Vài nét về kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO potx - Pdf 15

Vài nét về kinh tế Việt Nam sau 5 năm
gia nhập WTO

Ngày 7-11-2006, tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ) đã diễn ra Lễ ký Nghị định
thư về việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Sự kiện đó đã mở ra cho đất nước ta nhiều cơ hội mới
và cả những thách thức cần phải vượt qua trong phát triển kinh tế -
xã hội Những kết quả tích cực
Mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng thu hút FDI
Là thành viên của WTO, vị thế của Việt Nam được nâng lên, có điều
kiện để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, trước hết là đối với các nước
thành viên của Tổ chức này. Điều đó được thể hiện cụ thể qua các số
liệu sau. Trong 5 năm 2007 - 2011, kim ngạch xuất khẩu, nhìn chung,
diễn biến theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước: năm 2006 đạt 39,8
tỉ USD tăng 22,7%; năm 2007 đạt 48,57 tỉ USD tăng 23%; năm 2008 đạt
62,7 tỉ USD, tăng 29,5%; năm 2009 đạt 57 tỉ USD; năm 2010 đạt 71,6 tỉ
USD, tăng 25,5% (gấp 3 lần mục tiêu đề ra) và năm 2011 ước đạt 85 tỉ
USD, tăng 21% so với năm 2010. Đặc biệt, trong bối cảnh khủng hoảng
tài chính - kinh tế toàn cầu, những thị trường xuất khẩu lớn của Việt
Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản bị ảnh hưởng nặng nề, thì kim ngạch xuất
khẩu đạt được trong những năm qua là rất đáng ghi nhận.

Thêm vào đó, xuất khẩu không chỉ tăng về lượng mà cơ cấu mặt hàng
cũng có những khởi sắc theo hướng tiến bộ, tuy mới chỉ là bước đầu.
Bên cạnh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, như dầu thô, dệt may, giày
dép, các mặt hàng máy tính, điện tử, điện lạnh, hàng thủ công mỹ nghệ,
ba lô túi xách, đồ gỗ, dây điện và cáp điện cũng có xu hướng tăng dần
về giá trị và tỷ trọng.

nước.
Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xuất khẩu tăng góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế; tạo điều kiện thuận lợi để cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến
bộ. So với các nước thành viên ASEAN, tốc độ tăng trưởng kinh tế của
nước ta trong 5 năm qua đạt mức cao hơn với xu hướng khá ổn định,
chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện từng bước. Tổng sản phẩm
trong nước (GDP) năm 2007 tăng 8,45%, năm 2008 tăng 6,18%, năm
2009 tăng 5,32%, năm 2010 tăng 6,78% và năm 2011 ước tăng 5,8%.
Năm 2010, tuy mới ra khỏi khủng hoảng nhưng kinh tế Việt Nam vẫn
đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn 2 năm trước đó, vượt kế hoạch được đề
ra từ đầu năm (6,5%). Năm 2011, để tập trung vào mục tiêu kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ hạ
chỉ tiêu tăng trưởng so với kế hoạch đầu năm nên tốc độ tăng GDP ước
sẽ đạt thấp hơn năm 2010, tuy nhiên vẫn cao hơn năm 2009.

Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế là thu -
chi ngân sách nhà nước (NSNN), nhất là cơ cấu thu - chi, tỷ lệ bội chi so
với GDP. Trong những năm qua, cân đối thu - chi NSNN được cải thiện.
Tổng thu NSNN các năm 2007 - 2011 luôn đạt, thậm chí vượt dự toán
hằng năm và theo xu hướng tốc độ tăng năm sau cao hơn năm trước. Cụ
thể là: Thu ngân sách năm 2006 vượt dự toán 9,8%; năm 2007 vượt
15,2%; năm 2008 vượt 23,8% và tăng 26,3%; năm 2009 tăng 29%; năm
2010 vượt dự toán 9,3%; và năm 2011 ước vượt dự toán 10%. Cơ cấu
thu ngân sách có chuyển biến tích cực: Thu nội địa tăng từ 52,1% năm
2006 lên 55,17% năm 2007; 55,13% năm 2008; 60,96% năm 2009;
60,5% năm 2010 và ước đạt 61% năm 2011. Các khoản thu có tỷ trọng
lớn đều đạt mức khá. Các năm 2008, 2009 và 2010, mặc dù chịu ảnh
hưởng lớn của mưa lũ ở miền Trung, Tây Nguyên song nhiều khoản
thu chủ yếu, như thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, thuế công


Nông nghiệp có sự khởi sắc toàn diện, chất lượng tăng trưởng khá ổn
định. Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực này bình quân thời kỳ 2007 -
2011 tăng trên 2,59%/năm, trong đó, năm 2009 tăng 1,83%, năm 2010
tăng 2,78% và năm 2011 ước tăng 3%. Sản xuất nông nghiệp phát triển
góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm
quốc gia trong mọi tình huống, đặc biệt vào thời điểm trên thế giới diễn
ra khủng hoảng lương thực, giá lương thực tăng cao. Sản lượng lương
thực có hạt năm 2010 đạt 44,6 triệu tấn, tăng 4 triệu tấn so với năm 2007
(10%); năm 2011 ước đạt 45 triệu tấn. Lượng gạo tiêu dùng trong nước
ổn định mặc dù dân số tăng bình quân 1 triệu người/năm; lượng gạo hỗ
trợ đồng bào vùng bị thiên tai tăng cao nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu
cơ bản của đời sống dân cư, không để dân đói. Lượng gạo xuất khẩu
bình quân 5 năm qua đạt trên 5,9 triệu tấn/năm, trong đó năm 2009 và
2010 đạt trên 6 triệu tấn, năm 2011 ước đạt 7 triệu tấn. Các mặt hàng
khác, như cà phê, cao su, hạt tiêu, chè cũng có xu hướng tương tự.
Nhờ tác động của WTO, thị trường xuất khẩu nông sản được mở rộng,
các loại thuế bán phá giá mang tính áp đặt như trước đây bị bãi bỏ hoặc
hạn chế, chất lượng nông sản tăng lên nên nhiều mặt hàng xuất khẩu
Việt Nam đã đứng vững trên các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản,
EU.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá cao. Giá trị sản xuất công nghiệp
năm 2007 tăng 16,7%; năm 2008 và 2009 do suy thoái kinh tế thế giới
nên có mức tăng thấp hơn, nhưng đến năm 2010 đã hồi phục và tăng trên
14%; năm 2011 ước tăng 13%. Nét khởi sắc đáng ghi nhận là, giá trị sản
xuất công nghiệp khu vực ngoài nhà nước và khu vực công nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh trong 5 năm qua. Thí
dụ: năm 2007, khu vực công nghiệp ngoài nhà nước tăng 20,9%; khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18%. Cơ cấu sản phẩm, và chất


Mỗi năm bình quân tạo thêm 1,5 triệu việc làm mới, góp phần xoá đói,
giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh trong thời gian qua: từ 20%
năm 2001 xuống còn 18,1% năm 2004; 15,5% năm 2006; 14,8% năm
2007; 13,5% năm 2008; 12,3% năm 2009 và 9,5% năm 2010 (theo
chuẩn nghèo cũ của Chính phủ giai đoạn 2006 - 2010). Năm 2011, tỷ lệ
hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới là 14,5% nhưng theo chuẩn nghèo cũ
chỉ còn 8,5%. Với kết quả đó, Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế
đánh giá là một trong những nước giảm tỷ lệ nghèo đói nhanh nhất thế
giới với tốc độ 2%/năm.

Tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái là một bộ phận
của chất lượng tăng trưởng theo cam kết WTO. Đó vừa là mục tiêu, vừa
là điều kiện để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế. Thực hiện chủ
trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, các cam kết WTO, các
ngành, các cấp đã triển khai nhiều chương trình, dự án để bảo vệ và cải
thiện môi trường, như Chương trình 661, trồng mới 5 triệu héc-ta rừng,
chương trình nước sạch nông thôn, giao đất giao rừng, phát triển lâm
nghiệp xã hội, trồng cây gây rừng… Tỷ lệ che phủ rừng tăng dần qua
các năm: 2006 là 38%, năm 2007 là 38,8%, năm 2008 đạt 39%, năm
2009 đạt 40%, năm 2010 đạt 40,5% và năm 2011 ước đạt 41%. Những
kết quả khả quan này phản ánh sự khởi sắc trong hoạt động bảo vệ và tái
tạo vốn rừng, cân bằng môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế.

Đạt được những thành tựu trên đây có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi
lên là vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về kinh tế - xã
hội. Nhiều chủ trương, chính sách và luật pháp đã được ban hành để
thực hiện các cam kết WTO. Sau 5 năm ký Nghị định thư chính thức gia
nhập WTO, Việt Nam đã thực hiện những nghĩa vụ của mình theo đúng
các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, giảm thuế nhập

tính tăng lên 58,7% năm 2011 (theo số liệu của Cục Công sản, Bộ Tài
chính). Tỷ lệ nợ nước ngoài chiếm trên 40% GDP trong các năm 2007 -
2011.

Năng suất lao động tại Việt Nam năm 2008 đạt 32,9 triệu đồng/lao
động/năm, tương đương 1.983 USD/lao động/năm, trong đó, nhóm
ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt thấp hơn (chỉ đạt 13,8 triệu
đồng, tương đương 833 USD). Hoạt động của các tập đoàn kinh tế,
doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế, bất cập, hiệu quả không cao.
Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước chưa ổn định,
số doanh nghiệp yếu kém còn nhiều.

Môi trường sinh thái vẫn bị ô nhiễm, theo xu hướng ngày càng phức tạp.
Môi trường đất, nước, không khí, thảm thực vật, rác thải, chất thải rắn,
mùi bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau do nhiều nguyên nhân và yếu
tố tác động. Vẫn còn tình trạng tái nghèo tại các vùng nông thôn, vùng bị
thiên tai, vùng sâu, vùng xa, vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp do đô thị hóa, công nghiệp hóa, vùng dân tái định cư, miền
núi

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên
nhân là sau khi gia nhập WTO, Việt Nam chịu sự cạnh tranh trực tiếp và
gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn.
Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của Việt Nam với sản phẩm của các
nước, giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp các nước, không
chỉ trên thị trường thế giới mà ngay cả trên thị trường nội địa do thuế
nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% trước đây xuống mức
13,4% và thấp hơn. Những khó khăn đó bị nhân lên gấp bội khi nền kinh
tế của nước ta còn đang phát triển ở trình độ thấp, vẫn dựa nhiều vào
nông nghiệp, xuất khẩu nông sản; cơ chế quản lý nhà nước còn nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status