MỘT VÀI NÉT VỀ CHÍNH TẢ VIỆT NAM - Pdf 56

Một Vài
Nhận Xét
Về Chính
Tả Việt
Nam
Vấn đề viết
đúng tiếng
Việt vẫn
được giới
làm báo,
làm sách
nhắc đến từ
lâu và chỉ
chau mày
hay lắc đầu
mỗi khi đọc
một bản
thảo hay
một ấn
phẩm có
nhiều "lỗi"
chính tả.
Sau đấy lại
thôi, không
bàn đến nữa,
làm như
chuyện viết
sai tiếng
Việt là một
thứ bệnh
nan y của

chuẩn chính tả đã được một số từ điển gia, pháp lý gia hay thần
học gia tên tuổi sử dụng, tưởng cũng nên đặt lại vắn đề "lỗi
chính tả" một cách dân chủ tiến bộ và thông minh hơn.
Từ xưa, do địa vị "nôi văn hóa Việt", ngôn ngữ miền Bắc được
xem như tiêu chuẩn để viết đúng tiếng Việt. Và trong gần hai
thế kỷ, tinh thần thống trị ấy được giới làm văn chấp nhận một
cách thoải mái vì tính "chuộng nhàn" vốn là một dân-tộc-tính
của ta. Trong khi ấy, ngay vào buổi sơ khai của nền văn học
quốc ngữ, Phan-kế Bính đã có những nhận xét rất nghiêm chỉnh
về những sai lầm chính tả trong tiếng nói của mỗi vùng Bắc,
Trung, Nam.
Ví dụ: Người Bắc nói: ông zời (ông trời), mặt zăng (mặt trăng),
uống ziệu (uống rượu), zồng cây ăn chái (trồng cây ăn trái),
phong chào chanh đấu (phong trào tranh đấu), nhọ nhem (lọ
lem), con zộng (con nhộng), con zện zăng tơ (con nhện giăng
tơ), zọng zao hàng (giọng rao hàng), xự zối zá (sự dối trá) v.v...
Do đó, có sự lầm lẫn trong cách viết những chũ bắt đầu bằng tr,
ch, gi, d, nh, s, x ...
Nguời Trung (người Huế), không quen (vì ngại hay không thấy
là cần thiết) phân biệt dấu hỏi dấu ngã, cũng như lẫn lộn những
chữ:
nh/gi đầu chữ - ví dụ: cái già (cái nhà)
con giện (con nhện)
c/t cuối ch" - ví dụ : rửa mặc (rửa mặt) - chuyện lặc vặc (chuyện
lặt vặt)...
- n/ng cuối chữ - ví dụ: ăng cơm (ăn cơm) - băng khoăng (băn
khoăn) ...
Nhiều nhà văn người Nam cũng có tinh thần ấy, không chú
trọng sự phân biệt hỏi ngã, và có những lầm lẫn về chính tả như
người

với nhau
không ai
hiểu ai cả vì
tiếng nói
của mỗi địa
phương đầy
rẫy những
lỗi!
Vậy vấn đề
là thế nào là
"lỗi" chính
tả? Nên xác
định như thế
nào để
thống nhất
chính tả
tiếng Việt?
Trước hết, không nên dựa vào thói quen hay vì có một "vị chức
sắc văn học" nào đấy đã dùng nên mọi người phải rập khuôn
theo.
Trước khi nói đến sự xác định - chuyện ấy "còn khuya", vả lại,
đấy là việc làm của một viện hàn lâm ngôn ngữ quốc gia - tôi
xin tạm đặt một nguyên tắc chính về "sự" viết đúng: một chữ
viết đúng không tạo sự lẫn lộn ý nghĩa với một chữ khác.
Ví dụ: con dao, dao động (chuyển động đong đưa) - giao thiệp
(vận chuyển sang nơi khác)
nổi trôi (nằm trên mặt nước) > nông nổi (không sâu) - nỗi niềm,
nông nỗi (trạng thái tâm hồn).
trinh tiết (không bị hoen ố) - chiến chinh (đi xa)
Nếu không, có thể tùy tiện mà dùng trong khi chờ đợi thẩm

được đem dùng trong ngôn ngữ của ta gọi là chữ hán-việt.
Vậy làm thế
nào để phân
biệt được
chữ nào là
thuần túy
Việt-Nam?
Ngoài
những trạng
từ thường có
dạng đơn
âm như đã,
cũng,
những, mải,
mãi, hãy, để,
cả, rồi, mà,
nhưng, vì,
nếu, như,
nếu như
v.v... cách
phân biệt tốt
nhất là suy
từ những
chữ kép láy.
Kép láy là
những chữ
có một tiếng
chính (có
nghĩa) và
một tiếng

- không dấu/ không dấu: lông bông, lang thang, thênh thang,
mênh mông...
- không dấu/ dấu sắc: le lói, thâm thúy, trơ tráo, nhâng nháo...
- dấu sắc/ dấu sắc: tí-tách, nhắng nhít, rối rít, thút thít...
1b- Cách suy ra dấu hỏi, ngã: Nhờ định luật ấy, ta có thể nhận
diện được dấu hỏi, dấu ngã đối với một số chữ đơn âm như:
rõ < rõ ràng, rõ rệt
ngỡ < ngỡ ngàng, lỡ làng
rảnh < rảnh rang, bảnh bao
hỏi < hỏi han, lở lói
nở < nở nang, hở hang
ngỗ < ngỗ nghịch # ngổ-ngáo
ngẩm < ngán ngẩm # ngẫm nghĩ = ngẫm + nghĩ)
mải < mê mải (mải làm quên ăn) # mãi (làm việc mãi không
thôi)
Chú ý : Do đó, ta có thể giải thích được nguyên nhân của nh"ng
âm hỏi, ngã trong những trường hợp sau :
cũng = cùng
đã = đà
tĩnh = tịnh
ngỡ = ngờ v.v...
1c- Ngoại lệ: Tuy nhiên, trong bất cứ ngôn ngữ hay văn phạm
nào cũng vậy, luôn luôn có những ngoại lệ buộc ta phải thận
trọng khi dùng dấu hỏi, dấu ngã. Ví dụ :
- trong những chữ kép gồm có hai chữ đều có nghĩa: ủ-rũ (ủ-ê +
rũ rượi); rảnh rỗi (rảnh rang + rỗi)
- nhiều tiếng không đứng trong định luật nói trên như: trơ trẽn,
phỉnh phờ, ngoáo ộp, xiêng xẹo, lam lũ, mỏi mòn, ngoan ngoãn,
khe khẽ v.v...
Cũng may mà những trường hợp ngoại lệ không có nhiều nên

(ton) - nhị
âm
(diphtongue
), tam âm
(triphtongue
) như của ta,
nhưng các
cụ đã nhận
thấy được
sự dị biệt
của mỗi chữ
nên đã đem
dấu hỏi, dấu
ngã vào
những tiếng
hán-việt ấy.
Ví dụ: phụ
=/= phủ
ương =/=
ang
iêu =/= iu
phúc =/= phú
Do đấy, dấu hỏi, dấu ngã được đặc biệt dùng cho mỗi loại chữ
hán-việt. Tổng quát, ta nhận thấy những loại sau đây :
2a - Chỉ dùng dấu hỏi những chữ bắt đầu bằng:
A - Â : ải, ảnh, ẩm, ẩn, ẩu v.v...
B: bản, bảng, bảo, bỉ, biển, bổng lộc, bỉnh bút , biển lận v.v..
Ngoại lệ : bãi chức, bãi triều
C: cải, cảm, cảo, cẩm, cảng v.v... Ngoại lệ : long cỗn, cưỡng
bách, lưu cữu

hảo, hiểm, hiển, hiểu, hỏa, hoảng, hổ phách, hủ, hủy, hưởng
hãm hại, hãn mã, hãnh diện, trì hoãn, hỗ tương, hỗn hợp, huyễn
hoặc, hữu trách.
bằng Q :
quĩ đạo, thủ qũy,
quảng đại, quỉ quái .
3 - Kết
luận :
Vấn đề dấu
hỏi, dấu
ngã, thiết
nghĩ, không
nên xem là
tiên quyết
trong ngôn
ngữ và văn
chương. Nó
chỉ là một
sự tô điểm
cho sự phát
âm, lúc nói
và lúc hát
chứ không
hẳn là một
điểm trọng
yếu về giá
trị văn
chương. Khi
nằm trong
khuôn khổ

mộ điệu" mà thôi.
Phụ lục :
1- Những cái vô lý trong Tự điển Việt-Pháp (Lê Khả Kế +
Nguyễn Lân) của nhà xuất bản Khoa học xã hội ở Hà nội.
Để góp ý về sự bàn cãi về riêng chữ D và GI, vì có nhiều bạn
dùng quyển tự điển này để xác định cách viết D và GI, với tất
cả lòng kính quí của tôi, tôi xin chép ra đây vài điểm "trục trặc"
của hai Cụ Lê-khả Kế và Nguyễn Lân. (Nguyễn Lân, bút hiệu là
Từ-Ngọc, tác giả "Cậu bé nhà quê" là thầy dạy pháp văn và
việt-văn đầu tiên của tôi, năm 1943)
2a- Vô lý : Với một tinh thần khẳng định dựa trên quan niệm
"tiếng Bắc" được phát âm đúng, nên dùng làm tiêu chuẩn chính
tả cho ch" viết, ta có thể thấy nh"ng điểm "ngoan cố" sau đây :
tr. 195 : con dộng - tr. 752 : con nhộng
tr. 279 : dấp giọng - tr. 739 : nhấp giọng
tr. 287 : diếc móc - tr. 745 : tr.nhiếc móc tr. 290 : dịp - tr. 748 :
nhịp nhàng
tr. 295 : dơ bẩn, dơ duốc - tr. 754 ; nhơ nhuốc, nhơ nhớp
tr. 294 : dồi (boudin) - tr. 751 : nhồi nhét (bourrer) . Có sự lẫn
lộn, trong khi sự khác nhau là dồi bột (nhào bột=pétrir) và nhồi
nhét (bourrer)
vân vân...
Cái vô lý là hai tác giả chỉ dựa vào "thói quen" phát âm của
miền Bắc để xác định cách dùng chữ D.
2b- Chữ D dùng cho những chữ sau đây có thể tạo ra nhầm lẫn,
vậy ta nên chọn lực một cách viết. Ví dụ :
dây (vết bẩn vấy, dính dấp bừa bãi)# dây dưa (kéo dài trong một
th(c)i gian dài) # giây (sợi giây, giây phút)
dấu (vết hằn không phai lạt, để ghi nhận) # giấu (cất giấu)
Dấm (chất nước chua) # nhấm (ăn, uống từng miếng nhỏ).


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status