LUẬN VĂN:
Tìm hiểu hiện trạng và nguyên nhân của
những biến đổi mức sống của cộng đồng
dân cư sau Tái Định Cư
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là một xu hướng tất yếu của lịch sử, là cơ sở để đánh giá trình độ
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, mỗi quốc gia.
Trong những năm qua, việc quy hoạch dân cư nhằm chỉnh trang đô thị, nâng
cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật tạo, điều kiện cho việc mở rộng, phát triển kinh tế - xã hội
là một chính sách lớn được các cấp ủy Đảng và chính quyền nhân dân thành phố Đà
Nẵng đặc biệt quan tâm. Chính sách này đã và đang mang lại hiệu quả hết sức to lớn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, do yêu cầu của cả lý luận và thực tiễn, đã có một số
công trình nghiên cứu trên các phương diện khác nhau về di dời, giải tỏa và TĐC. Có
thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:
- Thứ nhất: "Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn"
(TS. Phạm Mộng Hoa - TS. Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000).
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị
định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm
của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn
chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách TĐC của
Việt Nam với chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất,
kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính
sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
- Thứ hai: "Chính sách di dân châu á" (Dự án VIE/95/ 2004. Nxb Nông nghiệp
- Hà Nội, 1998).Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc độ khác
nhau của việc di dời, giải toả,di dân TĐC. Cụ thể trong bài viết "Chính sách tái định
cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam" (từ trang 180-195), tác giả
Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạng công tác TĐC hiện nay ở nước ta và tập
trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù và
TĐC.
Tiếp theo, bài viết "Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành
phố Hồ Chí Minh", tác giả Lê Văn Thành bước đầu đề cập đến những khó khăn, thiệt thòi
về việc làm mà người dân TĐC phải đương đầu.
- Thứ ba: "Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục cuộc sống
cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công
nghiệp" (Trần Xuân Quang, Hà Nội, 8/1997).
Đây là công trình đã khá thành công trong việc đưa ra những đánh giá có tính
Trong những năm gần đây còn có các dự án PMU nghiên cứu các công trình di
dời, giải toả về giao thông (đường quốc lộ 1, đường 5, đường Hồ Chí Minh…) hay
công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng đến các mặt kinh tế - xã hội của việc di dời,
giải toả, tái đinh cư ở khu công nghiệp Dung Quất… Các nghiên cứu này chú trọng
vào việc xem xét mức độ ảnh hưởng của các dự án đến các mặt kinh tế, xã hội, văn
hoá, lối sống của người dân có liên quan đến dự án.
Có thể khẳng định rằng, ở Việt Nam, khái niệm TĐC chỉ mới xuất hiện trong
một số năm gần đây, các nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều. Các nghiên cứu về
TĐC chủ yếu tiếp cận trên phương diện cơ sở pháp lý, tức là quan tâm xem xét các cơ
chế chính sách hiện hành về giải tỏa đền bù, TĐC. Còn việc nghiên cứu về thực trạng
biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau TĐC chỉ mới có một vài công trình đề cập tới
song mới chỉ bước đầu. Đến nay vẫn chưa có những công trình đề cập một cách toàn diện
và sâu sắc về sự biến đổi mức sống của nhóm cư dân sau TĐC ở Việt Nam nói chung và
ở thành phố Đà Nẵng nói riêng. Do vậy, nghiên cứu, làm rõ "Biến đổi mức sống của
nhóm cư dân sau tái định cư ở Đà Nẵng" đang là điều rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thực trạng và nguyên nhân sự biến đổi mức
sống của nhóm dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng để đề xuất những giải pháp nhằm góp
phần ổn định và nâng cao đời sống cho cộng đồng cư dân sau TĐC.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và những khái niệm cơ bản về sự biến đổi mức sống của
nhóm dân cư sau TĐC.
- Khảo sát và đánh giá đúng thực trạng mức sống của nhóm dân cư sau TĐC.
- Tìm hiểu những nguyên nhân kinh tế- xã hội làm thay đổi mức sống của cộng
đồng dân cư sau TĐC.
- Đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm ổn định và nâng cao chất lượng
sống của nhóm dân cư sau TĐC.
của Đảng
và Nhà
nư
ớc
Biến đổi
mức sống
- Thu
nhập
- Chi
tiêu
Môi
trư
ờng
tự
nhiên,
- Ngh
ề nghiệp
gia đình
Cá nhân
- Tuổi
- Gi
ới
tính
-
H
ọc vấn
Hệ
quả
xã
hội
+ Kiểu loại gia đình (gia đình đầy đủ, gia đình khiếm khuyết).
+ Nghề nghiệp của gia đình (thuần nông, phi nông, hỗn hợp).
- Các yếu tố cá nhân
+ Tuổi.
+ Giới tính.
+ Trình độ học vấn.
+ Nghề nghiệp
- Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ lãnh đạo
quản lý ở Đà Nẵng và các địa phương có điều kiện tương tự trong việc hoạch định và
thực hiện chính sách đền bù giải toả và TĐC.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan đến biến đổi đời sống xã hội trong
quá trình đô thị hoá.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết.
Chương 1
CƠ Sở Lý LUậN CủA VấN Đề NGHIÊN CứU
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Mức sống
1.1.1.1. Khái niệm mức sống
Mức sống là một khái niệm được dùng khá phổ biến trong các nghiên cứu để đánh
giá mức độ đạt được về các điều kiện sống của dân cư. Tuy nhiên, mức sống là một phạm
trù kinh tế - xã hội rất rộng nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì mức sống là “mức đạt được trong chi dùng, hưởng
thụ các điều kiện vật chất, tinh thần” [40 tr.1157]. Như vậy với quan niệm này thì mức
sống được hiểu là mức độ đạt được về các điều kiện vật chất và tinh thần của dân cư.
Theo Mác thì “Mức sống dân cư không phải chỉ là sự thoả mãn nhu cầu của đời
sống vật chất mà còn là sự thoả mãn nhu cầu nhất định, những nhu cầu được sản sinh bởi
chính những điều kiện xã hội mà trong đó con người đang sống và trưởng thành” [23].
Nghĩa là ngoài đòi hỏi về những điều kiện vật chất, con người ta còn hướng tới những
nhu cầu xã hội. Những nhu cầu xã hội được sản sinh từ chính những điều kiện xã hội nên
sống thường thiên nhiều về mặt "lượng" của đời sống còn chất lượng cuộc sống thiên
nhiều về mặt "chất" của đời sống. Chất lượng sống phải đo lường bằng những chỉ báo cụ
thể về mức sống vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại,…) và tinh thần (hưởng thụ văn hoá, nghệ
thuật, giải trí, vui chơi, tự do chính trị,…)
1.1.1.2. Biến đổi mức sống
Mức sống là một phạm trù có tính lịch sử, chịu sự thay đổi về thời gian và khác
nhau trong không gian. Trong một quốc gia hay ở từng vùng, mức sống thường biến đổi
cùng với sự biến đổi của điều kiện sống, đặc biệt là trình độ phát triển sản xuất trong mỗi
thời kỳ. Thời bao cấp, chiến tranh, mức sống trung bình chỉ là có đủ những nhu cầu tối
thiểu, thiết yếu nhất để duy trì sự sống như ăn: 13kg lương thực/tháng, mặc: 4m
2
vải một
người/năm. Song hiện nay, nức sống trung bình phải đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, có phương
tiện đi lại và phương tiện gia dụng bằng mức sống khá giả trước kia. Như vậy nghiên cứu
về mức sống phải nghiên cứu trong tính lịch sử và cụ thể của nó.
Không chỉ làm rõ khái niệm "mức sống", luận văn còn phải làm rõ khái niệm
"biến đổi mức sống" (BĐMS). Song để có cơ sở nhận thức rõ hơn về khái niệm BĐMS
phải bắt đầu từ khái niệm biến đổi. Biến đổi là gì? Biến đổi như thế nào? Theo Từ điển
tiếng Việt “Biến đổi là sự thay đổi so với cái trước đó” [37, tr.89]. Sự thay đổi đó có thể
tăng hoặc giảm, từ dạng này sang dạng khác, từ hình thái này sang hình thái khác.
Vậy biến đổi mức sống là sự thay đổi mức độ thoả mãn các nhu cầu về thể chất,
tinh thần và xã hội của người dân. Vì biến đổi mức sống là một quá trình kinh tế - xã hội
nên để xác định nó, mỗi phép đo đều cần ít nhất hai thời điểm khác nhau. Điểm mốc mà
tác giả lựa chọn để so sánh, làm sáng tỏ sự biến đổi mức sống của người dân là sau khi
đối tượng được giải toả, di dời và sinh sống ở khu TĐC so với mức sống thời gian trước
di dời. Khoảng thời gian sau TĐC được lựa chọn để nghiên cứu ít nhất là từ hơn 6 tháng
trở lên. Những hộ gia đình mới chuyển vào khu TĐC với thời gian dưới 6 tháng chưa đủ
nợ. Phần chi tiêu cho đời sống gia đình họ trở nên eo hẹp khi phải dành dụm phần thu
nhập để trả nợ.
Vì vậy, đánh giá mức sống cần phải xem xét về một số chỉ báo khác như, chi tiêu
cho các nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở, đi lại) và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội (giáo
dục, y tế, vui chới giải trí,…).
ở đây, phần chi tiêu chủ yếu tập trung cho các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi
lại… Trong đó, số lượng các khoản chi và cơ cấu của chúng cũng là những yếu tố phản
ánh mức sống và chất lượng sống của từng hộ dân cũng như của cả cộng đồng dân cư
này.
Ngoài ra, nhu cầu và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế, vui
chới, giải trí cũng là những chỉ báo cần phải đo lường. Mức sống của cộng đồng dân
chuyển cư tăng lên hay giảm đi một phần phụ thuộc mức độ thuận tiện và khả năng tiếp
cận những dịch vụ xã hội này. Tỷ lệ người đánh giá mức tiếp cận của dịch vụ khá lên,
như cũ hay giảm đi so với trước chuyển cư là những chỉ báo đo lường mức sống của
nhóm xã hội này.
1.1.2. Nhóm xã hội
Nhóm xã hội là những bộ phận cơ bản, hữu cơ cấu thành nên xã hội. Theo Từ điển
Bách khoa Việt Nam thì “Nhóm xã hội là khái niệm xã hội học chỉ một tập hợp người
liên kết với nhau bởi các dấu hiệu hình thức hoặc bản chất được điều chỉnh bởi những
thiết chế có những giá trị chung và ít nhiều biệt lập với các tập hợp người khác” [15,
tr.264].
Như vậy không phải bất cứ một tập hợp người nào cũng là một nhóm. Theo quan
niệm xã hội học thì nhóm phải là một tập hợp người mà đặc trưng quan trọng nhất là họ
cơ bản có chung hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội, nhờ đó họ có khuôn mẫu hành vi
cơ bản giống nhau. Khoa học xã hội học đã dựa trên những tiêu chí này mà xem xét sự
khác biệt giữa nhóm công nhân với nông dân, nông dân với trí thức hoặc nhóm phân chia
theo các tiêu chí khác nhau như nghề nghiêp, tuổi tác, vùng sinh sống, giới, dân tộc,… dự án phát triển của thành phố nên phải giải toả di dời và tạo lập cuộc sống mới trong các
khu TĐC.
Để có cái nhìn sâu hơn về cơ cấu xã hội của nhóm cư dân thuộc diện giải toả,
TĐC, trong quá trình phân tích, tác giả cũng sẽ phân chia các đối tượng theo các nhóm
quy ước như: giàu, nghèo, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính,
1.1.3. Giải toả, đền bù và tái định cư
1.1.3.1. Giải toả: Cũng như khái niệm đền bù, TĐC, khái niệm giải toả được sử
dụng phổ biến trong các Nghị định, Quyết định, Thông tư của Chính phủ, của các bộ
ngành và địa phương nhằm quy định trách nhiệm của Nhà nước, của các chủ dự án
cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong diện bị ảnh hưởng bởi
các dự án an ninh, quốc phòng, kinh tế - xã hội
Theo nghĩa gốc, giải toả là sự từ bỏ, làm cho nó thoát khỏi [40, tr.726].
Khái niệm giải toả được đề cập đến trong nghiên cứu này chính là nói đến việc
phá, dỡ những kết cấu cũ đang trở thành những chướng ngại để giải phóng mặt bằng, tạo
điều kiện cho việc triển khai các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội
nào đó.
1.1.3.2. Đền bù
“Đền bù: Trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao” [40, tr.623]; hay Đền bù: “Trả
lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc sự vất vả” [37, tr.300].
Như vậy, theo nghĩa chung nhất, đền bù là việc thay thế các tài sản bị mất bằng
hiện vật hoặc bằng tiền.
Với hàm nghĩa nói trên, khái niệm đền bù (hay bồi thường) thường được sử dụng
trong các văn bản luật để quy định trách nhiệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để
sử dụng vào các mục đích an ninh, quốc phòng hay phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
ở Đà Nẵng, trong những năm qua, chính quyền thành phố đã thường xuyên tiến
hành đền bù, giải phóng mặt bằng nhằm thực hiện các dự án quy hoạch phát triển đô thị.
Phương thức đền bù được thành phố Đà Nẵng vận dụng trong việc giải phóng mặt bằng
1.2. Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu luận văn
1.2.1 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Mọi xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng. Biến đổi xã
hội (BĐXH) là một quá trình, một thuộc tính tất yếu của xã hội.
ở mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, mỗi khoa học có quan điểm khác nhau về
BĐXH. Theo quan điểm của xã hội học thì BĐXH là khái niệm chỉ sự khác biệt về
phương diện xã hội của thời điểm hiện tại so với thời điểm trước đó của một hệ thống xã
hội, trọng tâm là sự biến đổi của cơ cấu xã hội.
Sự khác biệt về phương diện xã hội được nói tới ở đây là sự thay đổi của các dạng
hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, các hệ thống phân tầng xã hội.
Không phải mọi sự thay đổi nào đó diễn ra trong xã hội đều được coi là BĐXH, mà chỉ
có những thay đổi có ảnh hưởng sâu sắc tới đa số cá nhân trong xã hội, sự thay đổi các cơ
cấu, tổ chức, các tầng lớp xã hội mới được coi là sự BĐXH.
Sự BĐXH rất phức tạp và có thể diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác
nhau: có biến đổi phát triển tức là diễn ra theo chiều hướng tích cực, tiến bộ, phù hợp với
mong muốn của xã hội. Có biến đổi suy thoái, diễn ra theo chiều hướng xấu, xã hội lâm
vào bế tắc với những xung đột, đổ vỡ, thay đổi xã hội [39, tr.255-256].
Theo một số nhà nghiên cứu thì sự BĐXH là tổ hợp của rất nhiều nguyên nhân
chứ không phụ thuộc duy nhất vào một yếu tố đơn lẻ. Sự tương tác phức tạp của nhiều
yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đã tạo nên sự biến đổi. Các nhà lý thuyết
hiện đại chú trọng các yếu tố: môi trường vật chất (biến động của thiên nhiên), công
nghệ, sức ép dân số, giao lưu văn hoá để lý giải những BĐXH.
Quan niệm biến đổi tổng hợp còn khẳng định sự biến đổi có thể đi lên, có thể là đi
xuống, thậm chí bị huỷ diệt. Sự biến đổi cũng thường mang tính chu kỳ. Trên thực tế,
mỗi lý thuyết đều có quan điểm luận giải khác nhau về sự biến đổi xã hội mà trong đó
mỗi lý thuyết đều có hạt nhân hợp lý về nhận thức cũng như dự báo quá trình biến đổi xã
hội. Để nhận thức một cách đầy đủ quá trình biến đổi xã hội nói chung và biến đổi mức
BĐXH, đó là tiến bộ xã hội. Đô thị hoá nhằm kiến tạo lại môi trường sống dân cư là hoạt
động mang tính tất yếu của sự phát triển xã hội. Xem xét sự biến đổi mức sống của nhóm
dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng phải được đặt trong quá trình vận động, phát triển chung đó
mới nhận thức được bản chất vấn đề.
ở đây, biến đổi mức sống, một mặt phải xem xét đầy đủ các yếu tố tạo thành về cả
vật chất lẫn tinh thần và mặt khác là các chiều hướng biến đổi thuận và nghịch của quá
trình này. Trên cơ sở đó mà đánh giá tổng hợp sự biến đổi.
1.2.2. Lý thuyết xung đột
Luận điểm gốc của thuyết xung đột cho rằng, do có sự khan hiếm các nguồn lực
(đất đai, nguyên vật liệu, tiền tài, địa vị ) và do sự phân công lao động và sự bất bình
đẳng trong phân bổ nguồn lực, quyền lực nên quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội
luôn nằm trong tình trạng mâu thuẫn, cạnh tranh với nhau vì lợi ích [17, tr. 232]. Theo
quan niệm của Mác và Ăngghen thì “toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người từ ngày
đầu của thời đại văn minh cho đến tận ngày nay diễn ra trong một mối mâu thuẫn thường
xuyên giữa giai cấp bóc lột, áp bức với giai cấp bị bóc lột, bị áp bức” [16, tr.232]. Nghĩa
là, chính mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp là nguồn gốc và động lực của sự biến
đổi, phát triển lịch sử xã hội loài người.
Các lý thuyết xung đột đã giải thích BĐXH như là hệ quả của cuộc đấu tranh
giành ưu thế giữa các giai cấp, các nhóm xã hội khác nhau trong những xã hội có phân
chia giai cấp. Đặc biệt lý thuyết macxit về BĐXH mang tính tích cực hơn khi nhấn mạnh
khả năng của con người có thể ảnh hưởng tới số phận riêng của họ thông qua các hoạt
động chính trị - xã hội. Nhất là khi cách mạng khoa học và công nghệ thông tin phát triển
ở trình độ cao đã làm cho vai trò, động lực của con người càng trở nên quan trọng hơn
bao giờ hết.
Quan điểm xung đột rõ ràng cho ta một cách nhìn sâu sắc, khi xem xét và giải
quyết các mâu thuẫn, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nhóm xã hội với nhau, giữa các tổ
chức và cá nhân trong vấn đề phân chia lợi ích. Với cộng đồng dân cư phải di dời, giải
Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3 chiều: cấu trúc
- chức năng - kiểm soát. Tức là hệ thống nào cũng có cấu trúc của nó, hệ thống luôn nằm
trong trạng thái động vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trường xung quanh, hệ thống
có khả năng điều khiển và tự điều khiển [17, tr.204].
Parsons đã đưa ra sơ đồ nổi tiếng về hệ thống chức năng xã hội, viết tắt là AGIL.
Trong đó gồm bốn loại yêu cầu chức năng hợp thành: (A) thích ứng với môi trường; (G)
Hướng đích - huy động các nguồn lực để đạt mục tiêu; (I) Liên kết, phối hợp các hoạt
động; (L) Duy trì khuôn mẫu để tạo ra sự ổn định , trật tự.
Tương ứng với sơ đồ trên, trong hệ thống xã hội, người ta có tiểu hệ thống kinh tế;
tiểu hệ thống chính trị; tiểu hệ thống pháp luật và tiểu hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã
hội được quy chuẩn thông qua các thiết chế gia đình, nhà trường, tổ chức văn hoá, tôn
giáo [17, tr.204].
Tương quan và tương tác AGIL sẽ đảm bảo trật tự, ổn định của hệ thống xã hội.
Với những đặc trưng, tính chất nói trên, chúng ta có thể vận dụng thuyết hệ thống
vào nghiên cứu sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC.
Trước hết coi mức sống như là tổng hợp của nhiều yếu tố thống nhất. Tính chỉnh
thể của mức sống thể hiện qua các yếu tố cấu thành như mức sống vật chất và mức sống
tinh thần. Trong đó mức sống vật chất thể hiện ở mức ăn, ở, mặc, đi lại, học tập, chăm
sóc sức khoẻ,… và mức sống tinh thần thể hiện ở mức hưởng thụ các thành quả về văn
hoá, nghệ thuật, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí và các quyền tự do chính trị mà người ta
được hưởng.
Đến lượt nó, mức sống lại chịu tác động của tổ hợp các yếu tố kinh tế xã hội như
nghề nghiệp, gia đình, địa vị xã hội, giới, học vấn và môi trường xã hội. Nghiên cứu sự
biến đổi về mức sống cần phải đặt trong tổng thể hệ thống những yếu tố này.
Ngoài ra còn phải xem xét mức sống như một phạm trù có tính hệ thống luôn luôn
biến đổi và ngày càng được nâng cao. Khi xã hội phát triển, mức sống cũng chuyển động
theo đúng khả năng của mỗi cá nhân và gia đình. Sự hướng đích của mọi sự phát triển là
Di dời giải toả và TĐC đang là chủ trương lớn của thành phố Đà Nẵng nhằm thực
hiện quy hoạch, chỉnh trang đô thị (CTĐT). Đây cũng là xu hướng tất yếu của quá trình
đô thị hoá theo chiều sâu nhằm hướng tới một xã hội văn minh hiện đại.
Quá trình di dời giải toả, tái lập nơi cư trú mới ở các khu TĐC của một bộ phận
dân cư ở Đà Nẵng từ năm 1997 đến nay là hình thức di dân lâu dài, thuộc diện di dân nội
vùng có tổ chức, có kế hoạch. Người dân di chuyển nơi ở trong phạm vi thành phố, theo kế
hoạch giải toả di dời mà thành phố đã định sẵn.
Di dân vốn mang bản chất kinh tế - xã hội sâu sắc, vì vậy để quá trình di dân và
TĐC đạt hiệu quả mong muốn thì vấn đề đặt ra là phải chú trọng đến các mục tiêu kinh tế
và xã hội. Do đó, động cơ di dân đến các khu tái định được luận văn đặc biệt quan tâm
xem xét.
Về các nguyên nhân di dân chủ yếu, trên cơ sở quan sát các hiện tượng di dân trên thế
giới, nhiều lý thuyết di dân đã được khái quát, trong đó phải kể đến lý thuyết “lực hút - lực
đẩy” do Ravenstein (1889) là người đầu tiên đưa ra.
Theo GS.TS. Tống Văn Đường thì khi phân tích các dòng di dân ở nước Anh,
Raventein cho rằng các yếu tố “lực hút” quan trọng hơn các yếu tố “lực đẩy”. Ông nói rằng:
“Các luật lệ tồi hoặc ngột ngạt, thuế khoá nặng nề, khí hậu không thuận hoà, môi trường xã
hội xung quanh không cởi mở, thậm chí có sự cưỡng bức (trong buôn bán, vận chuyển nô
lệ), tất cả những điều đó đã và đang tạo ra các hình thức di dân, tuy nhiên không có loại hình
thức di dân nào có thể so sánh với khát vọng tiềm ẩn trong mỗi người đàn ông vươn lên “làm
tốt hơn” cuộc sống của chính họ về phương diện vật chất [10, tr.86]. Nghĩa là Raventein cho
rằng khát vọng vươn lên phía trước, hướng tới điều kiện sống tốt hơn, thuận lợi, đó mới
chính là thực chất động cơ di dân của phần lớn dân di cư.
Ngoài ra còn có các lý thuyết di dân mới lý giải các nguyên nhân di dân. Chẳng hạn
một vài lý thuyết điển hình như mô hình phân tích “chi phí - lợi ích” trong quyết định di dân.
Người di cư sẽ cân nhắc các yếu tố lực đẩy và các yếu tố lực hút và họ sẽ di cư nếu như nhận
thấy lợi ích có được nhiều hơn chi phí. Chẳng hạn như anh thiếu việc làm hay thất nghiệp,
quan tâm coi trọng đến chiến lược đô thị hoá và lấy quan điểm phát triển bền vững với
mục tiêu vì con người, lấy con người làm trung tâm, xác định “con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” làm trọng.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: “Sớm quy hoạch mạng
lưới đô thị lớn, vừa và nhỏ trong toàn quốc phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển đô thị đi đôi với việc xây dựng đồng bộ và quản lý các công trình công cộng (điện,
cấp thoát nước, cây xanh ) [7, tr.214]. Nghĩa là không thể để quá trình đô thị hoá diễn ra
một cách tự phát, xen lẫn giữa cái được, cái mất mà phải dựa trên cơ sở đã được kế hoạch
hoá trong chiến lược phát triển, lâu dài của đất nước.
Theo Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII), phương hướng phát triển đô thị nước
ta là: "cải tạo, mở rộng, nâng cấp đô thị hiện có. Xây dựng Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ thành những trung tâm lớn song tránh tập
trung quá đông dân cư. Nâng cấp một số đô thị loại vừa, trước hết là các đô thị nằm trên
trục đường giao thông chính, ở các cửa khẩu, các địa bàn kinh tế trọng điểm”. Đô thị hoá
phải gắn liền với mục tiêu là “tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và cải
thiện đời sống nhân dân” [8, tr.90].
Trong quy hoạch phát triển mạng lưới đô thị ở Việt Nam, Đà Nẵng được xác định
là thành phố trung tâm về kinh tế, chính trị - văn hoá - xã hội của các tỉnh miền Trung và
Tây Nguyên. Kể từ khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương từ 1997, cấp
uỷ và chính quyền thành phố đã chủ trương đẩy mạnh công tác quy hoạch, tăng cường
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng một cách đồng bộ, xây dựng thành phố theo hướng văn
minh hiện đại.
Ngay từ năm 1997, các cơ quan chức năng đã đưa ra quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội thành phố đến năm 2010 với nội dung: xây dựng thành phố Đà Nẵng trở
thành một đô thị hiện đại, văn minh, phát triển trong thế ổn định và bền vững, có vị trí
trung tâm của miền Trung và Tây Nguyên về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch,
tài chính, bưu chính viễn thông, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ trong mối