LUẬN VĂN:
Biện pháp nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học giáo dục của
sinh viên Đại học Sư phạm
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước những yêu cầu về phát triển văn hóa xã hội và đào tạo nguồn nhân lực
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu trong quá trình tổ chức NCKHGD của S V Đại học Sư phạm chú trọng đến
việc chuẩn bị tâm lý, gây hứng thú, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu, tạo
điều kiện vật chức và kỹ thuật thuận lợi cùng với việc quy chế hóa hoạt động này thì
chất lượng NCKHGD của SV sẽ được nâng lên.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về NCKHGD của SV Đại học Sư phạm.
5. 2. Nghiên cứu thực trạng NCKHGD của SV ở trường Đại học Sư phạm phiá
Nam.
5.3. Đề xuất những biện pháp cơ bản có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng
cao chất lượng NCKHGD của SV.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chúng tôi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động NCKHGD của SV
Đại học Sư phạm. Để thuận lợi cho việc điều tra thực trạng và tiến hành TNSP, chúng
tôi chỉ nghiên cứu các trường ĐHSP phía Nam.
7. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa các cơ sở phương pháp luận sau đây:
7.1.1. Lý thuyết hoạt động - nhân cách
Lý thuyết hoạt động- nhân cách đã được A.N. Leonchiev giải thích như sau: hoạt
động là phương thức tồn tại của chủ thể, là quy luật chung nhất của tâm lý người. “Hoạt
động là mối liên hệ thực tế của chủ thể với khách thể mà trong mối liên hệ này hoặc
khác, cá nhân cần tiếp thu, ghi nhớ, suy nghĩ và trở thành chăm chỉ. Trong quá trình
hoạt động, ở cá nhân xuất hiện tình cảm này hoặc khác, thể hiện phẩm chất, ý chí, hình
thành tâm thế, thái độ v.v…”[63, tr305]. Hoạt động là tính tích cực bên trong và bên
ngoài của con người được điều chỉnh bởi mục đích tự giác, gắn nhận thức và ý chí. Đối
tượng và chủ thể hoạt động là thể thống nhất hữu cơ trong suốt quá trình hoạt động.
Vận dụng lý thuyết hoạt động- nhân cách, chúng tôi thấy đưa SV vào hoạt động
NCKH sẽ giúp họ luyện tập hình thành năng lực NCKH, tạo ra nội lực, niềm tin và sức
mạnh trí tuệ.
của hoạt động NCKHGD của SV.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra cơ bản, nhằm thu thập thông tin về thực
trạng hoạt động NCKHGD của SV ở ĐHSP.TPHCM.
7.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi xác định mục tiêu quan sát là những biểu hiện của nhận thức, thái độ
và hành vi của SV trong các hình thức hoạt động nghiên cưú khoa học.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Chúng tôi tiến hành phân tích chất lượng các sản phẩm NCKHGD của SV với
các nội dung sau:
- Năng lực vận dụng các PPNC.
- Các KNNCKH như soạn thảo phiếu điều tra, xây dựng giả thuyết thực
nghiệm, tra cứu tài liệu, trích dẫn tài liệu, vẽ sơ đồ, biểu đồ…
- Kết quả đề tài NCKHGD về điểm số, nội dung và hình thức.
7.2.5. Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi lấy ý kiến chuyên gia về các nội dung sau:
- Đánh giá hoạt động NCKHGD của SV :
- Xác định các trọng số đo kĩ năng NCKHGD của SV qua các sản phẩm cụ thể.
- Quy trình thực nghiệm khoa học.
7.2.6. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê
Trong đề tài chúng tôi thể hiện kết quả nghiên cứu dưới dạng tần số, tần suất. Các
biến định tính và định lượng được xử lý với chương trình SPSS for Windows 12.0
Một số công thức toán thống kê được sử dụng trong đề tài:
- Chi bình phương (X
2
)
- Kiểm nghiệm tương quan bằng bảng phân phối t (student)
- Kiểm nghiệm F
- Tương quan nhị phân (Biseral Correlation)
Trong các trường cao đẳng, đại học ở Liên Xô trước đây, người ta coi luận văn,
khoá luận tốt nghiệp của sinh viên là hình thức NCKH ở mức độ cao. Từ những góc độ
khác nhau của quan điểm này, các giả đã chú ý đến những nội dung sau đây:
a) Về tác dụng và tầm quan trọng của NCKH thông qua việc làm niên luận,
khoá luận
Năm 1971, Lubixưna M.T và Gơrôxepxki. A.A trong “Tổ chức công việc tự học
của SV” [34] cho rằng: Khóa luận tốt nghiệp của SV đại học là một trong những hình
thức hoàn thiện về mặt đào tạo khoa học cho SV, đây là hình thức tự học, tự nghiên cứu
độc lập có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ tay nghề ở người SV.
Chú ý đến hứng thú và kĩ năng ứng dụng tri thức của sinh viên, năm 1979
Ackhanghenxki S.I trong “Những bài giảng về lý luận dạy học ở Đại học” [1] cho rằng:
Một trong những con đường để phát triển hứng thú nhận thức và kỹ năng ứng dụng tri
thức của SV là các bài kiểm tra, các khóa luận, những trắc nghiệm chuyên môn. Theo
tác giả: “khóa luận, đồ án tốt nghiệp là công trình độc lập cuối cùng của SV trong năm
học cuối”. Khóa luận tốt nghiệp là công trình khoa học độc đáo, trình bày một trong
những vấn đề cấp thiết của ngành chuyên môn nào đó mà SV nghiên cứu.
Năm 1982, Zinôviev S.I trong “Quá trình dạy học ở trường Đại học Xô Viết”
[124] đã nhấn mạnh ý nghĩa của niên luận, khóa luận đối với quá trình đào tạo. Cũng
theo tác giả khi thực hiện niên luận, khoá luận thì mức độ độc lập và tập dượt NCKH
của SV được nâng dần lên qua đó giúp họ có những quan điểm, thái độ đối với những
tác phẩm khoa học và những phẩm chất, năng lực của người NCKH cũng được hình
thành. Mặt khác để SV thành công trong NCKH, tác giả cũng quan tâm đến các vấn đề
giúp họ giải quyết khó khăn khi chọn đề tài, xây dựng cấu trúc của công trình nghiên
cứu.
b) Về tổ chức và phương pháp NCKH
Năm 1972 P.T.Prikhodko trong tác phẩm “Tổ chức và phương pháp công tác
NCKH” [77] đã giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản về phương pháp nghiên cứu của
các công trình khoa học, để giúp cho các cán bộ NCKH mới vào nghề và các chuyên gia
nâng cao trình độ nghiên cứu.
Research” [126], đã giúp SV và những người nghiên cứu ở mọi lĩnh vực có thể xây
dựng được cho mình một kế hoạch nghiên cứu với những phương pháp cần thiết. Trong
tài liệu tác giả đặt trọng tâm vào việc giới thiệu các các nguyên tắc, các phương pháp
cũng như những công cụ, kỹ thuật cần thiết khi nghiên cứu giáo dục. Phương pháp
nghiên cứu đượctác giả quan tâm là phương pháp mô tả, thử nghiệm.
e) Về những vấn đề lý thuyết trong NCKH
Năm 1996, Brian Allison (Singapore) trong “Research skills for students -
National institute of education” [125] đã cung cấp cho SV những lý thuyết về những
KNNC, như kỹ năng tiến hành một cuộc điều tra mẫu, thiết kế một bảng câu hỏi và
những kỹ thuật khi sử dụng phương pháp phỏng vấn
h) Về các phương pháp điều tra và đo lường
Sổ tay quốc tế Educational Research, Methodology and Measurement [133] do
John P. Keeves, Australia, tổng chủ biên (1996) là một cuốn tài liệu có giá trị trên 1000
trang. Trong tài liệu này, tập thể tác giả đã giới thiệu các quá trình và phương pháp
nghiên cứu giáo dục, đặc biệt là các thủ tục và kỹ thuật nghiên cứu, đo lường, sử dụng
máy tính và các thiết bị kỹ thuật trong NCKHGD.
1.1.2. Ở trong nước
Có khá nhiều bài viết được đăng trên báo và tạp chí về chủ đề NCKH, tuy nhiên
trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi quan tâm đến hai nội dung có liên quan là lý
luận về NCKHGD và hoạt động NCKHGD của sinh viên.
a) Các bài viết về lý luận NCKHGD có thể kể ra là: Bản chất của nghiên cứu
khoa học, Nguyễn Trọng Hoàng [44]; Phương pháp mô hình trong KHGD, Nguyễn
Hữu Long [65]; Những nguyên lý cơ bản của phương pháp học Mác- Lênin về nghiên
cứu khoa học giáo dục, Nguyễn Trọng Hoàng [46]; Tìm hiểu một số phương pháp tiếp
cận nghiên cứu khoa học giáo dục, Thái Duy Tuyên [104]; Những phẩm chất và năng
lực cơ bản cần cho công tác nghiên cứu khoa học” Nguyễn Trọng Hoàng [45],và Chọn
đề tài nghiên cứu khoa học” Nguyễn Trọng Hoàng [47] …
b) Các bài viết về NCKHGD của sinh viên có hai nội dung đáng quan tâm: một
là khẳng định tầm quan trọng của NCKHGD trong sinh viên, hai là đề xuất các giải
giáo dục đang nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt động dạy học, giáo dục và quản lý,
chỉ đạo giáo dục.
Năm 1981, Phạm Minh Hạc và nhiều tác giả khác đã biên soạn “Phương pháp
luận khoa học giáo dục” [35], tài liệu được xuất bản trước Hội thảo lần thứ II của đề tài
nghiên cứu tập thể về Phương pháp luận và Phương pháp NCKHGD. Nội dung tài liệu
trình bày có tính chất đặt vấn đề đối với NCKHGD trong thực tiễn ở nước ta, những
vấn đề cơ bản của phạm trù và một số chuyên ngành KHGD…
Năm 1992, Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức có giáo trình “Phương pháp luận và
các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”[50]. Các tác giả đã trình bày những
khái niệm chung về PPLKHGD, những nguyên tắc PPL và một số vấn đề có tính chất
PPL của KHGD, các PPNCKHGD và các giai đoạn nghiên cứu một đề tài KHGD.
Năm 1995, Lê Tử Thành với giáo trình “Logic học và phương pháp luận nghiên
cứu khoa học” [88 ], đã đáp ứng phần nào nhu cầu của SV, học viên cao học về kiến
thức và biết cách tiến hành việc NCKH hợp lý, hiệu quả.
Năm 1995, Nguyễn Văn Lê, trong tài liệu “Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học” [59] đã giúp học viên biết cách chọn đề tài, chuẩn bị nghiên cứu và có kiến thức về
các phương pháp dùng để nghiên cưú khoa học.
Năm 1995, tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa với “Phương pháp và kỹ thuật trong
nghiên cưú xã hội” [67] đã giới thiệu với SV một số vấn đề, phương pháp và kỹ thuật
cơ bản trong việc thu thập và phân tích các dữ kiện xã hội, tác giả chú trọng hơn các
phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Năm 1996-1997, Phạm Viết Vượng biên soạn 2 giáo trình “Phương pháp nghiên
cứu khoa học giáo dục” [120] và “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” [119],
nhằm cung cấp cho SV, học viên những kiến thức chung về phương pháp luận, phương
pháp, cấu trúc công trình nghiên cưú khoa học, các giai đoạn tiến hành một đề tài
NCKHGD và những vấn đề về KNNCKHGD để giúp họ thực hiện được công trình
NCKH.
Năm 1997, Hoàng Đức Nhuận với “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học và
phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục” [72] đã cung cấp cho SV và học viên
thành cho SV KNNCKHGD, đó là:
- Dạy lý thuyết về phương pháp NCKHGD.
- Tổ chức cho SV thực hiện các bài tập sáng tạo, là phương pháp cơ bản nhất để
hình thành cho SV hệ thống KNNC.
Nguyễn Lệ Thuy [90], với đề tài “Tìm hiểu tổ chức thực hiện khóa luận, luận văn
tốt nghiệp đại học ở khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, đã đề
xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKHGD của SV, đó là:
- Tổ chức rèn KNNCKHGD cho SV sư phạm trong suốt 4 năm học.
- Tiến hành các hình thức bồi dưỡng rèn luyện KNNCKH có hệ thống.
- Tạo điều kiện về kinh phí tối thiểu dành cho SV NCKH.
Nông Thị Hạnh [38] trên cơ sở khảo sát thực trạng NCKHGD của SV trường Cao
đẳng sư phạm Cao Bằng đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
NCKHGD của SV, đó là:
- Đưa hoạt động NCKHGD vào chương trình đào tạo.
- Cần bồi dưỡng nhận thức đúng đắn về vai trò của việc NCKHGD cho học
sinh, SV.
- Bồi dưỡng lý luận NCKHGD cho học sinh, SV.
- Bồi dưỡng cho học sinh, SV một hệ thống kĩ năng NCKH.
- Tổ chức cho học sinh, SV NCKHGD làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp.
- Tổ chức các hoạt động đa dạng “SV NCKH” trong phạm vi của trường và
liên kết giữa các trường bạn.
Cao Thị Hằng [40], cũng trên cơ sở khảo sát thực trạng NCKHGD của SV trường
cao Đẳng sư phạm Hải Dương đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
NCKHGD của SV, đó là:
- SV cần phải nâng cao ý thức thái độ đối với hoạt động NCKH.
- Bồi dưỡng KNNCKH cho SV.
- Giáo viên không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm
hướng dẫn khoa học.
- Tăng cường hướng dẫn SV thực hiện các bài tập sáng tạo.
chuyên nghiêp [10], đã quy định về mục đích, yêu cầu và nội dung của học phần PPNC
KHGD.
Quyết định số 08/2000/QĐ của BGD &ĐT, ngày 30/3/2000 [11] về việc ban
hành quy chế về NCKH của SV các trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Quyết
định có 4 chương và 14 điều, gồm những nội dung về quy định chung, vấn đề quản lý
NCKH của SV, trách nhiệm, quyền lợi của SV tham gia NCKH và cán bộ hướng dẫn,
các điều khoản thi hành về NCKH của SV.
Công văn số 7483/KHCN, ngày 30/7/200 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ
chức xét tặng giải thưởng “SV nghiên cứu nghiên cứu khoa học” trong các trường đại
học và các học viện [12]. Nội dung công văn gồm các tiêu chuẩn chấm điểm công trình,
phương pháp đánh giá, xếp giải các công trình NCKH của SV, phân cấp việc đánh giá,
xếp giải đối với 2 đại học quốc gia và các cơ sở.
Trên đây là những chỉ đạo cụ thể của Bộ Giáo dục & Đào tạo về NCKH của SV
ở tất cả các khâu nhằm giúp các nhà quản lý, cán bộ hướng dẫn và SV thực hiện đúng
các yêu cầu đối với công tác NCKH, rất cần thiết để nâng cao chất lượng NCKH của
SV trong các trường cao đẳng, đại học.
Điểm lại công trình của những người đi trước, chúng tôi thấy các tác giả (cả
trong và ngoài nước) đều đã đề cập đến 4 vấn đề sau:
Một là tầm quan trọng của NCKH và cách tổ chức cho SV NCKH.
Hai là về lý luận, các tác giả ngoài nước (từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XIX)
đã đi trước các tác giả ở Việt Nam trong việc cung cấp phương pháp luận và phương
pháp NCKH. Ở Việt Nam khoảng 10 năm gần đây, khi công tác NCKH được chú ý hơn
trong các trường đại học và đặc biệt là khi việc đào tạo Sau đại học được mở rộng thì
mới có nhiều tài liệu hướng dẫn NCKH ra đời, sâu sắc về nội dung và đa dạng về thể
loại.
Ba là về thực trạng hoạt động NCKHGD của SV còn gặp nhiều khó khăn, như ít
được cung cấp kiến thức về cơ sở lí luận NCKH, ít có cơ hội để vận dụng vì vậy chất
lượng NCKHG còn rất thấp.
Bốn là về các biện pháp để nâng cao chất lượng NCKHGD trong SV, ngoài các
chân lý trong hiện thực hoặc khám phá những quy luật, nguyên lý mới trong hiện thực
đó”, Hà Thế Ngữ [71, tr10].
“ NCKH là hoạt động nhận thức có đặc trưng tạo ra giá trị nhận thức mới trước đó
chưa ai biết… để giải quyết những mâu thuẫn giữa một bên là những điều chưa ai biết
mới nẩy sinh và một bên là những hiểu biết đã có. Những giá trị nhận thức mới đó sẽ
giúp loài người đi sâu vào bản chất, quy luật của thế giới và do đó nâng cao năng lực
nhận thức và cải tạo thế giới của loài người và năng lực tập thể của xã hội. NCKH có
tác dụng bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển khoa học”, Nguyễn Trọng Hoàng [44].
“NCKH là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học
chưa biết hoặc phát hiện ra bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới
hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”, Vũ
Cao Đàm [23].
“NCKH là một hoạt động đặc biệt của con người. Đây là hoạt động có mục đích, có
kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm
chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao”, Phạm Viết Vượng [120, tr21].
“NCKH là một hoạt động có hệ thống nhằm đạt được đến sự hiểu biết có kiểm
chứng” Dương Thiệu Tống, [95, tr 221].
Như vậy, các tác giả ở trên đã đưa ra những định nghiã khác nhau về NCKH, tựu
chung các định nghĩa đều phản ánh được các đặc điểm sau:
- NCKH là một hoạt động nhận thức được tổ chức có hệ thống của con người.
- NCKH nhằm phát hiện tri thức mới về bản chất, quy luật của thế giới khách
quan.
- Kết quả NCKH được thực tiễn chứng minh và có vai trò cải tạo thực tiễn.
1.2.1. 2 Nghiên cứu khoa học của SV
NCKH của SV là con đường tìm kiếm những tri thức mới một cách độc lập, tự
giác, đòi hỏi SV tư duy độc lập và tự chủ. Vì vậy mà tri thức họ tiếp thu được trở nên
sâu sắc và vững chắc. Song điều quan trọng hơn là qua hoạt động NCKH SV được cung
cấp kiến thức về phương pháp để đạt được những tri thức đó.Hoạt động NCKH của SV
Với những đặc diểm nêu trên, NCKHGD của SV bắt đầu từ việc xác định tên đề tài và
kết thúc bằng việc phát hiện ra những hiểu biết mới, rút ra những kết luận khoa học
đúng đắn. Qua đó, SV dần dần nắm vững những phương pháp nhận thức khoa học, hình
thành nên nhu cầu, hứng thú NCKH.
1.2.2 NCKHGD của SINH VIÊN
- Khoa học giáo dục
Một cách chung nhất có thể hiểu khoa học giáo dục là khoa học nghiên cưú về
lĩnh vực giáo dục. Sau đây là mốt số định nghĩa tiêu biểu:
Theo viện sĩ Phạm Minh Hạc “KHGD là một bộ phận của hệ thống khoa học
nghiên cứu về con người bao gồm Giáo dục học, Giáo dục học bộ môn, TLH lứa tuổi,
TLH dạy học, Sinh lí học lứa tuổi” [35, tr8].
Theo Nguyễn Sinh Huy “KHGD là khoa học về giáo dục hay khoa học nghiên
cưú về giáo dục” [57, tr31].
Bàn về KHGD, Hà Thế Ngữ [71] cho rằng “KHGD là một bộ phận của KHXH”
và “KHGD Marx – Lênin là một bộ phận hợp thành không thể chia cắt được của chủ
nghĩa Marx- Lênin về xã hội và hoạt động sáng tạo cuả con người”. Theo ông, KHGD
là khoa học nghiên cưú về quá trình giáo dục và đào tạo con người dưới những tác động
có mục đích của xã hội và vì sự phát triển của xã hội.
Dương Thiệu Tống trong tác phẩm: “Suy nghĩ về văn hoá, giáo dục Việt Nam”
[95, tr 219] có đưa ra định nghĩa: “KHGD là khoa học nghiên cứu các vấn đề giáo dục
nhằm phát hiện ra quy luật khách quan, khái quát lên thành những lĩnh vực giáo dục
khác nhau nhằm giải thích hoặc tiên đoán các hiện tượng giáo dục mới và giải quyết các
vấn đề do thực tiễn giáo dục đề ra. Đồng thời, KHGD luôn có mối liên hệ mật thiết với
các khoa học tự nhiên và xã hội”.
NCKHGD của SINH VIÊN
Ý nghiã của nghiên cứu khoa học giáo dục đối với SV ĐHSP
Nhiệm vụ của trường ĐHSP là đào tạo SV thành đội ngũ giáo viên tương lai. Việc tổ
chức cho SV tham gia NCKHGD đảm bảo nguyên tắc “học đi đôi với hành”, “lí luận
gắn liền với thực tiễn”, thực hiện qui luật “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo”.
1.2.3. Chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên
1.2.3.1 Chất lượng :
Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng, sau đây là một số dịnh nghiã tiêu biểu:
Theo từ điển triết học [106]: chất và lượng – hai phạm trù triết học phản ánh
những mặt quan trọng của hiện thực khách quan.
Chất là tính quy định của một sự vật khiến cho nó là sự vật này, chứ không phải
là sự vật khác, và khác các sự vật khác. Chất của sự vật không phải là quy về từng đặc
tính của nó. Nó gắn với sự vật như một tổng thể, bao quát tòan bộ sự vật và không tách
ra khỏi sự vật. Do đó, khái niệm chất là gắn liền với sự tồn tại của sự vật.
Lượng là một tính quy định của sự vật mà nhờ đó ta có thể phân chia nó thành
những bộ phận cùng loại và có thể tập hợp các bộ phận đó lại làm một. Tính cùng loại
(tương tự, giống nhau) của các bộ phận hay của các sự vật là dấu hiệu tiêu biểu của
lượng. Lượng không gắn chặt với sự tồn tại của sự vật, lượng được đặc trưng bằng mối
quan hệ bên ngoài với bản chất của sự vật.
Như vậy ở góc độ là phạm trù triết học ta có thể hiểu chất lượng như sau:
Chất lượng là tổng hợp những thuộc tính của sự vật chỉ rõ nó là cái gì, làm cho
nó có tính ổn định tương đối và phân biệt nó với các sự vật khác.
Chất lượng là tính quy định khách quan của sự vật, nó biểu hiện ra ngoài thông
qua các thuộc tính, chất lượng là cái liên kết lại làm thành các thuộc tính của sư vật, xác
định tính chủ thể, toàn vẹn của nó. Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi sự vật về
căn bản.
Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó
và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất
của chất lượng và số lượng.
Về phương diện triết học số lượng bao giờ cũng được hiểu như là số lượng của
chất lượng nào đó chính vì thế cần lưu ý trước tiên tới các loại cứ liệu:
cầu có thể được công bố rõ dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng cũng có
những nhu cầu không được mô tả rõ ràng, người sử dụng chi có thể cảm nhận chúng
hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng.
- Do nhu cầu luôn luôn biến đổi nên chất lượng cũng luôn biến đổi theo
thời gian, không gian và điều kiện sử dụng.
Như vây, chất lượng của một thực thể, một sản phẩm vừa có tính chủ quan vừa
có tính khách quan vì chất lượng sản phẩm không chỉ tập hợp thuộc tính bản chất của sự
vật mà còn là mức thỏa mãn những thuộc tính ấy với những yêu cầu, mục tiêu của
chuẩn mực chất lượng đã xác định, với các nhu cầu sử dụng trong những điều kiện cụ
thể.
1.2.1.2 Chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên
a. Biểu hiện chất lượng NCKHGD:
Từ những tiếp cận về chất lượng nêu trên, chúng tôi đã xác định những biểu hiện
về chất lượng NCKHGD của SV gồm có:
- Nhận thức của SV đối với NCKHGD
- Thái độ
- Hệ thống kỹ năng mà họ đạt được trong quá trình NCKHGD
- Sản phẩm NCKHGD phải phù hợp với mục tiêu
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng NCKHGD của SV
- Sự quan tâm của nhà trường
- Đội ngũ Gvlà những người hướng dẫn khoa học (trình độ, kinh nghiệm, nhiệt huyết)
- Cơ sở vật chất của nhà trường (tài liệu, máy móc)
- Thời gian dành cho NCKH
c. Tiêu chí đánh giá chất lượng NCKHGD của S V
Một trong những biểu hiện của chất lượng NCKHGD của SV là sản phẩm NC. Đó là
những sản phẩm họ đạt được qua các hình thức NCKHGD từ đơn giản đến phức tạp
như seminar; BTMH; KLTN . Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã
tiến hành đo KNNCKHGD qua các sản phẩm nêu trên.
1.3. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NHỮNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
diễn giảng hoặc hình thức sử dụng các phương tiện dạy học
-Về phía SV,trên cơ sở nhận tác động từ phía gíao viên, họ tiến hành hoạt động tự học,
tự nghiên cứu tài liệu học tập, chuẩn bị cho seminar, thực hành. Dưới sự hướng dẫn,tổ
chức,điều khiển của gíao viên, tiến hành hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học thông
qua các hình thức làm bài tập nghiên cứu, KLTN.Đồng thời tham gia các hoạt động
ngoại khóa dưới các hình thức khác nhau.
1.3.3 Nghiên cứu khoa học là hình thức tổ chức dạy học quan trọng nhất
Nghiên cứu khoa học là hình thức tổ chức dạy học quan trọng nhất và bắt buộc đối với
SV. Bởi lẽ, qua nghiên cứu khoa học, S V bước đầu tập vận dụng PPL và PPNC khoa
học trong thực tiễn. Đó là điều kiện để họ tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất
nghiên cứu của mình.
Trong quá trình học tập ở trường đại học, SVthường tham gia các hình thức
nghiên cứu khoa học theo mức độ từ thấp đến cao: seminar, BTMH,
KLTN.
Dưới đây là một vài nét cơ bản về các hình thức đó.
* Seminar ở đại học là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản, trong đó,
dưới sự điều khiển trực tiếp của GV,sinh viên trình bày, thảo luận, tranh luận về những
vấn đề khoa học nhất định.
Seminar là hình thức thảo luận khoa học, tranh luận về học thuật nhằm khơi sâu, mở
rộng vốn tri thức, tìm tòi phát hiện chân lý hoặc chứng minh, tìm các vận dụng chân lý
khoa học vào thực tiễn. Vì thế seminar phải có chủ đề khoa học để SVcăn cứ vào đó mà
trình bày báo cáo, thảo luận , tranh luận.Ngoài ra seminar phải có thày hướng dẫn, điều
khiển.
Seminar ở đại học cần thực hiện tốt các chức năng nhận thức, giáo dục, chức năng kiểm
tra và tự kiểm tra.
* Bài tập môn học, SVhoàn thành để thay thế cho bài kiểm tra hoặc thi hết môn, kết
thúc học phần…
BTMH phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải giải quyết được các nhiệm vụ của một đề tài nhỏ về mặt lý luận và thực tiễn, hoặc
học. Công trình NCKH thực chất là chứng minh một giả thuyết khoa học.
Trong ba cơ chế sáng tạo trên, chúng tôi nhận thấy: Theo cơ chế trực giác, con
người thể hiện khả năng phát hiện ra chân lí bằng cảm quan trực tiếp, bất thần, không
thông qua con đường suy lí lôgic một cách tuần tự. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp
vẫn có thể tìm thấy mối liên hệ giữa con đường trực giác với con đường suy lí dẫn tới
các sáng tạo lớn vốn đã được thai nghén lâu dài trong nhiều lần suy nghĩ từ trước, mặc
dù vẫn còn mù mờ, chưa thực rõ. Thực hiện được cơ chế này, là các bác học hoặc các
nhà khoa học có tài năng đặc biệt.
Thực hiện cơ chế Algôrit, sinh viên cần thiết lập chương trình, kế hoạch nghiên cứu,
nghĩa là miêu tả đầy đủ quá trình nghiên cứu như một hệ thống, cần thực hiện theo thứ
tự lần lượt với một hệ thống các thao tác phù hợp.
Theo cơ chế Ơritstic, sinh viên cần đề xuất giả thuyết khoa học như là một dự báo
định hướng và chứng minh một giả thuyết khoa học về một sự kiện, hiện tượng mới.
Nghiên cứu khoa học của SV, là hoạt động học tập sáng tạo, nên rất khó có thể thực
hiện theo cơ chế trực giác (loại trừ sinh viên có tài năng). Vì thế trong hoạt động
NCKH, sinh viên cần sử dụng phối hợp cơ chế Algôrit (thiết lập và thực hiện chương
trình, kế hoạch nghiên cứu) và Ơritstic (đề xuất và chứng minh giả thuyết khoa học).
Bản chất hoạt động NCKH của sinh viên là hoạt động sáng tạo. Khi tổ chức NCKH
cho sinh viên, cần dạy cho họ tư duy độc lập, sáng tạo, trên cơ sở có sự tích luỹ kiến
thức và kinh nghiệm để có những ý tưởng mới. Do đó việc cung cấp tri thức, kỹ năng,
là tiền đề cho hoạt động NCKH và cần được tổ chức theo quy trình riêng.
Vấn đề cốt lõi của hoạt động NCKH là bồi dưỡng cho SV tư duy sáng tạo, bắt đầu
từ việc xuất hiện những ý tưởng về đề tài nghiên cứu, tiếp đến là những biến đổi đặc
biệt trong tư duy theo những cơ chế nhất định để tạo ra sản phẩm. Sinh viên khi
nghiên cứu khoa học, họ thực hiệ theo các cơ chế sau:Thực hiện hoạt động NCKH,
SV tuân Phải tác động những biện pháp giúp SV nẩy sinh ý tưởng sáng tạo, phá vỡ
một sức ì tâm lý truyền thống trong học tập và nghiên cứu.
Bản chất của sáng tạo là tư duy có định hướng, ý tưởng là nguồn của quá trình sáng
tạo. Như vậy, dạy sinh viên NCKH trong trường đại học là dạy cho họ phương pháp tư