LUẬN VĂN:
Tìm hiểu quá trình ra đời, tồn tại và
phát triển của Luật phá sản
lời nói đầu
Phần thứ ba: Kết luận
Phần thứ nhất
những vấn đề chung về phá sản, pháp luật phá sản cùng lịch sử và sự phát triển của
luật phá sản
ở Việt Nam
I. Khái niệm về phá sản và pháp luật phá sản
1. Khái niệm phá sản
Phá sản là một hiện tượng kinh tế phát sinh rất sớm trong lịch sử nhân loại (từ thời
kỳ La Mã) và nó phát triển trở nên phổ biến trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Hiện tượng
phá sản là tất yếu trong nền kinh tế thị trường bất kể là thị trường TBCN hay XHCN.
Về thuật ngữ "phá sản" theo Luật thương mại năm 1972 của chính quyền Sài Gòn
trước đây, nó được gọi là "khánh tận" để chỉ phá sản của thương gia còn "vỡ nợ" được chỉ
sự phá sản của cá nhân. Theo quan niệm thông thường của người Việt Nam thì phá sản
thường được hiểu là không trả được nợ, để vỡ nợ.
Theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn
hành năm 2005 thì phá sản là: Lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì, và thường là vỡ nợ,
do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại. Thất bại hoàn toàn".
Luật phá sản ở nước ta cũng không đưa ra khái niệm phá sản một cách trực tiếp mà
chỉ đưa ra khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
"Doanh nghiệp hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến
hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản" (Điều 3 Luật phá sản năm
2004).
Như vậy có thể hiểu phá sản ở đây là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn. Tuy nhiên việc lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn đã là phá sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã chỉ được coi là phá sản khi đã tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản.
trình kinh doanh từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm đều theo kế hoạch của nhà nước và
cũng không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Hoạt động doanh nghiệp, hợp tác xã
nếu có lãi thì nộp vào ngân sách nhà nước, nếu thua lỗ thì được nhà nước bù lỗ. Do vậy
hoạt động của các xí nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã thời kỳ này thường kém hiệu quả,
lãi giả, lỗ thật, nợ nần chồng chất nhà nước phải luôn giúp đỡ các doanh nghiệp bằng cách
khoanh nợ, giãn nợ, hoãn nợ, xoá nợ hoặc dùng các giải pháp mang tính chất hành chính
như sáp nhập, giải thể để chấm dứt hoạt động của chúng. Như vậy cùng với nền kinh tế tự
cấp tự túc không có hoạt động thương mại nên không có phá sản thì hoạt động của doanh
nghiệp quốc doanh, hợp tác xã trong nền kinh tế tập trung, bao cấp không thể bị mất khả
năng thanh toán và do đó không có hiện tượng phá sản. Không có hiện tượng phá sản nên
không có pháp luật, luật về phá sản. Tuy nhiên nếu đặt vấn đề phá sản và pháp luật phá sản
ở Việt Nam thời kỳ đó và trước năm 1945 ta thấy có một số vấn đề sau:
- Pháp luật phá sản đã có và được biết đến ở Việt Nam trước năm 1945 là một luật
được đưa ra trong thời kỳ luật thuộc địa của Pháp, nhưng luật này phần lớn được áp dụng
ở miền Nam và ít được áp dụng (theo khảo sát và đánh giá của Văn phòng Hội đồng tư vấn
chung - Ngân hàng phát triển châu á).
- Pháp luật phá sản đã được xây dựng và thực hiện ở miền Nam dưới chế độ Việt
Nam cộng hoà (Nguỵ, Sài Gòn, Chính phủ do Mỹ lập nên và bảo trợ). Tuy nhiên nó được
coi như là một bộ phận của Luật thương mại năm 1972.
- ở miền Bắc nước ta từ 1945 - 1975 và cả nước từ 1975 - 1985 vì là nền kinh tế
thời chiến, thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp nên không có hiện tượng phá
sản và không có pháp luật về phá sản.
Bước vào sự nghiệp đổi mới đất nước kể từ Đại hội 6 của Đảng (năm 1986), nước
ta thừa nhận nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế và hình thức sở hữu, tăng
trách nhiệm và tính chủ động cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, thực hiện tự chủ, tự hạch
toán và tự chịu trách nhiệm do đó đã tạo ra sự năng động của nền kinh tế, dần dần đưa
nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội. Tuy nhiên giai đoạn 1986 - 1992 là giai
Để ổn định nền kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân, Việt Nam cũng như đa số các nước khác đều quan tâm đến xây dựng chế
định pháp luật về phá sản với mục tiêu hạn chế thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra.
Trong thời đại ngày nay, với sự đề cao nhân quyền, dân chủ, tự do, bình đẳng, pháp
luật phá sản hiện đại đã có cách nhìn và xử sự khoan dung hơn đối với những người bị lâm
vào tình trạng phá sản. Nó trái ngược với thời trung cổ, trung đại và nơi không có pháp
luật là ở đó pháp luật phá sản đều mang nặng tính trừng phạt nặng nề. Khi không trả được
nợ không chỉ tài sản của con nợ bị đưa ra thanh lý ngay mà thân nhân của họ cũng phải
chịu những chế tài hình sự nghiêm khắc hoặc chịu sự hành xử theo "luật rừng".
Hoạt động kinh doanh là một lĩnh vực đầy khó khăn và rủi ro, mặt khác hậu quả của
phá sản rất lớn. (Thực tế người tự sát, phát điên, bỏ đi biệt tích do phá sản khá phổ biến
trong xã hội ở nhiều quốc gia, và ở cả Việt Nam) người kinh doanh kém may mắn, thất thế
cần phải được bảo vệ. Do đó, pháp luật phá sản không chỉ bảo vệ lợi ích cho chủ nợ mà
còn quan tâm bảo vệ lợi ích của cả con nợ.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, ngày 30/12/1993 tại hỳ họp thứ IV Quốc hội
khoá IX Việt Nam đã ban hành Luật phá sản doanh nghiệp và có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01/7/1994. Đạo luật này ra đời có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời cũng bảo đảm được trật tự, kỷ cương xã
hội trong những năm đầu của tiến trình đổi mới đất nước.
Tuy nhiên với sự phát triển của nền kinh tế thị trường qua hơn 10 năm thực hiện,
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập và không còn
phù hợp, đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế, xã hội trong nước cũng như xu thế
mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Đòi hỏi pháp luật phá sản phải tiếp tục được
sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ mới. Ngày 15/6/2004,
tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật phá sản thay thế Luật phá sản doanh
nghiệp năm 1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004. Luật phá sản 2004 ra đời có
các văn bản dưới luật như Nghị quyết số 03/2005/HĐTP ngày 28/4/2005 của Hội đồng
- Chương 4 quy định các biện pháp bảo toàn tài sản, gồm 18 Điều (từ Điều 43 đến
Điều 60). Chương này bên cạnh việc xác định rõ tài sản của con nợ (Điều 49) còn quy định
những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cơ quan tố tụng cũng như của các chủ nợ, con nợ,
ngân hàng và người lao động trong việc bảo toàn tài sản của con nợ nhằm ổn định về tài
chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục hồi hoặc giữ lại tài sản còn của doanh nghiệp
để đảm bảo cho việc thanh toán giữa các chủ nợ được công bằng, hợp lý trong trường hợp
doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.
- Chương 5, quy định về hội nghị chủ nợ như là một giai đoạn quan trọng trong quá
trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, gồm 7 Điều (từ Điều 61 đến Điều 67). Chương
này ghi nhận các vấn đề về quyền, nghĩa vụ tham gia hội nghị chủ nợ của các chủ nợ cũng
như của những người có liên quan, điều kiện hợp lệ của hội nghị chủ nợ, nội dung của hội
nghị chủ nợ và hậu quả pháp lý có thể xảy ra nếu người tham gia hội nghị chủ nợ vắng
mặt
- Chương 6 và chương 7 quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã và thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục tuyên bố doanh nghiệp, hợp
tác xã bị phá sản. Đây là hai chương quan trọng thể hiện sự tiến bộ so với Luật phá sản
doanh nghiệp năm 1993. Nó thể hiện ở chỗ Luật phá sản năm 2004 đã đi theo hướng quy
định nhiều thủ tục khác nhau, có tính độc lập tương đối với nhau để Toà án có điều kiện
lựa chọn áp dụng cho phù hợp với tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp. Thủ tục phục
hồi hoạt động kinh doanh được ghi nhận trong Mục 1 Chương 6 từ Điều 68 đến Điều 77;
còn thủ tục xử lý tài sản được quy định cụ thể trong Mục 2 chương này từ Điều 78 đến
Điều 85. Các vấn đề liên quan đến quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản cũng như
việc khiếu nại, kháng nghị các quyết định đó được quy định trong Chương 7, từ các Điều
86 đến Điều 92.
Ngoài ra, trong Luật phá sản năm 2004 còn có 2 chương 3 Điều quy định về xử lý
vi phạm (Chương 8) và điều khoản thi hành (Chương 9). Nhìn chung, so với Luật phá sản
doanh nghiệp năm 2003, Luật phá sản năm 2004 có sự đổi mới quan trọng, phản ánh đầy
dân. Tóm lại cán bộ ngành Tư pháp, đặc biệt là Thẩm phán phụ trách phá sản doanh
nghiệp phải thực sự là chỗ dựa tin cậy của mọi đối tượng trong quan hệ phá sản doanh
nghiệp.
Thực tiễn 10 năm thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 cho thấy các chủ
nợ, các doanh nghiệp mắc nợ không tìm đến Toà án, là một phần do không hiểu, không
biết đến pháp luật phá sản, một phần là do chưa đủ niềm tin vào Toà án (số vụ ít đi so với
thực tế là bằng chứng chứng minh điều đó). Tuy nhiên để có một đội ngũ cán bộ Thẩm
phán đáp ứng được yêu cầu giải quyết phá sản doanh nghiệp không phải đơn giản "muốn
là có" mà đó phải là một quá trình và phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học
trước hết là phải làm tốt khâu tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ Thẩm phán,
cán bộ Tư pháp trực tiếp giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, có như thế mới khắc phục
được tình trạng có luật mà không biết sử dụng, sử dụng kém hiệu quả.
Ba là: Xoá bỏ dần thói quen hành chính hoá việc giải quyết nợ đọng ở các doanh
nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước. Xoá bỏ tình trạng bất bình đẳng giữa loại hình
doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác (trừ có tính chất đặc biệt liên quan đến quốc
phòng, an ninh và phúc lợi xã hội). Giảm dần tư duy chính trị trong khái niệm phá sản
doanh nghiệp, tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh trong các thành phần kinh tế;
đồng thời bình đẳng trong giải quyết nợ đối với mọi loại hình doanh nghiệp (tránh doanh
nghiệp nhà nước thì được ưu đãi vay vốn, thua lỗ thì được hoãn nợ, giãn nợ, khoanh nợ,
xoá nợ còn loại hình khác thì bỏ mặc để tiến hành phá sản). Phải có cơ chế trách nhiệm vật
chất rõ ràng đối với các chủ doanh nghiệp, của thương nhân bị mất khả năng thanh toán nợ
đến hạn mà né tránh việc đưa đơn ra Toà án yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (để
tránh thiệt hại cho nhà nước, tổ chức, cá nhân ); đồng thời có cơ chế mở cho các doanh
nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh được xoá nợ trong trường hợp có rủi ro thực tế khi giải
quyết phá sản doanh nghiệp, tạo cơ hội cho họ có điều kiện lập nghiệp mới. Thực hiện tốt
nội dung này mới đảm bảo được tính ưu việt của nhà nước trong điều tiết nền kinh tế bằng
các công cụ chính sách của mình, cũng như tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị
3. Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993.
4. Luật phá sản năm 2004.
5. Văn kiện Đại hội Đảng X
Mục lục
Trang
Mở đầu
1
Phần thứ nhất: Những vấn đề chung về phá sản, pháp luật phá sản; lịch sử
và sự phát triển của luật phá sản ở Việt Nam
3
I. Khái niệm về phá sản và pháp luật phá sản 3
1.Khái niệm phá sản 3
2. Khái niệm pháp luật phá sản 4
II. Lịch sử phá sản và sự phát triển về pháp luật phá sản ở Việt Nam 5
Phần thứ hai: Nội dung luật phá sản năm 2004 và giải pháp tăng cường
hiệu lực thực thi thời gian tới
9
I. Nội dung luật phá sản 2004
II. Giải pháp tăng cường hiệu lực thực thi luật phá sản thời gian tới 11
Phần thứ ba: Kết luận 14
Danh mục tài liệu tham khảo
15