HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP VIẾT LUẬN VĂN SỬ DỤNG
DỮ LIỆU THỨ CẤP
Đề cương chi tiết
Phần 1: Phần giới thiệu
- Lý do chọn đề tài (nêu tầm quan trọng của đề tài)
- Vấn đề nghiên cứu (nêu những vấn đề đang tồn tại có liên quan đến đề tài)
- Mục tiêu nghiên cứu (từ những vấn đề tồn tại trên, mục tiêu của luận văn này là ….)
- Câu hỏi nghiên cứu hoặc giả thuyết
- Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu (sử dụng mô hình kinh tế lượng)
- Tóm tắt kết quả nghiên cứu
- Bố cục luận văn: gồm 5 phần
Phần 2: Cơ sở lý luận
Nêu tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài để làm cơ sở nghiên cứu
của luận văn. Từ các kết quả này, chúng ta xây dựng câu hỏi nghiên cứu hoặc các giả thuyết để
kiểm định.
Phần 3: Thực trạng về đối tượng nghiên cứu (ngân hàng hoặc
doanh nghiệp)
Chỉ tập trung vào các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Ví dụ, nếu đề tài nói về lợi
nhuận ngân hàng, thì chỉ được phép đề cập đến lợi nhuận của ngân hàng trong các năm qua như
thế nào? Tại sao ngân hàng có lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp gặp khó khăn do khủng
hoãng tài chính? Các yếu tố nào cấu thành lợi nhuận ngân hàng? …
Phần 4: Phương pháp nghiên cứu
- Mô tả dữ liệu nghiên cứu
- Xác định các biến hồi quy
- Xác định mô hình hồi quy
- Tóm tắt thống kê mô tả và ma trận tương quan của các biến lựa chọn
Phần 5: Kết quả hồi quy và thảo luận
- Phân tích từng mối quan hệ một: tương quan thuận hay nghịch?, có ý nghĩa hoặc không
có ý nghĩa thống kê?
- Kết quả có ủng hộ giả thuyết đã chọn để kiểm định hay không? Nêu lý do cụ thể.
- Kết quả phù hợp hay không phù hợp với các nghiên cứu trước đây? Nêu lý do tại sao?
định của hệ thống tài chính quốc gia là mục tiêu chung trong sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của cả nước. Trong đó, khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại đóng
một vai trò quan trọng trong việc xác định tình trạng sức khỏe của toàn hệ thống ngân
hàng.
Xét ở cấp độ vi mô, khả năng sinh lợi là yếu tố quyết định giá cổ phiếu của các
ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Giá cổ phiếu của một ngân hàng cao hay thấp,
tăng hay giảm đều có liên quan rất lớn đến khả năng sinh lợi của ngân hàng đó. Giá cổ
phiếu đến lượt nó lại ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông, của ban lãnh đạo và các
nhân viên trong ngân hàng.
Vì khả năng sinh lợi của ngân hàng mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng ở cả
cấp độ vĩ mô lẫn vi mô, nên việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi
của ngân hàng là hết sức cần thiết. Nó cho chúng ta một bằng chứng khoa học cụ thể để
có những biện pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại, qua
đó góp phần phát triển kinh tế đất nước. Đó là lý do, tác giả chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh
hưởng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài cần đạt được các mục tiêu sau:
Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng
TMCP Việt Nam.
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó lên khả năng sinh lợi của các
ngân hàng TMCP
Đề nghị các giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của các ngân hàng
TMCP
1.3. Phạm vi nghiên cứu
3
Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của 15 ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010, bao gồm các
cả các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.
Số liệu được lấy từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 15 ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2005-2010 và báo cáo của
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến
khả năng sinh lợi của ngân hàng. Trong khi một vài nghiên cứu tập trung vào việc tìm
hiểu khả năng sinh lợi của các ngân hàng ở một khu vực, một nhóm các quốc gia (Ví dụ
như: nghiên cứu của Bourke (1989) ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc; Molyneux và Thornton
(1992) ở Châu Âu, Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) ở 80 nước trên thế giới,… )
thì các nghiên cứu khác lại tập trung vào một quốc gia cụ thể (Ví dụ như: nghiên cứu của
Berger (1995) ở Mỹ, Panayiotis P. Athanasoglou et.al (2005) ở Hy Lạp, Fadzan Sufian &
Royfaizal Razali Chong (2008) ở Philippines, Fadlan Sufian (2011) ở Hàn Quốc,…). Dù
nghiên cứu trên một nhóm các quốc gia hay ở một quốc gia riêng biệt thì các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng cũng được chia làm hai loại: các nhân tố bên
trong và các nhân tố bên ngoài.
2.1. Các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng có thể
được định nghĩa là các nhân tố chịu ảnh hưởng bởi các quyết định mang tính chủ quan
của ban lãnh đạo ngân hàng. Các nhân tố này bao gồm: quy mô vốn, quy mô tiền gửi
khách hàng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, chính sách lãi suất, mức độ đa dạng hóa,
chi phí vận hành, năng suất lao động, tình trạng công nghệ thông tin.
2.1.1. Quy mô vốn (Capital size)
Tỷ số vốn được xem như là một công cụ giá trị để đo tình trạng đủ vốn cũng như
sự an toàn và lành mạnh của một ngân hàng. Nhìn chung mọi người đều tin rằng một
ngân hàng có vốn hóa tốt sẽ có khả năng sinh lợi cao hơn. Trong nghiên cứu của mình về
các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngân hàng ở 12 nước được chọn ra
từ các khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc, Bourke (1989) đã tìm ra mối tương quan thuận
giữa tình trạng đủ vốn và khả năng sinh lợi. Ông đã chỉ ra rằng ngân hàng có tỷ số vốn
càng cao thì khả năng sinh lợi càng cao. Tương tự, nghiên cứu của Berger (1995) dựa
trên dữ liệu của các ngân hàng Mỹ trong khoảng thời gian nửa sau thập niên 1980, và
nghiên cứu của Anghazo (1997) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Mỹ từ năm 1989 đến
2003 đều cho rằng các ngân hàng có vốn hóa tốt đều có khả năng sinh lợi cao hơn.
Mối tương quan thuận giữa tỷ số vốn và khả năng sinh lợi không chỉ giới hạn
Uhomoibhi Toni Aburime (2008) nghiên cứu về các yếu quyết định khả năng sinh lợi
của ngân hàng Nigeria từ dữ liệu của 33 ngân hàng trong khoảng thời gian từ năm 2000 -
2004 cũng cho kết quả tương tự.
Tại Châu Á, các nghiên cứu về khả năng sinh lợi của các ngân hàng đã được tiến
hành và cho kết quả tương tự. Nghiên cứu của Fadzan Sufian & Royfaizal Razali Chong
(2008) về các yếu tố quyết định khả năng sinh lợi của các ngân hàng ở một nền kinh tế
đang phát triển: bằng chứng thực nghiệm từ Philippines trong khoảng thời gian từ 1990 –
2005, nghiên cứu của Sufian & Habibullah (2009) về các yếu tố quyết định khả năng
sinh lợi của các ngân hàng Trung Quốc trong khoảng thời gian từ 2000 – 2005, cả hai
nghiên cứu đã củng tìm ra mối tương quan dương giữa quy mô vốn và khả năng sinh lợi
của ngân hàng. Gần đây nhất là nghiên cứu của Fadlan Sufian (2011) dựa trên dữ liệu
của 29 ngân hàng Hàn Quốc trong khoảng thời gian từ 1992-2003 cho thấy các ngân
hàng có quy mô vốn lớn có khả năng sinh lợi cao. Nghiên cứu này cho rằng các ngân
hàng có vốn hóa tốt đối mặt với nguy cơ vỡ nợ thấp hơn. Hơn nữa, một cấu trúc vốn
mạnh rất cần thiết cho các ngân hàng trong nền kinh tế đang phát triển, vì nó cung cấp
thêm sức mạnh cho các ngân hàng có thể đứng vững trong thời kỳ khủng hoảng tài chính
và tăng mức độ an toàn cho người gửi tiền khi phải đối mặt với các điều kiện kinh tế vĩ
mô không ổn định.
Như vậy tất cả các nghiên cứu được thực hiện trong các khoảng thời gian khác
nhau, tại những khu vực địa lý khác nhau đều cho kết quả về mối tương quan dương giữa
quy mô vốn và khả năng sinh lợi của ngân hàng.
2.1.2. Quy mô tiền gửi (Size of deposit liabilities)
Samy Ben Naceur và Mohamed Goaied (2001) nghiên cứu các yếu tố quyết định
hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tunisia trong khoảng thời gian từ năm 1980 – 1995
chỉ ra rằng các ngân hàng hoạt động tốt nhất đều duy trì mức độ tiền gửi cao so với tài
sản của họ. Tỷ lệ tiền gửi so với tài sản càng lớn nghĩa là ngân hàng càng có nhiều vốn
để tài trợ cho các hoạt động đầu tư và cho vay. Việc gia tăng hoạt động đầu tư và cho
vay đến lượt nó lại mang lại lợi nhuận trên tổng tài sản cao cho ngân hàng (Linda Allen
& Anoop Rai, 1996 và Ken Holden & Magdi El-Banany, 2004).
6
phí khác có khả năng sinh lợi cao. Nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali
Chong (2008) ở Philippines cũng cho thấy mối tương quan dương giữa thu nhập phi lãi
và khả năng sinh lợi của ngân hàng. Nghiên cứu này đưa ra lời đề nghị rằng các ngân
hàng nên cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ mới để nâng cao khả năng sinh lợi. Ngoài
ra, các ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc phát triển công nghệ để tăng thêm tính
tiện ích cho các sản phẩm của mình cũng như góp phần cải thiện năng suất lao động cho
ngân hàng.
2.1.7. Chi phí hoạt động (Operating cost)
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các ngân hàng có chi phí hoạt động càng cao thì
khả năng sinh lợi càng thấp. Và lập luận đó đã được ủng hộ bởi kết quả nghiên cứu của
Bouke (1989), Guorong Jiang et al. (2003), Panayiotis P. Athanasoglou et.al (2005),
Fadlan Sufian (2011), Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008), Sufian &
Habibullah (2009).
7
Ngược lại Molyneur và Thornton (1992) lại phát hiện ra biến chi phí có tác động
thuận đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Châu Âu. Họ đã chứng minh được rằng các
ngân hàng đạt được lợi nhuận cao có chi phí tiền lương cao. Nghiên cứu của
Balachandher K.Guru et al.(2002) về các yếu tố quyết định khả năng sinh lợi của các
ngân hàng ở Malaysia, sử dụng mẫu là 17 ngân hàng thương mại Malaysia trong khoảng
thời gian từ 1986 - 1995 đã cho kết quả về mối tương quan thuận giữa chi phí vận hành
và khả năng sinh lợi của ngân hàng. Mối tương quan thuận giữa khả năng sinh lợi và chi
phí cũng được tìm thấy ở Tunisia trong nghiên cứu của Ben Naceur & Goaied (2008).
Kết quả nghiên cứu của họ đã ủng hộ học thuyết tiền lương: lương tăng thì năng suất lao
động cũng tăng.
2.1.8. Chính sách lãi suất (Interest rate policy)
Chính sách lãi suất của ngân hàng bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Lãi suất huy động là một trong những nguồn chi phí vốn của ngân hàng. Đó là lý do tại
sao Steven Fries et al. (2002) cho rằng hàm số lợi nhuận của một ngân hàng bao gồm
tiền lãi để thanh toán cho người gửi tiền. Mặt khác, tiền lãi từ hoạt động tín dụng của
ngân hàng là nguồn thu nhập chủ yếu được dùng để tái đầu tư mở rộng kinh doanh.
giao dịch và cuối cùng là tăng khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Sử dụng Internet để thực hiện các giao dịch ngân hàng cũng giúp làm giảm chi phí
giao dịch và nâng cao khả năng sinh lợi của ngân hàng. Daniel và Storey (1997) rút ra từ
kết quả của một cuộc điều tra trong đó mỗi giao dịch không dùng tiền mặt giảm được
1,08 bảng Anh cho một chi nhánh.
2.2. Các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng là các
nhân tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của các nhà quản trị ngân hàng, nó tượng trưng
cho các sự kiện diễn ra bên ngoài ngân hàng. Tuy nhiên, các nhà quản trị vẫn có thể
lường trước được những thay đổi của môi trường bên ngoài và cố gắng xây dựng những
chính sách nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội phát triển cũng như hạn chế tối đa những
tác động không mong muốn do các nhân tố bên ngoài mang lại. Trong các nghiên cứu đã
được thực hiện trên thế giới, các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của
ngân hàng bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ lạm phát, tốc độ tăng cung tiền, sự
phát triển của thị trường chứng khoán, sự tự do hóa thị trường ngoại hối, sự tập trung
kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng.
2.2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Theo kinh nghiệm thông thường, trong thời kỳ kinh tế bùng nổ sẽ có nhiều nhu
cầu tín dụng hơn trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm
tăng sức mạnh cho các gói dư nợ tín dụng vì lúc này các doanh nghiệp có điều kiện kinh
doanh thuận lợi hơn, khả năng trả nợ cao hơn góp phần vào việc giảm rủi ro tín dụng.
Ngược lại, điều kiện kinh tế suy thoái có thể gây tổn thất cho ngân hàng do tăng các
khoản vay không hiệu quả. Brouke (1989) đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm cho
thấy tăng trưởng kinh tế làm tăng lợi nhuận của ngân hàng. Các nghiên cứu khác như
nghiên cứu của Balachandher K.Guru et al.(2002), Gerlach et al.(2004), Bashir (2003),
Nier (2000), Sufian & Habibullah (2009) cũng tìm ra mối tương quan dương giữa tốc độ
tăng trưởng kinh tế và khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Trong khi kết quả nghiên cứu của Fadzlan Sufian & Royfaizal Razali Chong
(2008), Anna P.I.Vong & Hoi Si Chan (2009) lại cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế
không có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Thị trường chứng khoán càng phát triển rộng, càng năng động và càng hiệu quả
khi đất nước trở nên giàu có hơn. Vì thế, các nước đang phát triển thường có ít thị trường
chứng khoán phát triển hơn. Theo những nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga
(1999), Bashir (2000), Demirguc – Kunt và Huizinga (2001), Sammy Ben Naceur
(2003), Sammy Ben Naceur & Goaied (2008) chỉ ra rằng ngân hàng sẽ có cơ hội nâng
cao lợi nhuận ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển. Vì khi thị trường
chứng khoán phát triển, các ngân hàng có thể dễ dàng tăng vốn của mình, mà vốn lại là
một nhân tố quan trọng góp phần làm tăng khả năng sinh lợi của ngân hàng. Hơn nữa,
khi thị trường chứng khoán phát triển, thông tin tài chính của các công ty sẽ minh bạch
hơn, nhờ đó các ngân hàng có thể đưa ra các quyết định cho vay chính xác, góp phần làm
giảm rủi ro tín dụng, từ đó làm tăng lợi nhuận và nâng cao khả năng sinh lợi cho ngân
hàng.
2.2.5. Sự tự do hóa thị trường ngoại hối
Khả năng sinh lợi của ngân hàng ở một quốc gia có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ
tỷ giá hối đoái ở quốc gia đó. Ogunleye (1995) đã khẳng định rằng lợi nhuận của ngân
hàng có thể bị hạn chế bởi chế độ tỷ giá cố định; trong khi đó, chế độ tỷ giá thả nổi có
điều chỉnh và thả nổi hoàn toàn lại cho phép một biên độ đủ rộng cho các ngân hàng
trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và vì thế có thể làm cho khả năng sinh lợi của
ngân hàng tăng cao.
Tuy nhiên, Uhomoibhi Toni Aburime (2008) lại tìm ra mối tương quan âm giữa
sự tự do hóa thị trường ngoại hối và khả năng sinh lợi của ngân hàng. Điều này có nghĩa
là ngân hàng Nigeria tạo ra được lợi nhuận cao hơn trong thời kỳ chế độ tỷ giá cố định
2.2.6. Mức độ độc quyền của ngành ngân hàng
Nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) đã tìm ra mối tương quan
âm giữa tỷ số độc quyền và lợi nhuận biên của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu này cho
thấy tỷ số tổng tài sản toàn ngành ngân hàng trên GDP càng lớn và tỷ số độc quyền càng
thấp thì lợi nhuận biên và khả năng sinh lợi cảng giảm. Các nghiên cứu của
10
P.Athanasoglou et al. (2006) về các yếu tố quyết định khả năng sinh lợi của các ngân
hàng ở vùng đông nam Châu Âu trong khoảng thời gian từ 1998 – 2002, Fadlan Sufian
đã vượt lên đứng đầu danh sách, khi con số này đạt 2,88%. Cũng trong năm 2006, ngành
ngân hàng chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của VCB khi khả năng sinh lợi được cải
thiện đáng kể, từ mức 0,95% năm 2005 lên mức 1,58% năm 2006. Các ngân hàng như
GDB, KLB, HBB, HDB, MXB, MB, NVB, STB thuộc nhóm các ngân hàng có tỷ suất
sinh lợi trên tài sản cao trong năm 2006. Đáng chú ý là ngân hàng SHB, trong năm 2005
ROA của ngân hàng này thuộc nhóm các ngân hàng có ROA cao, nhưng sang năm 2006
tỷ số này lại giảm hơn một nửa. Khả năng sinh lợi của CTG chỉ đạt 0,44% thấp hơn rất
nhiều so với mức trung bình, CTG dường như vẫn tỏ ra khá yếu kém trong việc sử dụng
tài sản hiệu quả. Mặt khác, ta dễ dàng nhận thấy các ngân hàng càng có quy mô tài sản
nhỏ thì càng có hệ số ROA cao, điển hình như ngân hàng WB, KLB, MXB. Các ngân
hàng có quy mô tài sản lớn như VCB, CTG lại có hiệu quả sử dụng tài sản thấp hơn.
Điều này được giải thích là do các ngân hàng này có bộ máy hoạt động khá cồng kềnh,
tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, mặt khác các chi phí cho việc bảo
dưỡng, vận hành máy móc, sửa chữa trang thiết bị văn phòng, … tốn kém khiến cho lợi
nhuận bị giảm đáng kể, ROA cũng vì thế mà thấp hơn so với các ngân hàng có quy mô
tài sản nhỏ.
Nhìn chung trong năm 2007, hiệu quả hoạt động của các NHTMCP đã được nâng
cao. Hệ số ROA trung bình đạt 1,48% mức cao nhất trong 6 năm, từ 2005-2010. Ngân
hàng DAB có ROA cao nhất đạt 3,61%, ngân hàng VTN có ROA thấp nhất đạt 0,04%.
Các ngân hàng như: ACB, GDB, KLB, MXB, RKB, SGB, STB, WB thuộc nhóm các
12
ngân hàng có ROA cao trong năm 2007. Trong khi các ngân hàng ABB, CTG, HDB,
MSB, NVB, OJB, VIB thuộc nhóm các ngân hàng có ROA thấp, thấp hơn rất nhiều so
với mức trung bình năm 2007. Vì các NHTMCPVN có quy mô nhỏ nên ROA thường
cao hơn mức trung bình của các ngân hàng trên thế giới (ROA: 1,19%), và các ngân
hàng trong khu vực Châu Á (ROA: 0,89%) (Nguồn: Jaccar Equity Reseach Vietnam,
2009, số liệu thống kê năm 2007). Năm 2007, ngân hàng DAB có ROA cao nhất trong
các ngân hàng, thấp nhất là ngân hàng VTN.
Bước sang năm 2008, nền kinh tế Việt Nam nói chung cũng như ngành ngân hàng
Việt Nam nói riêng phải chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
ngân hàng khi thị trường tài chính còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ROA trung bình
toàn khối NHTMCPVN trong năm 2010 giảm xuống mức 1,18% từ mức 1,33% của năm
2009. Trong đó, ngân hàng SGB đạt tỷ suất sinh lợi trên tài sản cao nhất (4,73%), con số
này tại ngân hàng SCB là 0,46% đạt giá trị nhỏ nhất. Các ngân hàng như: EIB, FCB,
LVB, MB, STB, TCB, VCB thuộc nhóm các ngân hàng có ROA cao, trong khi các ngân
hàng như CTG, GB, GDB, MXB, NAB, NVB, TPB, VIB, VPB, WB thuộc nhóm các
ngân hàng có ROA thấp.
13
Nếu xét riêng từng ngân hàng qua các năm thì ngân hàng STB là ngân hàng có
khả năng sinh lợi đạt mức cao và ổn định nhất, tỷ suất sinh lợi trên tài sản của STB luôn
đạt giá trị trên mức trung bình chung toàn khối NHTMCP. Một ngân hàng khác là SGB
cũng tỏ ra khá hiệu quả trong việc sử dụng tài sản khi tỷ số ROA luôn ở mức cao và tăng
đều qua các năm và đến năm 2010 SGB đã vươn lên giữ vị trí đứng đầu trong toàn khối
NHTMCP với ROA đạt 4,73%. Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn từ nền kinh tế
nhưng ACB, EAB, HBB, FCB, KLB, TCB, MB luôn giữ vững được mức ROA lớn hơn
1% qua các năm. LVB có tỷ suất sinh lợi trên tài sản năm 2008 đạt 5,95% - cao nhất
trong các ngân hàng từ trước tới nay, tuy nhiên tỷ số này lại có xu hướng giảm mạnh,
đến năm 2010 tỷ số này chỉ còn ở mức 1,95%. Cũng giống như LVB, ngân hàng WB có
suất sinh lợi rất cao từ năm 2005-2008, tuy nhiên đến năm 2009 tỷ số này có dấu hiệu
giảm dần và kết thúc năm 2010, tỷ số ROA của WB chỉ còn ở mức 0,55%. Hai ngân
hàng NAB và NVB tỏ ra chống chọi khá kém với những cú sốc của nền kinh tế, cụ thể là
ROA của NAB ở mức 1,43% trong năm 2007 đột ngột giảm xuống chỉ còn 0,16% trong
năm 2008 khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra. Tình trạng của NVB cũng diễn
ra tương tự khi ROA giảm từ mức 2,13% trong năm 2005 xuống còn 1,85%; 0,75%;
0,52% trong các năm tiếp theo. Hai ngân hàng có quy mô tài sản lớn là EIB và VCB đã
cải thiện được rõ rệt khả năng sinh lợi của mình khi tỷ số ROA của hai ngân hàng này đã
dần đi vào ổn định và đạt giá trị trên 1%. Ngân hàng CTG tuy luôn đứng trong nhóm các
ngân hàng có ROA thấp nhất và đến năm 2010 ROA của ngân hàng này vẫn đạt con số
dưới mức 1% , nhưng khả năng sinh lợi tại CTG lại có xu hướng tăng đều qua các năm.
Cùng thuộc nhóm các ngân hàng có tỷ suất sinh lợi trên tài sản thấp là 3 ngân hàng GB,
sản của CTG có sự tăng trưởng vượt bậc đạt mức 51%, vượt qua VCB và trở thành ngân
hàng có tài sản lớn nhất trong khối các NHTMCPVN. Tài sản của CTG có sự tăng
trưởng vượt bậc vào năm 2010 là do ngân hàng này tập trung vào việc cho vay các
TCTD khác (tăng 177% so với năm 2009), chứng khoán đầu tư (tăng 58%), góp vốn đầu
tư dài hạn (tăng 43%).
Ngoài hai ngân hàng lớn là CTG và VCB, các ngân hàng TMCP khác cũng có
những bước phát triển tổng tài sản theo cách riêng của mình.
Đứng vị trí thứ 3 về giá trị tài sản, chỉ sau CTG và VCB là ngân hàng ACB. Tài
sản của ACB liên tục tăng trong giai đoạn từ 2005-2010. Các chi nhánh và phòng giao
dịch của ACB đã có độ bao phủ trên phạm vi toàn quốc nên trong các năm từ 2007-2010,
ACB không chú trọng đến việc mở rộng mạng lưới mà đầu tư sang các hoạt động khác
như chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, cho vay khách hàng. Tính đến cuối
năm 2010, tổng tài sản của ACB đã đạt giá trị 205.102.950 triệu đồng, chiếm 8,3% tổng
tài sản toàn khối NHTMCPVN. Ngân hàng có giá trị tài sản đứng thứ 4 là STB. Tốc độ
tăng tài sản của STB từ 2005-2010 phản ánh theo đúng những diễn biến của nền kinh tế
Việt Nam. Cụ thể là trong hai năm 2006 và 2007, khi nền kinh tế Việt Nam phát triển
nhanh thì tốc độ tăng tổng tài sản của STB trong hai năm này cũng rất cao (71% năm
2006 và 161% năm 2007). Năm 2008, nền kinh tế gặp khó khăn do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng tài sản của STB giảm xuống mức 6%.
Đến năm 2009 và 2010, khi nền kinh tế đã dần đi vào hồi phục, tốc độ tăng trưởng tài
sản của STB lại có mức tăng trở lại, đạt 44% trong cả hai năm 2009 và 2010. Trong cơ
cấu tài sản, STB không tập trung vào khoản mục tài sản cố định mà tập trung vào các
khoản mục khác như chứng khoán kinh doanh, góp vốn đầu tư dài hạn, cho vay khách
hàng.
Một ngân hàng có giá trị tổng tài sản lớn tiếp theo là TCB. Ngân hàng TCB được
xem là ngân hàng có mức tăng trưởng tài sản ổn định nhất trong giai đoạn từ năm 2005-
2010, tốc độ tăng trung bình hằng năm đạt 60%, tỷ trọng tài sản của TCB trong tổng tài
sản của khối NHTMCP tăng liên tục qua các năm. Năm 2006, tổng tài sản của TCB tăng
62%, trong đó chủ yếu là tăng tài sản cố định hữu hình (tăng 304%) để đầu tư cho việc
xây dựng trụ sở mới, mở thêm các chi nhánh và phòng giao dịch. Năm 2007, tổng tài sản
tảng phát triển bền vững cho những năm tiếp theo. Vì thế, tổng tài sản của ABB năm
2008 giảm 21% so với năm 2007, trong đó chứng khoán kinh doanh giảm 60%, chứng
khoán đầu tư giảm 37%, tài sản cố định tăng 507%, tính đến cuối năm 2008, ABB đã có
70 điểm giao dịch trên cả nước. Năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 vẫn
tiếp tục ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới và Việt Nam, tổng tài sản của ABB trong
năm 2009 đã tăng trưởng trở lại nhưng với tốc độ chậm hơn rất nhiều so với các năm
trước. Tính đến cuối năm 2009, tổng tài sản của ABB tăng 97% so với năm 2008, trong
đó: tiền, vàng gửi tại các TCTD khác tăng 245%, chứng khoán kinh doanh tăng 86%,
cho vay khách hàng tăng 97%. Năm 2010, tổng tài sản của ABB tăng 43%, trong đó: tiền
mặt, vàng bạc, đá quý tăng 117%, cho vay khách hàng tăng 58%, tài sản có khác tăng
477%. Tính đến cuối năm 2010, ABB đã có 115 chi nhánh và phòng giao dịch trên cả
nước.
Kịch bản cũng xảy ra tương tự tại các ngân hàng HDB, OCB, SEABANK, VIB
khi tài sản tăng mạnh vào hai năm 2006 và 2007, giảm vào năm 2008 và có mức tăng
nhẹ trở lại vào năm 2009 và 2010. Tuy nhiên, trong cơ cấu tài sản của từng ngân hàng lại
có sự tăng giảm khác biệt ở các khoản mục. Cụ thể là: HDB, VIB không chú trọng tập
trung tăng tài sản cố định mà chủ yếu tập trung vào các khoản khác như: cho vay các
TCTD khác, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, cho vay khách hàng và góp
vốn đầu tư dài hạn. Trong khi đó, ngân hàng OCB và SEABANK lại chú trọng đầu tư tài
sản cố định, mở rộng mạng lưới tương tự như ABB.
Là một ngân hàng có quy mô nhỏ, RKB lại có tốc độ tăng tổng tài sản rất nhanh
qua các năm mà chủ yếu là tăng khoản mục tài sản cố định do ngân hàng này đang mở
rộng mạng lưới hoạt động của mình ra khắp các tỉnh thành trên cả nước. RKB có tổng tài
sản năm 2007 tăng 162% so với năm 2006 (trong đó tài sản cố định tăng 1.068%), năm
2008 tăng 161% so với năm 2007 (trong đó tài sản cố định tăng 22%, tiền gửi tại NHNN
tăng 1.687%, tiền, vàng gửi tại các TCTD khác tăng 242%), năm 2009 tăng 185% so với
năm 2008 (trong đó tài sản cố định tăng 204%), năm 2010 tăng 132% so với năm 2009
16
(trong đó tài sản cố định tăng 162%). Tính đến ngày 30/06/2011, RKB đã có 108 điểm
giao dịch trên toàn quốc.
EIB, MB, STB, VAB, VPB, WB cũng có tốc độ tăng VCSH trên 100% so với năm 2005.
Năm 2007, MXB có tốc độ tăng trưởng VCSH nhanh nhất, đạt 516%, do trong
năm này, vốn điều lệ của MXB tăng từ 70.000 triệu đồng lên 500.000 triệu đồng. SHB
tiếp tục lại có đợt tăng vốn điều lệ lên 2.000.000 triệu đồng vào năm 2007, góp phần
chính làm cho VCSH tăng 326% so với năm 2006. ACB cũng có đợt tăng vốn điều lệ
mạnh trong năm 2007 khi NHNN cho phép ACB tăng vốn điều lệ lên 2.630.060 triệu
đồng bằng cách chuyển 1.100.046 triệu đồng trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu,
chuyển 330.014 triệu đồng từ Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ sang vốn điều lệ và phát
hành thêm 99.953 triệu đồng cổ phiếu mới cho các cổ đông trong nước và nước ngoài.
Kết quả là VCSH của ACB đã tăng 278% so với năm 2006. Được sự cho phép của
NHNN, EIB đã tăng vốn điều lệ lên 2.800.000 triệu đồng, bằng cách phát hành thêm
158.762.900 cổ phần (mệnh giá: 10.000 VND/1 cổ phần), góp phần làm tăng VCSH
thêm 223% so với năm 2006. Còn lại các ngân hàng khác hầu hết đều có tốc độ tăng
17
VCSH đạt trên 100% so với năm 2006. Riêng WB, tốc độ tăng VCSH đã chậm lại, chỉ
đạt 4% năm 2006.
Năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hoạt động kinh
doanh ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn, lợi nhuận của các ngân hàng bị giảm hơn so
với năm 2007 dẫn đến lợi nhuận chưa phân phối giảm, trong khi đó thị trường chứng
khoán liên tục mất điểm, cơ hội tăng vốn chủ sở hữu bằng cách bán thêm cổ phiếu ra thị
trường trở nên khó thực hiện hơn trước, chính vì những lý do đó mà tốc độ tăng VCSH
của các NHTMCPVN trong năm 2008 đã giảm nhanh so với năm 2007, thậm chí có
ngân hàng còn đạt mức tăng trưởng âm, ví dụ như: DAB, HBB, MSB, OCB, OJB, VTN.
Ngân hàng HBB được xem là ngân hàng có mức giảm giá trị VCSH nhanh nhất trong
năm 2008 khi VCSH của ngân hàng này đã giảm 185.666 triệu đồng (tương đương 6%)
so với năm 2007 do lợi nhuận chưa phân phối giảm từ 293.774 triệu đồng xuống còn
70.992 triệu đồng. Tương tự như HBB, lợi nhuận chưa phân phối giảm đã khiến cho
VCSH của các ngân hàng DAB, MSB, OCB, OJB, VTN giảm theo. Trong điều kiện kinh
tế khó khăn như vậy, một số ngân hàng vẫn có mức tăng vốn điều lệ khá ấn tượng, ví dụ
như: EIB vẫn tăng vốn điều lệ lên 7.219.999 triệu đồng (tăng 157%) góp phần làm tăng
như BVB, FCB, GDB, NAB, PGB vẫn chưa đạt được mức vốn điều lệ theo quy định
18
(BVB có vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng, FCB có vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, GDB có vốn điều
lệ 2.000 tỷ đồng, NAB có vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng, PGB có vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng).
Ngoài các ngân hàng có tốc độ tăng VCSH trên 100%, các NHTMCP còn lại có mức
tăng trung bình đạt 46% trong năm 2010.
3.4. Tiền gửi từ khách hàng
(Xem phụ lục bảng 3.5)
Nhìn chung, trong giai đoạn từ năm 2005-2010, các NHTMCPVN luôn có sự tăng
trưởng khá cao đối với tiền gửi từ khách hàng, năm sau luôn tăng cao hơn năm trước.
Các ngân hàng có quy mô nhỏ có tốc độ tăng tiền gửi từ khách hàng nhanh hơn các ngân
hàng có quy mô lớn.
Trong năm 2006, NVB có tốc độ tăng trưởng tiền gửi từ khách hàng cá nhân và
các tổ chức kinh tế rất nhanh, tăng 1.274% so với năm 2005. Ngân hàng có tốc độ tăng
nhanh thứ hai trong năm 2006 là ABB, từ 209.317 tỷ đồng lên 1.567.350 tỷ đồng (tăng
649%). Đặc biệt, hoạt động huy động vốn từ khách hàng doanh nghiệp là hoạt động khởi
sắc nhất của ABB trong năm 2006 trên cơ sở quan hệ đã được thiết lập với các cổ đông
chiến lược (EVN, PVFC, GELEXIMCO) và các công ty thành viên của họ là các đơn vị
có nguồn tiền gửi và tiền thanh toán lớn. Tiền gừi từ khách hàng năm 2006 của SHB tăng
108% so với năm 2005, nguồn tiền gửi tăng thêm chủ yếu do ngân hàng đã nhận được
nguồn tiền gửi bằng USD cho tất cả các kỳ hạn.
Xét về giá trị tuyệt đối, CTG là ngân hàng có lượng tiền gửi từ khách hàng tăng
nhiều nhất trong năm 2006 (tăng 15.296.395 triệu đồng). Trong năm 2006, để duy trì và
phát triển thị phần, CTG đã thực hiện đồng bộ các giải pháp như điều hành linh hoạt cơ
chế lãi suất, tăng cường tiếp thị, cung cấp sản phẩm huy động vốn mang tính cạnh tranh
cao, đổi mới phong cách giao dịch, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nâng cấp
70 điểm giao dịch mẫu theo tiêu chuẩn CTG. Về cơ cấu tiền gửi: Tiền gửi từ doanh
nghiệp tăng 16,1% và chiếm 45% tổng tiền gửi huy động từ khách hàng, tiền gừi từ
doanh nghiệp tăng là do việc cổ phần hóa các DNNN đã thu được lượng vốn thặng dư
khá lớn, chưa đưa vào sản xuất kinh doanh nên tạm thời được gửi ở ngân hàng; Tiền gửi
(Xem phụ lục bảng 3.6)
Ngoài các hoạt động ngân hàng truyền thống là huy động vốn và cho vay, các
NHTMCPVN đang ngày càng hướng đến việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại
như: dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh toán, dịch vụ tư vấn tài chính,… Bên cạnh đó, các
ngân hàng còn tham gia vào các hoạt động kinh doanh khác như: kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh vàng và ngoại tệ, các hoạt động đầu tư. Việc đa dạng hóa nguồn thu
nhập đã giúp các ngân hàng phân tán được những rủi ro trong kinh doanh, tạo nên một
nguồn thu nhập dồi dào đến từ nhiều hướng, từ đó từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc quá
nhiều vào hoạt động tín dụng.
Năm 2006, ABB có tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi rất nhanh, tăng đến
3.399% so với năm 2005. Kết quả có được là do ABB đã trở thành thành viên của hiệp
hội viễn thông liên ngân hàng và các tổ chức tài chính thế giới (SWITF) và đã thiết lập
quan hệ đại lý với hơn 80 ngân hàng ở các quốc gia trên thế giới, với mục tiêu trở thành
ngân hàng số một về dịch vụ thanh toán quốc tế, thu nhập từ dịch vụ thanh toán của ABB
ngày càng tăng cả về số lượng và giá trị giao dịch, thu từ nghiệp vụ ủy thác, đại lý tăng
8.340 triệu đồng (tương đương 21.947%) so với năm 2005. Bên cạnh đó, ABB cũng dần
quan tâm hơn đến các hoạt động kinh doanh khác như kinh doanh ngoại hối, thu từ hoạt
động kinh doanh ngoại hối tăng 1.835 triệu đồng (tương đương 900%) so với năm 2005.
Ngân hàng có tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi nhanh thứ hai trong năm 2006 là
NVB, tăng 1.293% so với năm 2005, thu nhập ngoài lãi tăng nhanh như vậy là do trong
năm 2006 NVB có các khoản thu nhập mà năm 2005 không có như: thu từ nghiệp vụ bảo
lãnh, thu phí dịch vụ thanh toán, thu phí dịch vụ ngân quỹ, thu lãi từ kinh doanh ngoại
hối. Cũng giống như ABB và NVB, kể từ năm 2006, các ngân hàng thương mại khác
cũng bắt đầu chú ý hơn đến việc phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại mà trước hết
là dịch vụ thanh toán, trong đó đáng chú ý nhất là dịch vụ thẻ ATM.
Năm 2007, đáng chú ý nhất là ngân hàng SHB với tốc độ tăng thu nhập ngoài lãi
tăng 4.629% so với năm 2006, trong đó thu nhập từ kinh doanh ngoại hối tăng 2.463
triệu đồng (tương đương 61.575%), ngoài ra SHB còn có thêm các khoản thu nhập từ
hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư, hoạt động góp vốn đầu tư dài hạn, các khoản thu
này chưa xuất hiện trong năm 2005. Hầu hết các ngân hàng đều có mức tăng trưởng thu
Bước sang năm 2009, trước những nỗ lực của Chính phủ nhằm đối phó với tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì sản
xuất kinh doanh và tạo việc làm cho người lao động, nền kinh tế Việt Nam từng bước
được hồi phục, thị trường chứng khoán có bước phát triển lạc quan hơn, số lượng ngân
hàng thương mại có mức tăng thu nhập ngoài lãi âm cũng vì thế đã giảm đi rất nhiều.
Các ngân hàng như ABB, ACB, HBB, NVB, SCB, Seabank, VAB, VIB, VPB đã có tốc
độ tăng trưởng trở lại nhờ nguồn thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
ngoại hối tăng so với năm 2008. Bên cạnh đó, một số ngân hàng vẫn chưa thoát khỏi tốc
độ tăng trưởng âm đối với thu nhập ngoài lãi, thậm chí còn có dấu hiệu giảm sâu hơn
như CTG lỗ 48.215 triệu đồng từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, DAB lỗ 35.213 triệu
đồng từ mua bán chứng khoán kinh doanh, MDB lỗ 2.829 triệu đồng từ mua bán chứng
khoán đầu tư,…
Năm 2010, thị trường chứng khoán, giá vàng, tỷ giá hối đoái có những biến động
theo chiều hướng phức tạp, khó đoán trước gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động kinh
doanh của các NHTMCP. Nửa đầu năm 2010, thị trường chứng khoán biến động trong
biên độ hẹp từ 480-550 điểm với thanh khoản ở mức trung bình. Trong khoảng thời gian
từ tháng 7 đến tháng 8 thị trường chứng khoán bước vào giai đoạn lao dốc khi chỉ số
chứng khoán đều chạm mốc thấp nhất trong vòng một năm. Từ cuối tháng 8 những bất
ổn của nền kinh tế bắt đầu bộc lộ và đỉnh điểm là tháng 11, chính sách tiền tệ đột ngột
thay đổi, thể hiện quyết tâm kiềm chế lạm phát kéo theo một cuộc đua lãi suất giữa các
ngân hàng. Đối với thị trường ngoại hối, sau khi tỷ giá tăng vào hai năm 2008 và 2009
21
thì tỷ giá bắt đầu giảm nhẹ vào tháng 01/2010 đạt mức 18.544VND/USD. Tháng
08/2010, NHNN tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 18.932VND/USD, cuối
tháng 11/2010 tỷ giá tăng lên mức 21.380 – 21.450 21.500VND/USD. Năm 2010 là một
năm đầy biến động của thị trường vàng với những kỷ lục liên tiếp được thiết lập. Trong
khoảng 3 quý đầu năm 2010, giá vàng dường như biến động không nhiều, chỉ giao động
ở ngưỡng 2,8 triệu đồng/chỉ. Tuy nhiên từ giữa quý 4 giá bắt đầu biến động mạnh, kỷ lục
mới vửa được thiết lập thì sau đó vài giờ đã bị phá vỡ bởi kỷ lục khác. Trước những diễn
biến khó kiểm soát của sàn vàng, ngày 30/12/2009, Chính phủ đã yêu cầu chấm dứt hoạt
Năm 2008, lãi suất huy động tăng nhanh đã khiến cho lãi suất cho vay bị đẩy lên
ở mức quá cao, các doanh nghiệp trở nên dè dặt hơn trong việc vay vốn ngân hàng, một
số doanh nghiệp đã tính đến khả năng thu hẹp sản xuất để đối phó với tình hình kinh tế
khó khăn này. Trong tình hình kinh tế khó khăn, giá cả các nguyên liệu đầu vào tăng cao,
sản phẩm đầu ra khó tiêu thụ, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và rơi vào tình trạng mất
khả năng trả nợ làm cho chất lượng tín dụng ngày một xấu đi. Ngoài ra, thị trường bất
động sản xuống dốc khiến cho các khoản vay liên quan đến bất động sản khó có khả
năng thu hồi nợ. Trong khi đó các NHTM đã cho vay khá nhiều vào lĩnh vực bất động
22
sản vào năm 2007; đến năm 2008, khi biến cố khủng hoảng kinh tế nổ ra thì các khoản
vay này mới thực sự bộc lộ hết tính chất rủi ro của nó. Tỷ lệ nợ xấu năm 2008 của toàn
ngành ngân hàng là 3,6%, tăng so với mức 2% của năm 2007.
Từ ngày 01/02/2009 các NHTM bắt đầu cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất
4%, với chính sách này dư nợ tín dụng tại các ngân hàng đã tăng lên rất nhanh. Theo báo
cáo của NHNN, dư nợ tín dụng hỗ trợ lãi suất tính đến ngày 24/12/2009 đã là 412.180 tỷ
đồng, trong đó dư nợ ở nhóm NHTM nhà nước và Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là
274.884 tỷ đồng, nhóm NHTMCP là 108.085 tỷ đồng, nhóm ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài là 20.747 tỷ đồng,
công ty tài chính là 8.463 tỷ đồng. Với chính sách nới lỏng tín dụng, dư nợ tín dụng của
toàn hệ thống ngân hàng đã tăng đột biến, tính đến tháng 11/2009, tăng trưởng tín dụng
của toàn hệ thống ngân hàng là 37% vượt xa những dự kiến và định hướng ban đầu.
Chính việc tăng trưởng tín dụng quá nóng này đã buộc NHNN phải đưa ra nhiều biện
pháp thắt chặt tiền tệ vào cuối năm 2009. Cụ thể, từ ngày 01/12/2009 lãi suất cơ bản
bằng đồng Việt Nam được tăng lên mức 8%/năm, đẩy mức lãi suất cho vay tối đa của
các tổ chức tín dụng tăng từ 10,5%/năm lên 12%/năm. Xét về chất lượng tín dụng, nhìn
chung chất lượng tín dụng của các NHTMCP đã được cải thiện đáng kể trong năm 2009,
thể hiện ở tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí dự phòng
tổn thất rủi ro tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng năm 2009 đạt 2,46%.
Tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống năm 2010 đạt 27,65% trong đó tăng
trưởng bằng VND tăng 25,3%, tín dụng bằng USD tăng 37,7%. Năm 2010 được xem là
đo lường tốt hơn khả năng thu lợi của một ngân hàng trên danh mục tài sản của nó.
Trong khi đó, tỷ số lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) lại phản ánh hiệu quả
quản trị của ngân hàng trong việc sử dụng vốn cổ phần. Vì ROA của các trung gian tài
chính thường có xu hướng thấp hơn nên hầu hết các ngân hàng đều sử dụng đòn bẩy tài
chính để tăng ROE đến mức cạnh tranh (Hassan & Bashir, 2003). Vì những lý do đó,
ROA sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường khả năng sinh lợi của các
NHTMCP Việt Nam.
4.2.1. Các nhân tố bên trong
Các biến đại diện cho các nhân tố bên trong được sử dụng để phân tích trong
nghiên cứu này bao gồm: E/TA (Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản), LNTA(logarit tự nhiên
của tổng tài sản), LLP/TL (Dự phòng tổn thất rủi ro tín dụng/Dư nợ tín dụng), NI/TA
(Thu nhập ngoài lãi/Tổng tài sản), TC/TA (Tổng chi phí/Tổng tài sản).
• Quy mô ngân hàng (Bank size)
Quy mô ngân hàng được đo lường bằng cách lấy logarit tự nhiên của tổng tài sản
(LNTA). Biến LNTA được đưa vào mô hình hồi quy để xem xét tính kinh tế theo quy
mô (economies of scale) của các ngân hàng. Nếu LNTA có mối tương quan dương với
khả năng sinh lợi của ngân hàng chứng tỏ ngân hàng càng mở rộng quy mô thì khả năng
sinh lợi càng tăng, mở ra cơ hội cho các ngân hàng có thể tiếp tục đa dạng hóa và mở
rộng kênh phân phối để nâng cao khả năng sinh lợi của mình. Ngược lại, trường hợp xuất
hiện mối tương quan âm chứng tỏ nếu mở rộng quy mô thêm nữa có thể làm cho chi phí
24
tăng cao, sự phát triển về trình độ quản lý, nguồn nhân lực không theo kịp sự phát triển
của quy mô khiến cho rủi ro của ngân hàng tăng cao, khả năng sinh lợi cũng vì thế mà bị
giảm đi. Các nghiên cứu của Fadzan Sufian & Royfaizal Razali Chong (2008), Ben
Naceur & Goaied (2008), Fadlan Sufian (2011) cũng đã sử dụng tỷ số này để đo lường
quy mô ngân hàng và cho ra một kết quả không thống nhất về mối tương quan giữa quy
mô ngân hàng và khả năng sinh lợi của ngân hàng. Vì vậy, LNTA trong nghiên cứu này
có thể có mối tương quan dương hoặc âm đối với khả năng sinh lợi của ngân hàng.
• Quy mô vốn chủ sở hữu (Capital size)
Quy mô vốn chủ sở hữu được đo lường bằng vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản
nhiều rủi ro, các khoản cho vay chẳng những không mang lại lợi nhuận mà còn gây thiệt
hại về mặt tài chính cho ngân hàng. Tỷ số LLP/TL càng tăng thì khả năng sinh lợi của
ngân hàng càng giảm. Các nghiên cứu của Fadzan Sufian & Royfaizal Razali Chong
(2008), Anna P.I.Vong & Hoi Si Chan (2009), Panayiotis P. Athanasoglou et.al (2005),
Panayiotis P. Athanasoglou , Matthaios D.Delis, Christos K. Staikouras (2006) đã sử
dụng tỷ số này để đo lường rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Vì vậy, tỷ số LLP/TL
25