LUẬN VĂN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và sự vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình trong những năm đầu thế kỷ XXI doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và
sự vận dụng vào công tác vận động nông
dân ở tỉnh Quảng Bình trong những
năm đầu thế kỷ XXI

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về dân vận - một bộ phận
hết sức quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho Đảng và nhân dân các
dân tộc ở nước ta.
Có thể nói, tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh không những chứa đựng tinh thần
trọng dân, thương dân, hết lòng chăm lo lợi ích của nhân dân, nhận rõ sức mạnh của nhân
dân, mà còn chỉ ra nội dung và phương thức vận động, tập hợp nhân dân.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn xác định rõ vai trò, vị trí
quan trọng của công tác dân vận đối với sự nghiệp cách mạng. Bước vào thế kỷ XXI, đất
nước đứng trước nhiều thời cơ và thách thức lớn; trong đó thách thức nổi bật là âm mưu

công tác dân vận và tích cực đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, tạo ra
sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác vận động nhân dân là một đòi hỏi bức
thiết hiện nay.
Với những lý do đó, tôi chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và sự
vận dụng vào công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình trong những năm đầu
thế kỷ XXI" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí
Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận là một công việc cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu này được nhiều cơ quan, tổ chức và
nhiều nhà khoa học quan tâm thực hiện và đã có nhiều công trình nghiên cứu được công
bố. Sau đây là một số công trình tiêu biểu mà tôi đã tham khảo:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận của TS. Đỗ Quang Tuấn, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005; Khái niệm, nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng của Hồ
Chí Minh về dân vận của PGS.TS Nguyễn Bá Linh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005; Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của TS. Thanh Tuyền, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Cán bộ dân vận thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, của TS.
Trịnh Xuân Giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tác phẩm dân vận của Chủ tịch
Hồ Chí Minh mãi mãi toả sáng, soi đường cho công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ
mới của TS. Nguyễn Văn Hùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Tư tưởng dân
vận của Hồ Chí Minh với việc xây dựng kỹ năng, nghiệp vụ công tác dân vận của Lương Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác dân vận
của hệ thống chính trị của Đinh Hồng Vân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quyền
hạn và lợi ích của dân trong bài báo dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị
Cận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; Quan hệ giữa chính quyền nhà nước và nhân
dân trong sự nghiệp cách mạng của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005; Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động nông dân của Lê Hoàng
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005; GS. Văn Tạo: Học tập tư tưởng dân vận Hồ

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng,
nêu ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận
hiện nay ở tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu
sau đây:
- Phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
vận.
- Phân tích thực trạng công tác nông vận trong những năm đầu thế kỷ XXI của
tỉnh Quảng Bình, từ đó rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của thực trạng trên.
- Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và đánh giá thực trạng công tác
nông vận, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác nông vận
trong những năm đầu thế kỷ XXI ở tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và việc quán triệt, vận dụng tư
tưởng đó trong vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu quá trình hình thành và nội dung cơ bản tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân vận; nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng đó trong công tác nông vận
những năm đầu thế kỷ XXI ở tỉnh Quảng Bình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng ta về công tác dân vận. - Phương pháp luận của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng của triết
học Mác - Lênin.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người suốt đời đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc
nô lệ thành dân tộc tự do, đưa người dân Việt Nam từ thân phận người dân thuộc địa lên
địa vị người làm chủ đất nước; đồng thời Người cũng suốt đời phấn đấu xây dựng một
nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Khái niệm "dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và phát triển những quan
điểm tiến bộ về dân trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, lịch sử tư tưởng phương
Đông, phương Tây và khái niệm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Hồ Chí Minh đã rút ra một hệ thống các quan niệm về dân. Cho dù xét theo cách
tiếp cận nào thì quan niệm của Hồ Chí Minh về dân Việt Nam có thể khái quát trên các
nội dung sau:
Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung một lãnh thổ
thống nhất, là đồng bào, là "con Rồng cháu Tiên", là "con Hồng cháu Lạc", là anh em
ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người cùng giai cấp, là những người yêu
nước, là lực lượng cách mạng…
Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai thừa nhận mình
là “Con dân đất Việt”. Người thường nói đến “Con Rồng cháu Tiên”, “đồng bào”, gốc
tích Việt Nam, “Hồng Bàng là tổ tiên ta”, “người chung một nước”, không phân biệt dân
tộc thiểu số với dân tộc đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng,
không phân biệt “già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện”. Dân là toàn bộ đồng bào trong
đại gia đình các dân tộc Việt Nam, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài.
Dân là “toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu,
nghèo, giai cấp, tôn giáo” [26, tr.8].

Dân ở đây trừ bọn phản bội, làm tay sai cho đế quốc thực dân đi ngược lại quyền
lợi, nguyện vọng của toàn dân, dân tộc. Nói đến dân cũng là nói đến tuyệt đại đa số nhân
dân là công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác. Với quan niệm đó,
Người cho rằng giai cấp tư sản dân tộc - những người có lòng yêu nước, cũng là dân; họ cũng có đóng góp nhất định trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh


Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ, vấn đề nhất quán và sáng
tỏ nhất là sự khẳng định ngay chế độ dân chủ của nước ta phải thể hiện “bao nhiêu lợi ích
đều vì dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi dân”. Quan
niệm đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội dân chủ là chế độ đại diện,
uỷ quyền, trong đó chính quyền và đoàn thể “do dân cử ra và do dân tổ chức nên”.
Tóm lại, quan niệm dân chủ ở nước ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: dân là chủ và
dân làm chủ; bản chất của vấn đề dân chủ là quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, địa
vị của dân là cao nhất, dân là chủ thể của mọi quyền lực. Có thể nói toàn bộ tư tưởng chủ
đạo về dân chủ của Hồ Chí Minh nằm trong chữ "Dân".
1.1.3. Quan niệm về dân vận
Dân vận là một hoạt động vận động, giác ngộ quần chúng nhân dân làm cho dân
hiểu, dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân quyết định trong quá trình thực hiện các nhiệm
vụ cách mạng do Đảng ta lãnh đạo.
Hồ Chí Minh thường dùng thuật ngữ “Công tác quần chúng” và “dân vận” để chỉ
một lĩnh vực công tác của Đảng. Vấn đề dân vận có nhiều khái niệm khác nhau và cho đến
nay vẫn chưa có khái niệm nào xúc tích, dễ hiểu, lại độc đáo như khái niệm mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết trong bài “Dân vận”.
Người viết:
Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót
một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công
việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho.
Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu,
truyền đơn, chỉ thị mà đủ.
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ
ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho
kỳ được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và
kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh
địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.

lòng người đứng lên giữ nước:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư" [3, tr.65].
Tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông, Trần
Quốc Tuấn nhận thấy rằng nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng là “Vua tôi đồng tâm,
anh em hoà thuận, cả nước góp sức”, và ông căn dặn: "Phải khoan thử sức dân để làm kế
bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Những lời tâm huyết đó đã thúc giục lòng
người đứng lên giết giặc lập công.
Lê Lợi, Nguyễn Trãi bằng chiến lược đánh vào lòng người đã động viên toàn quân,
toàn dân trên tư tưởng "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân", "chở thuyền cũng là dân, lật
thuyền cũng là dân".
Tổng kết chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi nhấn mạnh nguyên nhân thắng lợi là
gắn bó với nhân dân, và vận động, giáo dục, phát huy sức mạnh của nhân dân:
"Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phất phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào" [3, tr.78].
Như vậy, để tập hợp lực lượng, các chính quyền phong kiến đã biết phát huy tinh
thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, đứng dưới ngọn cờ cứu nước. Trước hoạ ngoại
xâm, cứu nước là để cứu dân. Kẻ ngoại xâm “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi
con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” [3, tr.76], nên cứu nước và giành lại nền độc lập cho đất
nước là để cứu dân. Sau khi thắng lợi, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có ý định
thực hiện "kế sâu rễ, bền gốc là khoan thử sức dân".
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh vượt qua hệ tư tưởng phong kiến, tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, thực hiện
một bước tiến về chất trong lịch sử tư tưởng dân tộc nói chung và trong vấn đề vận
động quần chúng nói riêng. Tuy nhiên, các nhà yêu nước nổi tiếng này chưa có
phương pháp đánh giá và công tác vận động nhân dân một cách khoa học, nên phải

lãnh đạo; các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng,
huấn luyện quần chúng dám xả thân đấu tranh.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ rằng sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch;
cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Tuy nhiên, quần chúng nhân dân chỉ có thể phát
huy được sức mạnh của mình khi họ được tổ chức lại:
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mục đích trước
mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô
sản giành lấy chính quyền” [41, tr.615].
Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng:
1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu
không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người
lãnh đạo; 2) Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu
tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết
phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc (nếu không
thì bọn mị dân sẽ dễ lôi cuốn được những tầng lớp lạc hậu trong quần chúng);
một tổ chức như thế thì chủ yếu phải gồm những người lấy hoạt động cách
mạng làm nghề nghiệp của mình [35, tr.158-159].
Vì vậy, V.I.Lênin nhấn mạnh "hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách
mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên!" [35, tr.162].
Muốn có sức mạnh phải thống nhất ý chí, phải đoàn kết, phải có tổ chức. Vì thế
trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen viết: “Vô sản tất cả các
nước, đoàn kết lại!” [41, tr.646]. Vận dụng tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen vào thời
đại của mình - thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, Lênin kêu gọi mở rộng
khối đại đoàn kết của giai cấp công nhân với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Về phương hướng công tác dân vận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ cần phải dùng
phương pháp nêu gương và giúp đỡ; trong công tác dân vận thì những tấm gương, những
mô hình thực tiễn cụ thể có tác dụng cổ vũ, động viên, hướng dẫn quần chúng nhân dân

loại, đường lối của cách mạng thế giới. Với ý nghĩa đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở,
là nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất để Người nâng cao truyền thống yêu nước của dân tộc
theo phương hướng “Giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản”, hình thành
và hoàn chỉnh tư tưởng về con đường cách mạng Việt Nam nói chung, về tư tưởng dân
vận nói riêng để vận động, giáo dục, tổ chức nhân dân hành động dưới ngọn cờ của đảng
nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
* Cơ sở thực tiễn:
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của nước ta đã tạo nên mối quan hệ đoàn
kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong chống chọi với thiên nhiên cũng như trong chống giặc
ngoại xâm của cộng đồng người Việt. Lịch sử đã chứng minh truyền thống đoàn kết, ý
chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc ta đã được hun đúc qua hàng nghìn năm
dựng nước và giữ nước. Hồ Chí Minh là người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc; đã nhận thức được lịch sử Việt Nam thời phong kiến, tuy chỉ là những việc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng đã ghi lại những tấm gương tâm
huyết dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Khi đất nước bị giặc xâm lăng, “Vua tôi
đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thử sức dân để làm kế sâu rễ,
bền gốc là thượng sách giữ nước”. Hội nghị Diên Hồng đời Nhà Trần là một điển hình
của truyền thống đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng, thu phục tướng sĩ,
nhân tài, phát huy sức mạnh của cả dân tộc để đánh đuổi kẻ thù. Truyền thống này được
Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy lên một tầm cao mới, trong thời đại mới.
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc vũ
trang xâm lược và áp bức của chúng đối với dân tộc ta. Chúng đã thi hành nhiều chính
sách nguy hiểm và bằng mọi thủ đoạn độc ác, đê hèn để bóc lột nhân dân ta, đặc biệt là
chính sách “chia để trị”. Với chính sách đó kẻ thù hòng phân biệt, tách rời giữa đồng bào
miền xuôi với đồng bào miền ngược, giữa đồng bào không theo đạo với đồng bào theo
đạo… Nguy hiểm hơn, chúng đã chia đất nước ta thành ba miền: Bắc - Trung - Nam; mỗi
miền có một chế độ cai trị khác nhau nhằm tập trung phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,
một truyền thống có từ lâu đời của chúng ta. Thực tế đó đặt ra cho cách mạng nước ta

ở ấn Độ.
1.2.2. Quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã dành không ít
tâm sức của mình vào công việc to tát, vĩ đại và hệ trọng bậc nhất là vận động, tổ chức và
lãnh đạo quần chúng làm cách mạng. Lý luận Dân vận của Hồ Chí Minh hoà làm một với
thực hành công tác dân vận, một cuộc thực hành bền bỉ kéo dài trong suốt cuộc đời của
Người. Tư tưởng dân vận của Người được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn liền
với quá trình hoạt động cách mạng của Người; gắn liền với quá trình phát triển, thắng lợi
của cách mạng Việt Nam.
1.2.2.1 Thời kỳ thơ ấu đến năm 1920: tham gia hoạt động yêu nước và hình
thành tư tưởng yêu nước, tư tưởng dân vận
Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống yêu nước và lòng nhân ái từ
gia đình và quê hương. Tại quê hương, Hồ Chí Minh được khai tâm bằng chữ Hán, hấp
thụ tinh thần yêu nước bất khuất của phong trào chống Pháp, cách đối nhân xử thế, nhân
nghĩa thuỷ chung, khí khái của các nhà nho yêu nước. Tại Huế (1895 - 1901 và 1906 -
1909), Hồ Chí Minh học được kiến thức về tự nhiên, xã hội, bước đầu tiếp xúc với văn
minh phương Tây. Thời kỳ này, Hồ Chí Minh cũng đã chứng kiến cảnh đàn áp dã man của thực dân
Pháp đối với những người yêu nước Việt Nam; cảnh sống cơ cực, đói rách của nhân dân
lao động; cuộc sống xa hoa của bọn thực dân Pháp và quan lại tay sai. Hồ Chí Minh tham
gia phong trào biểu tình chống thuế của nhân dân Trung Kỳ, thấy được thất bại của phong
trào Đông Du (1906 - 1908) do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo và phong trào “Đông kinh
Nghĩa thục”(1907).
Tìm hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Hồ chí
Minh nhận xét như sau: chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp của Phan Bội Châu,
“Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” [69, tr.13];
chủ trương của Phan Chu Trinh dựa vào Pháp để “Duy Tân” đất nước “chẳng khác gì đến
xin giặc rủ lòng thương” [69, tr.12]; còn cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám

châu Âu, chú ý xem xét tình hình các nước, suy nghĩ về thực tế đang diễn ra ở các nước
đó và nhận định rằng: trên thế giới này chỉ có hai giống người: bị bóc lột và bóc lột mà
thôi. Người kết luận giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn; chủ
nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. Từ đó đã làm nảy nở ở Người tình cảm và ý thức giai
cấp cũng như tình đoàn kết quốc tế. Người cũng đã tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên
thế giới, khảo sát cuộc sống, tình cảnh của nhân dân bị áp bức và ảnh hưởng về con
đường Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, một cuộc cách mạng đã thành công đến
nơi, vì “Cách mạng rồi quyền giao cho dân chúng số nhiều”. Bằng những hoạt động tích
cực ấy, Hồ Chí Minh đã đi trước một đoạn đường khá thành công của công tác dân vận.
Năm 1920, đọc Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Hồ
Chí Minh tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, tìm thấy lực lượng
cách mạng hùng hậu cho thắng lợi của cách mạng thuộc địa. Tháng 12/1920, tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp họp tại thành phố Tua, Hồ Chí Minh bỏ
phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III . Tiếp đó, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản
Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển
biến về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người. Từ đây, khát
vọng giải phóng dân tộc của Người được soi sáng bởi một hệ tư tưởng cách mạng và
khoa học. Đó là chủ nghĩa Mác - Lênin.
1.2.2.2. Thời kỳ từ năm 1921 đến năm 1930: hình thành cơ bản tư tưởng về con
đường cách mạng Việt Nam và tư tưởng dân vận
Thời kỳ này Hồ Chí Minh vừa tiếp tục hoạt động cách mạng, vừa đi sâu nghiên cứu
tư tưởng Mác- Lênin, từng bước xây dựng tư tưởng, chiến lược, sách lược, phương pháp
và lực lượng cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Năm 1921, Hồ Chí Minh cùng một số chiến sỹ cách mạng ở nhiều nước lập ra tổ chức “Hội Liên hiệp thuộc
địa” và xuất bản báo Le Paria. Tháng 12/1921, theo kiến nghị của Hồ Chí Minh, Đảng
Cộng sản Pháp thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa. Hồ Chí Minh được cử làm trưởng
Tiểu ban nghiên cứu Đông Dương.
Năm 1923, trong bức "Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp” trước khi rời nước

ta muốn sống thì phải cách mệnh. (2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân
chúng chứ không phải việc một hai người. (3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. (4) Đem phong trào thế giới nói cho đồng
bào ta rõ. (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách mệnh thì phải làm thế nào?6. Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ. Chắc có người chê
rằng văn chương cụt quằn. Vâng ! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau
mắn, chắc chắn như 2 lần hai là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả.
Sách này chỉ ước ao sao đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh
dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mệnh.
Văn chương và hy vọng sách này chỉ ở trong hai chữ “Cách mệnh! Cách
mệnh!! Cách mệnh !!! [44, tr.262].Đây là

cách đặt vấn đề xuất phát từ quan điểm thực tiễn rất tiêu biểu của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Quan điểm này là nền tảng của dân vận, của khoa học chính trị vận động
quần chúng.
Tác phẩm “Đường Kách mệnh” là ngọn cờ chỉ đạo; là bước chuẩn bị rất cơ bản về
chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ 6/1 đến 7/2/1930, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Hợp nhất các tổ chức cộng sản
trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và các đoàn thể cách mạng Việt Nam như
Thanh niên Cộng sản Đoàn, Hội Phụ nữ, Công hội, Hội Cứu tế đỏ, Hội Nông dân và Hội
Phản đế đồng minh. Hội nghị Hợp nhất đã thông qua “Chánh cương vắn tắt của Đảng”,
“Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Chương trình tóm tắt của Đảng” và “Điều lệ vắn tắt của
Đảng Cộng sản Việt Nam”. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh khởi

thời gian này, Người tiếp tục bảo vệ và phát triển những tư tưởng, quan điểm đúng đắn
của mình về cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong
phong trào cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Tháng 7/1935, Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản được tổ chức ở Mátxcơva, Hồ
Chí Minh tham gia đoàn đại biểu Đảng ta với tư cách là đại biểu tư vấn. Căn cứ vào tình
hình quốc tế lúc này, Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã thay đổi sự chỉ đạo chiến lược và
chủ trương mở rộng mặt trận thống nhất nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân,
đấu tranh chống phát xít, bảo vệ tự do, dân chủ, hoà bình. Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản đã
khắc phục được một bước quan trọng xu hướng tả khuynh trong phong trào cộng sản và
phong trào quốc tế, tạo điều kiện để cách mạng nhiều nước có bước tiến mới.
Như vậy, thực tiễn cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam đã chứng minh
những quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải tổ chức mặt trận dân tộc thống
nhất rộng rãi, tập trung mũi nhọn chống đế quốc là đúng đắn và sáng tạo.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Người chủ trì Hội nghị Trung ương VIII, cụ thể hoá đường lối do Người vạch ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết. Trong
bài "Kính cáo đồng bào", Người chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng
cao hơn hết thảy" [45, tr.198]. Người chủ trương thành lập Việt Minh, vận động toàn
dân thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, tiến tới giành chính quyền, giải
phóng dân tộc. Nhờ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo đó của Người, cuộc Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Đó là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ
Chí Minh, trong đó có tư tưởng dân vận của Người và tư tưởng đó có sức sống mãnh liệt
trong thực tiễn đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.
1.2.2.4. Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1969: phát triển toàn diện tư tưởng dân
vận Hồ Chí Minh
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa đến sự ra đời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ra đời từ hệ thống thuộc địa của
chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công vì có những bước đi

công.
Năm 1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm: “Dân vận”. ở tác phẩm này Người đã nêu
lên những quan điểm và phương pháp chỉ đạo công tác dân vận với một tầm nhìn rộng lớn,
khoáng đạt; với cách nghĩ, cách làm dân vận hết sức mới mẻ, hiện đại. Đây là một trong
những tác phẩm ít chữ mà nhiều ý nghĩa. Với một lượng tối thiểu ngôn từ, Người chuyển tải
và biểu cảm một cách tối đa tư tưởng và triết lý của Người về công tác dân vận.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Mặt trận Dân tộc thống nhất đòi hỏi phải
được mở rộng để thu hút tối đa các thành phần dân tộc vì những lý do khác nhau không
tham gia Việt Minh. Vì vậy, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời. Công tác dân vận
trong thời kỳ Đảng cầm quyền không phải là nhiệm vụ riêng của Đảng như thời kỳ Đảng
hoạt động bí mật, bất hợp pháp. Theo Hồ Chí Minh, khi chính quyền đã về tay nhân dân,
nước ta là nước dân chủ thì “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả
hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”
[47, tr.699]. Người cũng chỉ rõ những thiếu sót về dân vận, rằng “Khuyết điểm to ở nhiều
nơi là xem khinh việc dân vận” [46, tr.699]. Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân hiểu rằng “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành
công” [47, tr.700].
Từ sau tác phẩm “Dân vận” của Người, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân chú tâm vào
công tác dân vận, động viên nhân dân thi đua ái quốc, giết giặc lập công, tăng gia sản xuất. Tư tưởng dân vận của Người đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến
thắng lợi và cổ vũ nhân dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân ta giành được thắng lợi to lớn, buộc thực
dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hoà bình ở Đông Dương (20/7/1954).
Theo hiệp định này đất nước ta tạm chia làm hai miền và sau hai năm sẽ tổng tuyển cử để
thống nhất đất nước. Song đế quốc Mỹ lợi dụng sự thất bại của Pháp, nhảy vào xâm lược
miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Đảng ta và Hồ Chí Minh dành nhiều công sức, trí tuệ để
có đường lối đúng đắn cho giai đoạn cách mạng mới. Đó là Cách mạng Xã hội chủ nghĩa

sâu nặng của Người đối với dân, với nước, nói lên niềm tin tất thắng của Người đối với
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đề ra những phương sách lớn để đưa sự nghiệp
kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn; đồng thời nêu lên những suy ngẫm, những chỉ dẫn
quý báu của Người về những chủ trương, biện pháp lớn cần thực hiện trong cuộc sống
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người viết: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu
khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực
lượng vĩ đại của toàn dân” [54, tr.505].
Lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận
của Người nói riêng cho chúng ta thấy tư tưởng của Người là một hệ thống lý luận gắn
chặt với thực tiễn, có tác dụng to lớn đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng
như của nhân loại tiến bộ chống lại mọi hình thức áp bức, nô dịch để giải phóng giai cấp,
giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận là sự phát triển sáng tạo luận điểm “Cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng” của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin vào giải
quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam và đã đưa cách mạng đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta nhận định, trong giai đoạn đổi mới và công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng dân vận của
Người nói riêng vẫn “soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài
sản tình thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” [14, tr.82].
1.3. Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
1.3.1. Vị trí, vai trò của công tác dân vận
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông
cha ta luôn biết dựa vào dân, phát huy lực lượng to lớn của toàn dân để tiến hành cuộc
đấu tranh chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm. Bài học “Nước lấy dân làm gốc” đã

Trích đoạn Quan điểm cơ bản Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động nông dân ở tỉnh Quảng Bình Giải pháp chung Một số giải pháp cụ thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status