LUẬN VĂN:
Vi phạm hành chính về đất đai ở Thái Bình -
thực trạng và giải pháp khắc phục Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chính không
thể thay thế được của một số ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, là một bộ
phận không thể tách rời lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia, là nơi trên
văn bản trên đã góp phần lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai, hạn chế những tiêu
cực nảy sinh.
Tuy nhiên, trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, mặc dù Nhà nước
có nhiều văn bản để quản lý và xử lý vi phạm về đất đai, nhưng do đất đai trở thành hàng
hóa mà giá trị của nó ngày càng tăng với tốc độ rất cao, lợi nhuận thu được từ việc mua
bán đất đai không có mặt hàng và nghề kinh doanh nào sánh nổi. Vì vậy, những hành vi
vi phạm pháp luật đất đai, trục lợi từ đất diễn ra ngày càng phổ biến và nghiêm trọng.
Những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tuy chưa đến mức nguy hiểm là
tội phạm nhưng diễn ra ở khắp mọi nơi, hàng ngày, hàng giờ, không những gây khó khăn
cho quản lý nhà nước về đất đai, mà còn là nguyên nhân của những tranh chấp, mâu thuẫn
gay gắt trong nội bộ nhân dân và xã hội; nhiều khi chuyển hóa thành vụ việc hình sự, thành
điểm nóng, thậm chí trở thành vấn đề chính trị. Về mặt thực tiễn, do chủ quan, coi thường
những vi phạm nhỏ nên xử lý không kiên quyết, thiếu nghiêm minh dẫn đến tình trạng
coi thường pháp luật, vi phạm ngày càng tràn lan, khó kiểm soát. Trong bối cảnh đó,
nghiên cứu về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
góp phần lập lại trật tự kỷ cương, phòng, chống vi phạm, tăng cường quản lý nhà nước về
đất đai thực sự có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận cũng như thực tiễn đặt ra.
Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc lưu vực sông Hồng, là tỉnh thuần nông, diện
tích đất tự nhiên 154.542,0396 ha, dân số 1.845.000 người [6, tr. 3]. Nhiều thập kỷ, dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, người dân Thái Bình đã lao động cần cù, "một nắng, hai
sương", sử dụng đất có hiệu quả, ít có vi phạm pháp luật đất đai; đã lập nên những kỳ tích
với "Bài ca 5 tấn", rồi 10 tấn, 12 tấn thóc/ha… Nhưng rồi, tháng 5/1997, Thái Bình đã
xảy ra khiếu kiện đông người, gây mất ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; một
trong những nguyên nhân đó là do " cấp đất, bán đất trái thẩm quyền một cách phổ
biến; chính quyền ở nhiều cơ sở đã lạm dụng việc xử phạt hành chính một cách tùy tiện,
trái quy định, quá sức chịu đựng của dân, gây bất bình trong dân" [47, tr. 7]. Sau sự kiện
trên, các cấp, các ngành trong tỉnh đã rút kinh nghiệm; đề ra các chủ trương, giải pháp sửa
chữa, khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót, chấn chỉnh công tác quản lý, xử phạt vi
phạm hành chính về đất đai, vì vậy các vi phạm pháp luật về đất đai ngày càng giảm.
hành chính - Lý luận và thực tiễn của tiến sĩ Vũ Thư (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở
Việt Nam hiện nay (2003), Luận án tiến sĩ Luật học của Bùi Minh Thanh, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải
quan và giải pháp xử lý, Luận văn thạc sĩ Luật học của Lê Nguyễn Nam Ninh (2004),
Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Hoặc một số công trình có đề cập nội dung rất
nhỏ liên quan đến vi phạm pháp luật nói chung như: Chính sách đất đai của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Tôn Gia Huyên (trong cuốn Bình luận khoa học
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2002); Về thực trạng chính
sách đất đai ở Việt Nam của Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 8/2002;
Một số vấn đề quản lý nhà nước về đất đai trong giai đoạn hiện nay của tiến sĩ Nguyễn
Đình Bồng, Tạp chí Quản lý nhà nước, 4/2001; Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với
đất đai qua thực tiễn tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Mạnh Hùng
(2003), Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội…
Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến vi phạm pháp luật, vi phạm
hành chính nói chung; hoặc vi phạm pháp luật ở lĩnh vực cụ thể là hải quan; hoặc ở một
phạm vi rộng hơn, trong đó có nội dung nhỏ đề cập đến vi phạm pháp luật nói chung về
đất đai…; mà chưa đề cập đến vi phạm hành chính về đất đai, đặc biệt cụ thể là ở tỉnh Thái
Bình. Chính vì vậy, đề tài "Vi phạm hành chính về đất đai ở Thái Bình - thực trạng và
giải pháp khắc phục" được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn đề vi phạm hành
chính về đất đai ở một địa phương cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phòng, chống vi phạm hành chính về đất đai
ở Thái Bình hiện nay.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, phân tích lý luận chung về vi phạm pháp luật và vi phạm hành
chính.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về vi phạm hành chính và
- Luận văn góp phần nghiên cứu khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai.
- Phân tích tình hình diễn biến phức tạp và khẳng định yêu cầu bức xúc của việc
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai ở Thái Bình.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp phù hợp với thực tiễn của Thái Bình mang
tính kiến nghị để các nhà quản lý cũng như những người trực tiếp thi hành xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai ở Thái Bình nghiên cứu vận dụng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
CƠ Sở Lý Luận Và quy định của pháp luật
Về VI Phạm Hành Chính, xử lý vi phạm hành chính
TRONG Lĩnh Vực Đất ĐAI
1.1. Khái niệm và đặc điểm vi phạm hành chính
1.1.1. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật
a) Khái niệm vi phạm pháp luật và cấu thành vi phạm pháp luật
+ Khái niệm vi phạm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn của hành vi con
người. Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con
người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Mỗi hành vi đều được hình thành
trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, mà chủ thể ý thức được và chủ động thực
Hành vi không hợp pháp được phân thành hành vi vi phạm pháp luật và những
hành vi trái pháp luật nhưng không bị coi là vi phạm pháp luật.
Hành vi vi phạm pháp luật là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật,
có lỗi và do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện. Vậy muốn xác định hành
vi vi phạm pháp luật thì phải dựa vào các dấu hiệu cơ
bản sau:
Thứ nhất, là hành vi nguy hiểm cho xã hội: Như ta đã biết các quy định của pháp
luật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người. C. Mác đã nhấn mạnh:
Ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp
luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó. Những hành vi của tôi - đó là
lĩnh vực duy nhất trong đó tôi đụng chạm với pháp luật, bởi vì hành vi là cái
duy nhất vì nó mà tôi đòi quyền tồn tại, quyền hiện thực, và như vậy là do nó
mà tôi rơi vào quyền lực của pháp luật hiện hành [25, tr. 19].
Cho nên vi phạm pháp luật trước hết là hành vi của con người hoặc là hoạt động
của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy
hiểm cho xã hội. Khi xác định vi phạm pháp luật thì dấu hiệu hành vi là không thể thiếu
được, nói cách khác, không có hành vi nguy hiểm của con người thì không có vi phạm
pháp luật.
Thứ hai, là hành vi trái pháp luật: Đó là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội
được pháp luật xác lập và bảo vệ. Vi phạm pháp luật không những phải có dấu hiệu là
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn phải có dấu hiệu trái pháp luật, xâm hại tới các
quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
Thứ ba, có lỗi của chủ thể: Dấu hiệu trái pháp luật chỉ là biểu hiện bên ngoài của
hành vi, để xác định vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan của hành vi, nghĩa
là, xác định lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đó. Lỗi là yếu tố chủ
quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình. Nếu một hành
vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan, chủ thể
thực hiện hành vi đó không cố ý và cũng không vô ý hoặc không thể nhận thức được, từ
đó không lựa chọn được cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể thực hiện hành
thường được thúc đẩy bởi một động cơ nào đó. Động cơ đó có thể là vụ lợi, trả thù, hay
đê hèn
Mục đích vi phạm: Mục đích là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình,
chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, không
phải khi nào kết quả mà chủ thể vi phạm đạt được trong thực tế cũng trùng hợp với mục
đích mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được. Chẳng hạn, H chỉ muốn làm K đau (mục
đích gây thương tích) nhưng kết quả thực tế K chết (cái chết của K nằm ngoài mong
muốn của H).
- Chủ thể vi phạm pháp luật: Chủ thể vi phạm pháp luật có thể là cá nhân hoặc
tổ chức có năng lực chủ thể, nghĩa là theo quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách
nhiệm pháp lý đối với hành vi trái pháp luật của mình.
- Khách thể vi phạm pháp luật: Là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ,
nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại. Những quan hệ xã hội khác nhau thì có tính
chất và tầm quan trọng khác nhau, do vậy, tính chất và tầm quan trọng của khách thể
cũng là những yếu tố để xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm
pháp luật.
b) Phân loại vi phạm pháp luật
Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng, nên có thể phân chia vi
phạm pháp luật theo nhiều tiêu chí khác nhau.
+ Theo loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại, thì vi phạm pháp luật
phân thành vi phạm pháp luật về tài chính, vi phạm pháp luật về lao động, vi phạm pháp
luật về đất đai, vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự
+ Theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì vi phạm pháp luật phân
thành vi phạm pháp luật là tội phạm và vi phạm hành chính.
+ Theo tính chất vi phạm và trách nhiệm pháp lý, thì vi phạm pháp luật phân
thành vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm
kỷ luật Nhà nước.
- Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm): Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
hành chính và các biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này, trong đó phải kể đến Nghị
định 143/CP ngày 27/5/1977 của Chính phủ ban hành Điều lệ Xử phạt vi cảnh và hàng
loạt các nghị định khác quy định cụ thể về vi phạm hành chính và việc xử lý các vi phạm
hành chính đó trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước.
Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm này,
đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tạo cơ sở pháp
lý cần thiết để xử lý cũng như đấu tranh phòng, chống một cách có hiệu quả đối với các
vi phạm hành chính, cần thiết phải đưa ra một khái niệm chính thức.
Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm vi phạm hành chính phải
phản ánh đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của loại vi phạm này, trong đó thể hiện đầy đủ
tính nguy hiểm cho xã hội của chúng, đồng thời cũng phải thể hiện được sự khác biệt
giữa loại vi phạm này với tội phạm về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh Xử phạt
vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Điều 1 của Pháp lệnh này đã ghi rõ: "Vi phạm hành
chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy
tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật
phải bị xử phạt hành chính".
Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm
hành chính cũng được định nghĩa một cách gián tiếp:
Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan,
tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi
phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính [86, tr. 6].
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, song quan niệm về vi phạm hành chính trong
các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những dấu hiệu bản chất của
loại vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở những nội dung đã được nêu ra trong hai văn bản
pháp luật nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về vi phạm hành chính như sau:
Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các
thì trong một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là
dấu hiệu bắt buộc. Vì thế, khi xử phạt cá nhân, tổ chức về vi phạm hành chính này cần
xác định rõ hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc
xem xét các dấu hiệu khác.
Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính, thì dấu
hiệu lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi
phạm hành chính nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm hành chính. Khi xử
phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp
luật và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi
phạm hành chính là đủ điều kiện để xử phạt hành chính. Cũng có quan điểm cho rằng,
cần phải xác định lỗi của tổ chức khi vi phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để tiến
hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này,
lỗi của tổ chức được xác định bằng lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện
nhiệm vụ, công vụ được tổ chức đó giao cho. Tuy nhiên, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính hiện hành chỉ quy định chung rằng: "Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi
phạm hành chính do mình gây ra" (điểm b, khoản 1, Điều 6 Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính) [86, tr. 10] và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đồng thời, tổ chức phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức mình trực
tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ được giao để truy cứu trách
nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
+ Dấu hiệu về chủ thể
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng
lực chủ thể.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành
chính là người không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ
thể là:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể là chủ thể của vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là một dạng của vi phạm hành chính,
vì vậy đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cũng được thể hiện ở bốn yếu
tố là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai.
+ Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là những biểu
hiện ra bên ngoài của vi phạm hành chính về đất đai, nó gồm có những yếu tố sau:
- Hành vi trái pháp luật đất đai. Để xác định có hành vi trái pháp luật đất đai thì
ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, về đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai để xem xét về một hành vi
cụ thể.
Nếu một chủ thể thực hiện những việc mà pháp luật đất đai nghiêm cấm hoặc
không làm những việc mà pháp luật đất đai yêu cầu thì người đó là người có hành vi vi
phạm pháp luật đất đai. Vì vậy, hành vi trái pháp luật đất đai là hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai. Hành vi không bị coi là
trái pháp luật đất đai khi nó có liên quan đến việc thực hiện một mệnh lệnh khẩn cấp của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc những sự kiện xảy ra ngoài ý chí và khả năng của
người sử dụng đất (tình thế cấp thiết hay sự kiện bất ngờ).
- Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật đất đai gây ra. Tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật đất đai thể hiện ở chỗ nó xâm hại quyền
sở hữu của Nhà nước đối với đất đai hoặc xâm hại đến quyền lợi của người sử dụng đất.
Cụ thể:
Sự xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai thường thể hiện trong
việc định đoạt một cách bất hợp pháp số phận pháp lý của đất đai như không tuân theo
những thủ tục cấp đất do pháp luật quy định, giao đất không đúng thẩm quyền, không
đúng đối tượng, mua, bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái phép dưới nhiều hình
thức như núp dưới danh nghĩa thanh lý tài sản, thanh lý nhà cửa hoặc thu tiền bán đất trên
danh nghĩa đền bù nhưng sử dụng số tiền đó không đúng mục đích, hoặc tự tiện chuyển
giao đất cho người thừa kế, hoặc sử dụng đất không đúng mục đích được giao, tự ý thay
đổi mục đích sử dụng đất khi chưa có sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có ở trong một số hành vi vi phạm hành chính về đất đai nhất định và được thực hiện với lỗi
cố ý ví dụ " hành vi tẩy, xoá, sửa chữa giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất" (khoản 1
Điều 21 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai).
Động cơ vi phạm hành chính được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người thực
hiện hành vi vi phạm hành chính. Trừ những hành vi vi phạm hành chính về đất đai với lỗi
cố ý thì động cơ, mục đích rõ rệt còn các vi phạm hành chính về đất đai khác thì động cơ,
mục đích không rõ nét. Trong các trường hợp này vi phạm hành chính về đất đai chủ yếu do
thiếu thận trọng, vô tình hay coi nhẹ các nghĩa vụ pháp lý mà vi phạm ở mức độ nhỏ và trên
thực tế thiệt hại ở những trường hợp này là không đáng kể. Do đó, động cơ, mục đích trong
vi phạm hành chính về đất đai cũng như vi phạm hành chính nói chung không coi là dấu hiệu
bắt buộc.
Hành vi trái pháp luật là sự thực hiện trên thực tế của người vi phạm còn lỗi thể
hiện mục đích cần đạt được của hành vi đó. Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với
hành vi vi phạm pháp luật đất đai khác với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với
hành vi vi phạm pháp luật khác là trong đa số các trường hợp chỉ cần hai dấu hiệu là có
hành vi trái pháp luật đất đai và có lỗi là đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý mà
không cần phải có đầy đủ cả các yếu tố khác như có thiệt hại thực tế sảy ra, có mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả bởi vì Luật Đất đai điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội
phát sinh trực tiếp từ quá trình sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai. Mà đất đai thuộc
quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, do đó mọi hành vi xâm phạm
tới quyền sở hữu đều là hành vi vi phạm pháp luật.
+ Khách thể của vi phạm hành chính về đất đai.
Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ nhưng bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại. Vậy khách thể của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai là những quan hệ trong quản lý, sử dụng đất đai bị hành vi vi phạm
hành chính xâm hại.
+ Chủ thể của vi phạm hành chính về đất đai.
Vi phạm hành chính về đất đai là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý
giới hành lang an toàn của công trình;
- Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất.
b) Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ về đất đai
- Hành vi vi phạm trong hành nghề tư vấn về giá đất mà không được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép;
- Hành vi vi phạm trong hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất mà không đủ điều kiện đăng ký hoạt động hành nghề;
- Hành vi vi phạm trong hành nghề dịch vụ về thông tin đất đai, dịch vụ đo đạc
và bản đồ địa chính.
1.3. Các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai
1.3.1. Đặc điểm của hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai
Theo quy định của pháp luật hiện hành, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác.
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hoạt động của các chủ thể có
thẩm quyền căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai để quyết định xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật) đối với tổ
chức, cá nhân vi phạm hành chính về đất đai.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có các đặc điểm sau
đây:
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được áp dụng đối với tổ
chức, cá nhân vi phạm hành chính về đất đai theo quy định của pháp luật. Nói cách khác,
vi phạm hành chính về đất đai là cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành
chính. Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử
phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai là cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong
Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phải đảm bảo các nguyên
tắc sau:
a) Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời gắn
với trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở, với công tác kiểm tra, thanh tra đất đai. Việc xử
phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả