LUẬN VĂN: Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên Đại học Sư phạm potx - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Biện pháp nâng cao chất lượng
nghiên cứu khoa học giáo dục của
sinh viên Đại học Sư phạm

MỞ ĐẦU

3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động NCKHGD của SV Đại học Sư phạm. Đối
tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao chất lượng NCKHGD của SV Đại học Sư
phạm.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu trong quá trình tổ chức NCKHGD của S V Đại học Sư phạm chú trọng
đến việc chuẩn bị tâm lý, gây hứng thú, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu,
tạo điều kiện vật chức và kỹ thuật thuận lợi cùng với việc quy chế hóa hoạt động
này thì chất lượng NCKHGD của SV sẽ được nâng lên.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về NCKHGD của SV Đại học Sư phạm.
5. 2. Nghiên cứu thực trạng NCKHGD của SV ở trường Đại học Sư phạm
phiá Nam.
5.3. Đề xuất những biện pháp cơ bản có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm
nâng cao chất lượng NCKHGD của SV.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chúng tôi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động NCKHGD của
SV Đại học Sư phạm. Để thuận lợi cho việc điều tra thực trạng và tiến hành TNSP,
chúng tôi chỉ nghiên cứu các trường ĐHSP phía Nam.
7. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa các cơ sở phương pháp luận sau đây:
7.1.1. Lý thuyết hoạt động - nhân cách
Lý thuyết hoạt động- nhân cách đã được A.N. Leonchiev giải thích như sau:
hoạt động là phương thức tồn tại của chủ thể, là quy luật chung nhất của tâm lý
người. “Hoạt động là mối liên hệ thực tế của chủ thể với khách thể mà trong mối
liên hệ này hoặc khác, cá nhân cần tiếp thu, ghi nhớ, suy nghĩ và trở thành chăm
chỉ. Trong quá trình hoạt động, ở cá nhân xuất hiện tình cảm này hoặc khác, thể
hiện phẩm chất, ý chí, hình thành tâm thế, thái độ v.v…”[63, tr305]. Hoạt động là
tính tích cực bên trong và bên ngoài của con người được điều chỉnh bởi mục đích tự

phải tính đến điều kiện đảm bảo khả năng thực hiện được trong hoạt động
NCKHGD của SV.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lý thuyết nhằm tìm ra cơ sở lý
luận của hoạt động NCKHGD của SV.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra cơ bản, nhằm thu thập thông tin về
thực trạng hoạt động NCKHGD của SV ở ĐHSP.TPHCM.
7.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi xác định mục tiêu quan sát là những biểu hiện của nhận thức, thái
độ và hành vi của SV trong các hình thức hoạt động nghiên cưú khoa học.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Chúng tôi tiến hành phân tích chất lượng các sản phẩm NCKHGD của SV
với các nội dung sau:
- Năng lực vận dụng các PPNC.
- Các KNNCKH như soạn thảo phiếu điều tra, xây dựng giả thuyết thực
nghiệm, tra cứu tài liệu, trích dẫn tài liệu, vẽ sơ đồ, biểu đồ…
- Kết quả đề tài NCKHGD về điểm số, nội dung và hình thức.
7.2.5. Phương pháp chuyên gia
Chúng tôi lấy ý kiến chuyên gia về các nội dung sau:
- Đánh giá hoạt động NCKHGD của SV :
- Xác định các trọng số đo kĩ năng NCKHGD của SV qua các sản phẩm cụ
thể.
- Quy trình thực nghiệm khoa học.
7.2.6. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê
Trong đề tài chúng tôi thể hiện kết quả nghiên cứu dưới dạng tần số, tần suất.
Các biến định tính và định lượng được xử lý với chương trình SPSS for Windows
12.0

NCKH của SV là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình đào tạo ở
các trường cao đẳng, đại học. Đây cũng là hình thức tổ chức dạy học đặc thù nhằm
nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của nhà trường. Chính vì thế, việc tổ chức,
rèn luyện cho SV kỹ năng hoạt động NCKH đã trở thành vấn đề cấp thiết thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước.
1.1.1. Ở nước ngoài
Trong các trường cao đẳng, đại học ở Liên Xô trước đây, người ta coi luận
văn, khoá luận tốt nghiệp của sinh viên là hình thức NCKH ở mức độ cao. Từ
những góc độ khác nhau của quan điểm này, các giả đã chú ý đến những nội dung

sau đây:
a) Về tác dụng và tầm quan trọng của NCKH thông qua việc làm niên luận,
khoá luận
Năm 1971, Lubixưna M.T và Gơrôxepxki. A.A trong “Tổ chức công việc tự
học của SV” [34] cho rằng: Khóa luận tốt nghiệp của SV đại học là một trong những
hình thức hoàn thiện về mặt đào tạo khoa học cho SV, đây là hình thức tự học, tự
nghiên cứu độc lập có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ tay nghề ở
người SV.
Chú ý đến hứng thú và kĩ năng ứng dụng tri thức của sinh viên, năm 1979
Ackhanghenxki S.I trong “Những bài giảng về lý luận dạy học ở Đại học” [1] cho
rằng: Một trong những con đường để phát triển hứng thú nhận thức và kỹ năng ứng
dụng tri thức của SV là các bài kiểm tra, các khóa luận, những trắc nghiệm chuyên
môn. Theo tác giả: “khóa luận, đồ án tốt nghiệp là công trình độc lập cuối cùng của
SV trong năm học cuối”. Khóa luận tốt nghiệp là công trình khoa học độc đáo, trình
bày một trong những vấn đề cấp thiết của ngành chuyên môn nào đó mà SV nghiên
cứu.
Năm 1982, Zinôviev S.I trong “Quá trình dạy học ở trường Đại học Xô Viết”
[124] đã nhấn mạnh ý nghĩa của niên luận, khóa luận đối với quá trình đào tạo.
Cũng theo tác giả khi thực hiện niên luận, khoá luận thì mức độ độc lập và tập dượt
NCKH của SV được nâng dần lên qua đó giúp họ có những quan điểm, thái độ đối

tránh được những sai sót khi tập dượt nghiên cứu.
d)Về việc lập kế hoạch NCKH
Ở Singapore, năm 1983 Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài
liệu: “ The management of a student research project” [131] nhằm giúp SV biết
cách quản lý kế hoạch nghiên cứu. Theo các tác giả nếu SV quản lý được kế hoạch
nghiên cứu thì họ sẽ làm chủ công trình của mình và tất nhiên sẽ tránh được những
khó khăn, vấp váp khi nghiên cứu. Các tác giả đã trình bày trong tài liệu những vấn
đề về nghiên cứu, chọn lựa và đánh giá, xây dựng kế hoạch cho một đề tài nghiên
cứu, tập hợp và phân tích dữ liệu, xử lý KQNC.
Năm 1990, Gary Anderson (New York), trong “Fundamentals of educational
Research” [126], đã giúp SV và những người nghiên cứu ở mọi lĩnh vực có thể xây
dựng được cho mình một kế hoạch nghiên cứu với những phương pháp cần thiết.
Trong tài liệu tác giả đặt trọng tâm vào việc giới thiệu các các nguyên tắc, các

phương pháp cũng như những công cụ, kỹ thuật cần thiết khi nghiên cứu giáo dục.
Phương pháp nghiên cứu đượctác giả quan tâm là phương pháp mô tả, thử nghiệm.
e) Về những vấn đề lý thuyết trong NCKH
Năm 1996, Brian Allison (Singapore) trong “Research skills for students -
National institute of education” [125] đã cung cấp cho SV những lý thuyết về
những KNNC, như kỹ năng tiến hành một cuộc điều tra mẫu, thiết kế một bảng câu
hỏi và những kỹ thuật khi sử dụng phương pháp phỏng vấn
h) Về các phương pháp điều tra và đo lường
Sổ tay quốc tế Educational Research, Methodology and Measurement [133]
do John P. Keeves, Australia, tổng chủ biên (1996) là một cuốn tài liệu có giá trị
trên 1000 trang. Trong tài liệu này, tập thể tác giả đã giới thiệu các quá trình và
phương pháp nghiên cứu giáo dục, đặc biệt là các thủ tục và kỹ thuật nghiên cứu, đo
lường, sử dụng máy tính và các thiết bị kỹ thuật trong NCKHGD.
1.1.2. Ở trong nước
Có khá nhiều bài viết được đăng trên báo và tạp chí về chủ đề NCKH, tuy nhiên
trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi quan tâm đến hai nội dung có liên quan là lý

kiến thức mà còn được rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp khoa học”.
Ngoài ra, còn có một số bài viết khác như: “Công tác nghiên cứu khoa học
với việc nâng cao chất lượng đào tạo” [76] của Nguyễn Tấn Phát; “Đưa kết quả
NCKHGD vào thực tiễn trường học” [70] của Hà Thế Ngữ. Tác giả đã cho rằng
việc đưa kết quả NCKHGD vào thực tiễn trường học là một vấn đề quan trọng của
phương pháp luận GDH. Giải quyết đúng đắn vấn đề này sẽ thúc đẩy sự phát triển
KHGD, đem lại những tiến bộ vững chắc cho công tác dạy học và giáo dục, đồng
thời nâng cao hiệu quả kinh tế của NCKHGD.
Năm 1974, Hà Thế Ngữ- Đức Minh- Phạm Hoàng Gia, biên soạn tài liệu
“Bước đầu tìm hiểu phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” [71 ]. Đây là tài
liệu đầu tiên ở trong nước gợi ý về cách thức NCKHGD nhằm phục vụ đông đảo
giáo viên và cán bộ giáo dục đang nghiên cứu nâng cao chất lượng hoạt động dạy
học, giáo dục và quản lý, chỉ đạo giáo dục.
Năm 1981, Phạm Minh Hạc và nhiều tác giả khác đã biên soạn “Phương
pháp luận khoa học giáo dục” [35], tài liệu được xuất bản trước Hội thảo lần thứ II
của đề tài nghiên cứu tập thể về Phương pháp luận và Phương pháp NCKHGD. Nội
dung tài liệu trình bày có tính chất đặt vấn đề đối với NCKHGD trong thực tiễn ở

nước ta, những vấn đề cơ bản của phạm trù và một số chuyên ngành KHGD…
Năm 1992, Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức có giáo trình “Phương pháp luận
và các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”[50]. Các tác giả đã trình bày
những khái niệm chung về PPLKHGD, những nguyên tắc PPL và một số vấn đề có
tính chất PPL của KHGD, các PPNCKHGD và các giai đoạn nghiên cứu một đề tài
KHGD.
Năm 1995, Lê Tử Thành với giáo trình “Logic học và phương pháp luận
nghiên cứu khoa học” [88 ], đã đáp ứng phần nào nhu cầu của SV, học viên cao học
về kiến thức và biết cách tiến hành việc NCKH hợp lý, hiệu quả.
Năm 1995, Nguyễn Văn Lê, trong tài liệu “Phương pháp luận nghiên cứu
khoa học” [59] đã giúp học viên biết cách chọn đề tài, chuẩn bị nghiên cứu và có
kiến thức về các phương pháp dùng để nghiên cưú khoa học.

pháp luận nhận thức xã hội học, về cách thiết kế một nghiên cứu xã hội học, cũng
như những quy tắc, những phương pháp, những cách thức, thủ tục cần thiết cho việc
thực hiện nghiên cứu xã hội.
Có thể nói rằng, trong những giáo trình đã nêu, các tác giả đều tập trung vào
việc cung cấp cho SV kiến thức về phương pháp luận, PPNC, quy trình thực hiện và
KNNCKH nói chung và NCKHGD nói riêng, trên cơ sở đó họ có thể tổ chức và
thực hiện công trình NCKH của mình. Các tài liệu đã phần lớn đáp ứng được yêu
cầu đào tạo của các trường cao đẳng, đại học và yêu cầu của người NCKH.
Các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Lệ Thuỷ, Nguyễn Thị Hảo (1986), Cao Thị
Thu Hằng (2000), Nông Thị Hạnh (2000), đã tiến hành khảo sát thực trạng
NCKHGD của SV các trường Cao đẳng, Đại học sư phạm để trên cơ sở đó đề xuất
các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKHGD của SV. Cụ thể:
Nguyễn Thị Hảo với đề tài “Tìm hiểu quá trình hình thành kĩ năng nghiên cứu
khoa học giáo dục cho SV các trường Đại học sư phạm” [39], đã đề xuất các biện
pháp hình thành cho SV KNNCKHGD, đó là:
- Dạy lý thuyết về phương pháp NCKHGD.
- Tổ chức cho SV thực hiện các bài tập sáng tạo, là phương pháp cơ bản nhất
để hình thành cho SV hệ thống KNNC.
Nguyễn Lệ Thuy [90], với đề tài “Tìm hiểu tổ chức thực hiện khóa luận, luận
văn tốt nghiệp đại học ở khoa Tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội”,
đã đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng NCKHGD của SV, đó là:

- Tổ chức rèn KNNCKHGD cho SV sư phạm trong suốt 4 năm học.
- Tiến hành các hình thức bồi dưỡng rèn luyện KNNCKH có hệ thống.
- Tạo điều kiện về kinh phí tối thiểu dành cho SV NCKH.
Nông Thị Hạnh [38] trên cơ sở khảo sát thực trạng NCKHGD của SV trường
Cao đẳng sư phạm Cao Bằng đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng NCKHGD của SV, đó là:
- Đưa hoạt động NCKHGD vào chương trình đào tạo.
- Cần bồi dưỡng nhận thức đúng đắn về vai trò của việc NCKHGD cho

- Điểm số SV đạt được qua sản phẩm nghiên cứu.
- Những thuận lợi và khó khăn khi SV tham gia NCKH.
Trên cơ sở thực trạng, các tác giả đưa ra các biện pháp để nâng cao chất
lượng NCKH nói chung và rèn KNNCKHGD nói riêng cho SV.
Ngoài các công trình nêu trên, về mặt pháp quy, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
có những văn bản sau:
Quy chế về việc làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp ở các trường đại học sư
phạm theo quyết định số 3047/ĐTBĐ, ngày 15/12/1984 [8] và kèm theo đó là thông
tư số 30, ngày 17/12/1984 [9], hướng dẫn thực hiện quy chế nêu trên. Thông tư đã
hướng dẫn cụ thể các trường về:
- Mục đích, ý nghĩa và tinh thần thực hiện quy chế.
- Tổ chức, điều kiện và chế độ thực hiện quy chế.
- Yêu cầu về nội dung và hình thức của khoá luận, luận văn.
- Nhiệm vụ của người hướng dẫn.
- Đánh giá, cho điểm.
- Chính sách đối với giáo sinh.
Quyết định 2677/GD-ĐT, ngày 3/12/1993, chương trình phần giáo dục cốt
lõi chuyên nghiêp [10], đã quy định về mục đích, yêu cầu và nội dung của học phần
PPNC KHGD.
Quyết định số 08/2000/QĐ của BGD &ĐT, ngày 30/3/2000 [11] về việc
ban hành quy chế về NCKH của SV các trường đại học và cao đẳng trong cả nước.
Quyết định có 4 chương và 14 điều, gồm những nội dung về quy định chung, vấn đề
quản lý NCKH của SV, trách nhiệm, quyền lợi của SV tham gia NCKH và cán bộ
hướng dẫn, các điều khoản thi hành về NCKH của SV.
Công văn số 7483/KHCN, ngày 30/7/200 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về

việc tổ chức xét tặng giải thưởng “SV nghiên cứu nghiên cứu khoa học” trong các
trường đại học và các học viện [12]. Nội dung công văn gồm các tiêu chuẩn chấm
điểm công trình, phương pháp đánh giá, xếp giải các công trình NCKH của SV,
phân cấp việc đánh giá, xếp giải đối với 2 đại học quốc gia và các cơ sở.

nghiệm sư phạm trên diện rộng.
Tóm lại, qua tất cả các văn bản và công trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước có thể thấy rằng: những vấn đề về phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu về cơ bản đã được giải quyết. Những thành tựu nghiên cứu
của các tác giả về những vấn đề trên đã góp phần rất lớn cho quá trình NCKH nói
chung và cho SV các trường cao đẳng, đại học nói riêng. Tuy nhiên, để nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động NCKHGD của SV, chúng ta cần tăng cường hơn
nữa các biện pháp cụ thể và khả thi, phù hợp với thực tế dạy và học của các trường
cao đẳng, đại học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây cũng chính là vấn đề mà
đề tài hướng đến nhằm giải quyết những yêu cầu cấp thiết đó.
1.2. KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.2.1 Nghiên cứu khoa học của S V
1.2.1.1 Nghiên cứu khoa học
Có khá nhiều định nghĩa về NCKH, sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:
“NCKH là một quá trình nghiên cứu hiện thực khách quan, phát hiện ra những
hiểu biết mới có tính quy luật, có tính chân lý hoặc tìm ra được những quy luật mới,
chân lý mới trong hiện thực đó”. “NCKH là phát hiện những hiện tượng, sự việc
mới có tính chân lý trong hiện thực hoặc khám phá những quy luật, nguyên lý mới
trong hiện thực đó”, Hà Thế Ngữ [71, tr10].
“ NCKH là hoạt động nhận thức có đặc trưng tạo ra giá trị nhận thức mới trước
đó chưa ai biết… để giải quyết những mâu thuẫn giữa một bên là những điều chưa
ai biết mới nẩy sinh và một bên là những hiểu biết đã có. Những giá trị nhận thức
mới đó sẽ giúp loài người đi sâu vào bản chất, quy luật của thế giới và do đó nâng
cao năng lực nhận thức và cải tạo thế giới của loài người và năng lực tập thể của xã
hội. NCKH có tác dụng bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển khoa học”, Nguyễn Trọng
Hoàng [44].
“NCKH là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa
học chưa biết hoặc phát hiện ra bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về

thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế


+ Tham gia soạn thảo các phiếu điều tra
+ Tham gia cùng điều tra, khảo sát
+ Tham gia xử lý số liệu
+ Tham gia seminar
Là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học, NCKH của SV đặc điểm về mục dích,
nội dung, hình thức:
Về mục đích :
- Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
- Tiếp cận và vận dụng các phương pháp nghiên cưú khoa học.
- Giải quyết một số vấn đề về khoa học và thực tiễn.
Để thực hiện được mục đích trên, NCKH của S V phải phù hợp với khả năng và
nguyện vọng, nội dung của chương trình đào tạo và một số đòi hỏi của thực
tiễn của xã hội., định hướng của khoa học và công nghệ Ngoài ra NCKH
không ảnh hưởng đến học tập chính khóa của SV.
Về nội dung và hình thức NCKH :
- Nghiên cứu những vấn đề thuộc lĩnh vực được đào tạo.
- Tham gia triển khai áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất,
kinh doanh, đời sống và an ninh quốc phòng.
- Tham gia vào các hội nghị, hội thảo khoa học, hội thi sáng tạo khoa học cộng nghệ
tuổi trẻ, thông tin khoa học công nghệ, câu lạc bộ khoa
Với những đặc diểm nêu trên, NCKHGD của SV bắt đầu từ việc xác định tên đề tài
và kết thúc bằng việc phát hiện ra những hiểu biết mới, rút ra những kết luận khoa
học đúng đắn. Qua đó, SV dần dần nắm vững những phương pháp nhận thức khoa
học, hình thành nên nhu cầu, hứng thú NCKH.
1.2.2 NCKHGD của SINH VIÊN
- Khoa học giáo dục
Một cách chung nhất có thể hiểu khoa học giáo dục là khoa học nghiên cưú
về lĩnh vực giáo dục. Sau đây là mốt số định nghĩa tiêu biểu:
Theo viện sĩ Phạm Minh Hạc “KHGD là một bộ phận của hệ thống khoa học

học.
- Phát triển khả năng tự học, tự giáo dục, tự nghiên cứu suốt đời.

Nhiệm vụ của các trường đại học sư phạm, không chỉ đào tạo đội ngũ giáo
viên có trình độ về chuyên môn mà còn rèn luyện cho họ khả năng tư duy, giải
quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, có năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực
hiểu và cảm hóa học sinh trong quá trình giáo dục và dạy học. Nói cách khác, người
SV Sư phạm phải được bồi dưỡng về kiến thức khoa học cơ bản, chuyên ngành và
kiến thức KHGD.
Do đó, việc cung cấp cho SV hệ thống kiến thức KHGD là một trong những
nội dung cơ bản của các trường Sư phạm. Tuy nhiên, kiến thức KHGD chỉ có thể
được đào sâu, mở rộng và phát triển khi người học tích cực, chủ động tham gia vào
hoạt động NCKHGD. Vì vậy, các trường Sư phạm có nhiệm vụ tổ chức cho SV
NCKHGD nhằm hình thành và rèn luyện cho họ thói quen và kĩ năng NCKH để
phục vụ cho sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của đất nước.
Các hình thức nghiên cứu KHGD của SV
- Viết thu hoạch sau khi đọc các tác phẩm KHGD.
- Seminar.
- Thu hoạch sau đợt thực hành, thực tập sư phạm.
- Bài tập nghiên cứu môn học.
- Khóa luận tốt nghiệp.
- SV tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học với tổ bộ môn.
- Tham dự các hội nghị khoa học.
- Hội nghị NCKH của SV.
1.2.3. Chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên
1.2.3.1 Chất lượng :
Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng, sau đây là một số dịnh nghiã tiêu

CBQL Giáo dục và Đào tạo II, [89] đã quan niệm về chất lượng như sau:
Chất lượng là một phạm trù phức tạp và phụ thuộc nhiều vào quan niệm của
chủ thể liên quan đến sản phẩm. Sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá
trình. Sản phẩm có thể là hữu hình hay vô hình.
Theo nghĩa tuyệt đối:
Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, sự việc

làm cho sự vật, sự việc này phân biệt với sự vật, sự việc khác.
Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật, là cái tạo nên bản
chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia.
Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh, đặc trưng tuyệt đối, dấu
hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản. Chất lượng thể hiện ở các khía cạnh:
sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú xuất sắc, hoàn hảo, sự phù hợp, thích hợp, sự thể
hiện giá trị, sự biến đổi về chất.
Theo nghĩa tương đối thì một sản phẩm, một hành động hay một quá trình
được coi là có chất lượng, khi chúng đạt được những chuẩn mực nhất định theo quy
ước trước.
Theo ý nghĩa sử dụng thì chất lượng được hiểu là toàn bộ các đặc tính của
một thực thể tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã công bố hay
nhu cầu tiềm ẩn. Thực thể ở đây là một sản phẩm, một hành động, một quá trình,
một nhà trường, một hệ thống, hay một SV cụ thể.
Từ quan niệm trên mà suy ra một số đặc điểm của chất lượng là:
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu vì lý do nào đó
mà sản phẩm không thỏa mãn nhu cầu thì bị coi là chất lượng kém.
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng ta phải xét và chỉ xét
đến những đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ
thể. Nhu cầu có thể được công bố rõ dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng
cũng có những nhu cầu không được mô tả rõ ràng, người sử dụng chi có thể cảm
nhận chúng hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng.
- Do nhu cầu luôn luôn biến đổi nên chất lượng cũng luôn biến đổi

Các nhà nghiên cứu lý luận dạy học ở đại học đã khảng định quá trình nhận
thức của SVcó tính chất nghiên cứu, nó cao hơn quá trình nhận thức của học sinh
phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận thức của các nhà khoa học.
Trong quá trình nghiên cứu tính độc đáo quá trình nhận thức của SVchúng ta
cần tránh hai khuynh hướng sau đây:
Thứ nhất, không tuyệt đối hoá sự giống nhau giữa quá trình nhận thức của
SVvới quá trình nhận thức của học sinh phổ thông cũng như của các nhà khoa học .
Nếu như vậy sẽ dẫn đến hậu quả là coi Svđại học như là học sinh phổ thông và sẽ
làm thui chột hay hạn chế sự phát triển năng lực của họ; hoặc coi SVnhư các nhà
khoa học và buộc học phải tiến hành quá trình nhận thức bằng con đường vòng vèo.

Thứ hai, không tuyệt đối hóa tính độc đáo quá trình nhận thức của SVso với
quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và của các nhà khoa học. Nếu như vậy
sẽ không kế thừa được kinh nghiệm dạy tốt, học tốt ở trường phổ thông, hoặc không
làm cho hoạt động nhận thức của Svtiếp cận với nhận thức của các nhà khoa học.
1.3.2. Các hình thức tổ chức dạy học ở đại học
Căn cứ vào tính chất và chức năng của các loại hình tổ chức dạy học ở đại
học, người ta chia các hình thức tổ chức dạy học ở đại học thành 3 loại sau đây:
Loại 1: Các hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp SVtìm tòi tri thức, hình thành kỹ
năng, kỹ xảo.
Loại 2: Các hình thức tổ chức dạy học nhằm kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo của SV.
Loại 3: Các hình thức tổ chức dạy học có tính chất ngoại khóa.
Tất cả các hình thức tổ chức dạy học đều có vị trí và chức năng nhất định trong quá
trình dạy học ở đại học. Chúng có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau nhưng không thể thay thế nhau được. Trên thực tế, một quá trình dạy học hoàn
chỉnh ở đại học thường diễn ra theo các hình thức tổ chức dạy học sau:
- GVcăn cứ vào mục đích, nhiệm vụ dạy học, có thể tác động đến Svbằng hình thức
diễn giảng hoặc hình thức sử dụng các phương tiện dạy học
-Về phía SV,trên cơ sở nhận tác động từ phía gíao viên, họ tiến hành hoạt động tự

đẹp. Nói cách khác BTMH của SVphải phản ánh được trình độ tập vận dụng các
phương pháp NCKH cơ bản về một bộ môn, một chuyên đề và những tri thức cơ
bản có liên quan với chúng.
* Khóa luận tốt nghiệp phải đáp ứng yêu cầu cao hơn bài tập nghiên cứu. Cụ thể, nó
phải giải quyết được các nhiệm vụ nghiên cứu của một đề tài lý luận hay thực tiễn,
hoặc cả lý luận và thực tiễn trên cơ sở vận dụng phối hợp, có hiệu quả các phương
pháp nghiên cứu khác nhau. Song KLTN của SV chỉ dừng ở mức độ có tính chất
tập dượt nghiên cứu.
1.3.2 Cơ chế sáng tạo của hoạt động NCKH của S V
PGS. Phạm Viết Vượng trong giáo trình “Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học” [119, tr. 55 - 59] đã trình bày ba loại cơ chế sáng tạo sau:
a) Cơ chế trực giác: Trong NCKH, các nhà khoa học nhiều khi có các ý tưởng
độc đáo xuất hiện hết sức đột ngột, bỏ qua tất cả các bước, các thao tác tư duy theo
logic thông thường và ngay tức khắc họ nhìn thấy rõ mọi điều cần thiết, ở thời điểm

Trích đoạn Theo nội dung nghiên cứu Về khĩa luận tốt nghiệp Đánh giá của SV về các nội dung NCKHGD theo ngành học và năm học 1 Kích thích hứng thú NCKH cho sinh viên Tạo phong trào NCKHGD trong sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status