tình hình sản xuất:
Hoa Đồng Tiền là 1 trong 10 loại hoa quan trọng nhất trên thế giới, sau hoa Hồng,
Cúc, Lan, Cẩm Chướng, Lay Ơn,…
Ở Việt Nam giống hoa Đồng Tiền đơn được nhập về trồng đầu tiên khoảng từ
những năm 1940. Đặc điểm của giống hoa đơn này là cây sinh trưởng khỏe, thích
nghi tốt với điều kiện tự nhiên, nhưng nhược điểm là hoa nhỏ, cánh đơn, màu sắc đơn
điệu, vì vậy hiện nay người ta ít trồng. Từ những năm 1990, một vài công ty và những
nhà trồng hoa Việt Nam bắt đầu nhập các giống Đồng Tiền lai (hoa kép) từ Đài Loan,
Hà Lan, Trung Quốc về trồng. Các giống này tỏ ra có nhiều ưu điểm: hoa to, cánh
dày, gồm nhiều tầng xếp lại với nhau, màu sắc phong phú, hình dáng hoa cân đối, rất
đẹp, năng suất cao. Vì vậy, những giống này đã được tiếp nhận và phát triển mạnh mẽ
ở khắp mọi vùng, mọi tỉnh thành trên cả nước.
Trong các loại hoa Đồng Tiền đã và đang trồng tại Việt Nam thì hoa Đồng Tiền
kép nhập nội là một trong những cây cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Từ một sào hoa
Đồng Tiền giống mới chăm sóc đúng kỹ thuật có thể cho thu nhập gần 50
triệu/sào/năm.
1.2.2.2. Tình hình tiêu thụ:
Hiện nay, hoa Đồng Tiền là loài hoa rất được ưu chuộng với giá cả phải chăng.
Nhưng tình trạng sản xuất hoa Đồng Tiền của Việt Nam (cũng như các sản phẩm cây
cảnh khác) khó xâm nhập vào thị trường thế giới. Vì chất lượng, chủng loại, kích cỡ
không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế.
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
12 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Sự chênh lệch về giá cả giữa thị trường hoa Việt Nam và thị trường hoa thế giới
cũng thể hiện rõ. Ở hoa Đồng Tiền, khi bán tại ruộng giá dao động từ 500-1.500
đồng/ bông, bán trên thị trường giá trong khoảng từ 1.500-2.500 đồng/bông (tùy theo
mùa, dịp lễ mà giá bông khác nhau). Trong khi đó, giá bán hoa Đồng Tiền tại Mỹ là
20.000-25.000 đồng/bông.
nhất (8-11 chồi) trong môi trường có 10 mg/l BAP, nhưng có vài chồi yếu và xuất
hiện hiện tượng thủy tinh thể. Trong môi trường BA chứa 1-2 mg/l BA chỉ hình thành
1-3 chồi.
Viện nghiên cứu nông nghiệp Ấn Độ đã kết luận rằng khi chỉ sử dụng BAP trong
môi trường nuôi cấy mà không kết hợp NAA thì hệ số nhân của chồi thấp, còn khi
dùng riêng NAA thì không có một chồi nào xuất hiện. Viện cũng đưa ra môi trường
giúp cây ra rễ tốt nhất là MS + NAA và IBA. Theo Barbosa (1992) hệ thống rễ phát
triển tốt hơn trong môi trường MS + IAA (nồng độ từ 0,5; 1,0; 2,0 và 4,0 mg/l).
Theo viện nghiên cứu nông nghiệp Banglaclech, trong nhân giống hoa Đồng Tiền
in vitro, những nồng độ khác nhau của các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau (IAA;
NAA; 2,4-D và kinetin) có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau trong sự tái
sinh chồi cũng như trong quá trình hình thành mô sẹo trên những mô cấy khác nhau
của cây hoa Đồng Tiền trong điều kiện in vitro. Trong quá trình tái sinh chồi và nhân
lên của chồi thì những mẫu cấy ban đầu là đỉnh chồi hoặc rễ cây in vitro tỏ ra có hiệu
quả hơn so với các mẫu từ các mô khác của cây. Cũng theo nghiên cứu này, môi
trường MS bổ sung 2 mg/l NAA cho bộ rễ của cây hoa Đồng Tiền in vitro hình thành
sớm và nhiều nhất. Ngoài ra, những mô sẹo phân chia, phát sinh phôi khi nuôi cấy lá
và cuống lá in vitro trên môi trường MS bổ sung thêm 0,4 mg/l 2,4-D.
1.2.3.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng nuôi cấy mô nhân giống hoa
Đồng Tiền trong nước:
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
14 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Theo phương pháp truyền thống, người nông dân thường nhân giống bằng cách
tách cây con từ cây mẹ để làm giống cho thế hệ sau. Phương pháp này vẫn được sử
dụng đến ngày nay. Cho đến khi phương pháp nhân giống bằng kỹ thuật in vitro ra
đời, người nông dân đã nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật công nghệ sinh học mới này và
đã áp dụng trên diện rộng cho nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và hiệu quả
năng suất cao hơn nhiều so với phương pháp nhân giống truyền thống.
Ở nước ta, phương pháp nhân giống in vitro chỉ mới bắt đầu từ năm 1975, đến nay
nhóm B: thiamin (B
1
), pyridoxin (B
6
) và nicotinic acid. Từ đó, việc nuôi cấy đầu rễ đã
được tiến hành ở nhiều cây khác nhau.
Trong thời gian này, Gautheret ở Pháp đã tiến hành các nghiên cứu nuôi cấy mô
tượng tầng một số cây gỗ. Sau khi Went và Thimanm (1937) phát hiện chất sinh
trưởng đầu tiên là IAA và kết tinh được chất này, Gautheret xác nhận tác dụng kích
thích sinh trưởng mô sẹo của IAA và nhóm 3 vitamin do White đề nghị. Cùng với
Nobercourt, Gautheret (1939), đã thành công trong việc duy trì sinh trưởng của mô
sẹo cà rốt (Daucus carota) trên môi trường bán rắn.
Overbeek (1941), chứng minh tác dụng kích thích sinh trưởng của nước dừa trong
nuôi cấy phôi. Sau đó, Steward (1948) xác nhận tác dụng của nước dừa trên mô sẹo
cà rốt. Trong thời gian này, nhiều chất sinh trưởng nhân tạo thuộc nhóm auxin đã
được nghiên cứu và tổng hợp hóa học thành công. NAA, 2,4-D bắt đầu được sử dụng
để trừ cỏ lá rộng trong nông nghiệp. Nhiều tác giả nhận thấy cùng với nước dừa, 2,4-
D và NAA đã giúp tạo mô sẹo, gây phân chia tế bào thành công ở nhiều đối tượng
thực vật trước đó rất khó nuôi cấy.
Năm 1951, Skoog và Miller đã phát hiện ra các hợp chất có thể điều khiển sự
nhân chồi.
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
16 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Skoog (1954), tình cờ thấy nếu thêm một ít chế phẩm đã để lâu của acid
desoxyribonucleic (DNA) lấy từ tinh dịch cá bẹ vào môi trường nuôi cấy các mảnh
mô thân cây thuốc lá thì tác dụng kích thích sinh trưởng trở nên rất rõ rệt. Skoog cố
tìm bản chất hiện tượng kích thích sinh trưởng của DNA. DNA mới trích ly từ tinh
dịch cá bẹ không có tác dụng nhưng nếu đem hấp trong hơi acid thì mẫu DNA mới
cũng có hoạt tính như mẫu DNA cũ. Skoog cho rằng chất có hoạt tính là một sản
a. Điều kiện vô trùng:
Nuôi cấy in vitro là nuôi cấy trong điều kiện vô trùng. Nếu không đảm bảo tốt
điều kiện vô trùng, mẫu nuôi cấy hoặc môi trường sẽ bị nhiễm, mô nuôi cấy sẽ bị
nhiễm, chết. Điều kiện vô trùng có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của nuôi cấy
mô in vitro.
Phương pháp vô trùng vật liệu thông dụng nhất hiện nay là dùng các chất hóa học,
tia cực tím có khả năng diệt nấm và vi khuẩn. Vô trùng ban đầu là một thao tác khó
và là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định. Nếu tìm được nồng độ và thời gian xử lý
thích hợp sẽ cho tỷ lệ sống cao. Các chất khử trùng thường sử dụng:
Bảng 1.2 : Các chất khử trùng
Tác nhân vô trùng Nồng độ (%)
Thời gian xử
lý(phút)
Hiệu quả
Canxi hypochloride 9-10 5-30 Rất tốt
Natri hypochloride 2 5-30 Rất tốt
Hydro peroxit 10-12 5-15 Tốt
Nước brôm 1-2 2-10 Rất tốt
Clorua thủy ngân 0,1-1 2-10 Trung bình, độc
Chất kháng sinh 4-5 mg/l 30-60 Khá tốt
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
18 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Phương tiện khử trùng: nồi hấp vô trùng, tủ sấy, buồng và bàn cấy vô trùng,
phòng nuôi cấy.
b. Điều kiện ánh sáng và nhiệt độ:
Ánh sáng và nhiệt độ là hai yếu tố chính có ảnh hưởng cơ bản đến quá trình sinh
trưởng của mô nuôi cấy.
Ánh sáng:
Sự phát sinh hình thái của mô nuôi cấy chịu ảnh hưởng từ các yếu tố như: thời
Có rất nhiều loại môi trường nuôi cấy thực vật khác nhau. Trong đó, có một số
môi trường cơ bản được sử dụng phổ biến như: MS, B
5
, SH có hàm lượng khoáng đa
lượng cao và một số môi trường khác được mô tả bởi White, Gautheret, Nitsch, Loyd
và Mc Cown có hàm lượng khoáng đa lượng thấp hơn.
Tuy có nhiều loại môi trường nuôi cấy mô tế bào thực vật nhưng đều gồm một số
thành phần cơ bản sau:
− Các muối khoáng đa lượng và vi lượng.
− Nguồn cacbon.
− Các vitamine và amino acid.
− Các chất bổ sung, chất làm thay đổi trạng thái môi trường.
− Các chất điều hòa tăng trưởng.
a. Các muối khoáng đa lượng và vi lượng:
Khoáng đa lượng: nhu cầu khoáng của mô, tế bào thực vật tách rời không khác
nhiều so với cây trồng trong điều kiện tự nhiên. Các nguyên tố đa lượng cần phải
cung cấp là N, P, K, Ca, Mg và Fe.
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
20 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
Khoáng vi lượng: nhu cầu khoáng vi lượng trong nuôi cấy mô thực vật in vitro là
lĩnh vực còn ít được nghiên cứu. Trước đây, khi kỹ thuật nuôi cấy mô mới ra đời,
người ta không nghĩ đến việc bổ sung khoáng vi lượng vào môi trường nuôi cấy. Các
thí nghiệm lúc đó thành công là do agar và hóa chất dùng để pha môi trường không
tinh khiết mà có lẫn một số nguyên tố vi lượng cung cấp phần nào cho môi trường
nuôi cấy. Các nguyên tố vi lượng cần cung cấp cho tế bào là: Mn, Zn, Cu, B, Co, I,
Mo,…
b. Nguồn cacbon:
Khi nuôi cấy in vitro, các tế bào thực vật thường không có khả năng quang hợp,
do đó đòi hỏi phải cung cấp nguồn cacbon cho các hoạt động dinh dưỡng của tế bào.
Ngoài ra, có thể sử dụng dịch thủy phân casein hydrolyase (0,1-1%) hoặc bột
chuối với hàm lượng 40g bột khô trong 100g/l nhằm tăng cường sự phát triển của mô
sẹo hay cơ quan nuôi cấy.
Agar: là chất thường sử dụng để tạo môi trường đặc hay môi trường bán rắn trong
nuôi cấy mô thực vật. Khi agar được trộn chung với nước thì tạo ra dạng gel và tan ở
nhiệt độ 60-100
0
C, đặc lại khi nhiệt độ xuống 45
0
C. Vì vậy, agar ổn định trong tất cả
các điều kiện nhiệt độ môi trường và không bị phân hủy bởi enzyme thực vật. Hơn
nữa agar không phản ứng với các chất trong môi trường. Độ cứng của agar quyết định
bởi nồng độ agar sử dụng và pH của môi trường.
Than hoạt tính: Việc bổ sung than hoạt tính vào môi trường nuôi cấy có tác dụng
khử độc. Ảnh hưởng của than hoạt tính: hút các hợp chất cản, hút các chất điều hòa
sinh trưởng và làm đen môi trường. Người ta cho rằng tác dụng cản tăng trưởng của
mô cấy trong môi trường có than hoạt tính là do nó hút các chất điều hòa sinh trưởng
trong môi trường như: NAA, kinetin, BAP, IAA và 2iP. Khả năng kích thích sự tăng
trưởng của mô thực vật là do than hoạt tính kết hợp với các hợp chất phenol độc do
mô tiết ra trong suốt thời gian nuôi cấy.
e. Các chất điều hòa sinh trưởng:
Các chất điều hòa sinh trưởng hay còn gọi là chất kích thích sinh trưởng thực vật
là các yếu tố hóa học cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật. Chất
điều hòa sinh trưởng thực vật có thể là những chất tự nhiên được sản xuất với một
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
22 MSSV : 0811110007
Trường ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TP HCM
hàm lượng rất nhỏ trong một bộ phận nào đó của cá thể thực vật hoặc là những chất
được tổng hợp nhân tạo. Các chất điều hòa tăng trưởng gồm 2 nhóm chính: auxin và
cytokinin. Ngoài ra còn có gibberlin, ethylene, abscisic acid (ABA).
động lên cả hai bước của sự phân chia tế bào: phân nhân và phân bào. Trong nuôi cấy
các mô nghèo cytokinin (mô lõi thuốc lá, vỏ rễ đậu), auxin kích thích sự phân đôi
nhiễm sắc thể, thậm chí tạo tế bào hai nhân, nhưng không có sự phân vách, sự phân
vách chỉ xảy ra khi có cytokinin ngoại sinh. Cytokinin giúp sự gia tăng kích thước tế
bào và sinh tổng hợp protein. Trong thân và rễ, cytokinin cản trở sự kéo dài nhưng
kích thích sự tăng rộng tế bào lá trưởng thành.
Trong các nghiên cứu nuôi cấy mô thực vật, tỷ lệ auxin/cytokinin (A/C) là một
yếu tố rất quan trọng: A/C cao giúp sự tạo rễ, A/C thấp giúp tạo chồi. Như cậy,
cytokinin hỗ trợ auxin trong tăng trưởng nhưng đồng thời cũng có sự đối kháng giữa
auxin (giúp tạo rễ), cytokinin (giúp tạo chồi). Sự cân bằng giữa hai kiểu hormone này
là một trong những yếu tố kiểm soát sự phát triển.
Các chất kích thích điều hòa tăng trưởng hầu như không tan trong nước cất vì
vậy khi pha các chất này cần lưu ý:
− Nhóm auxin chủ yếu tan trong cồn hoặc bazơ.
− Nhóm cytokinin chủ yếu tan trong acid hay bazơ.
Không nên pha một lượng dung dịch mẹ các chất sinh trưởng quá nhiều vì nó rất
dễ biến tính.
Gibberellin:
Gibberellin là một nhóm trong các chất điều hòa sinh trưởng thực vật gồm hơn 80
hợp chất khác nhau. Các hợp chất này có điểm giống nhau ở cấu trúc hóa học đó là có
sườn gibbane, được trích ra từ thực vật, vi sinh vật và được đánh số sau chữ GA. Acid
gibberellic
3
(GA
3
) và hỗn hợp giữa GA
3
với acid gibberellic
7
(GA
quá trình lão hóa hay đang chín đột phát.
Là một chất khí, ethylene vận chuyển bằng phương thức khuếch tán từ nơi nó
được tổng hợp. Có một chất trung gian rất quan trọng 1- aminocyclopropane – 1-
carbonxylic acid (ACC) có thể được vận chuyển và có thể giải thích những ảnh
hưởng của ethylene ở xa nơi gây ra sự kích thích.
Ethylene có ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh lý của thực vật như:
SVTH: Nguyễn Thị Diễm Chi
25 MSSV : 0811110007