LUẬN VĂN: Phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Phát triển thị trường sức lao động ở
thành phố Đà Nẵng hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc phát triển thị
trường sức lao động là một tất yếu khách quan vì thị trường sức lao động là một trong
những nhân tố quan trọng tạo động lực thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường tăng trưởng nhanh và bền
vững. Vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh:
Phát triển thị trường sức lao động trong mọi lĩnh vực kinh tế, tạo sự gắn
kết cung- cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học
nghề, tự tạo và tìm việc làm. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút
nhiều lao động nhất là khu vực nông thôn…Đa dạng hóa các hình thức giao
dịch việc làm, phát triển hệ thống thông tin về thị trường sức lao động trong
nước và thế giới. Có chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng cao trong
lĩnh vực khoa học công nghệ và quản lý những ngành nghề ưu tiên phát triển.
Xây dựng hệ thống pháp luật về lao động và thị trường sức lao động nhằm đảm

cứu về vấn đề này, cụ thể:
- Bùi Thị Xuyến (2002): Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác
vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Luận án tiến sĩ
kinh tế. Tác giả phân tích cơ sở lý luận về hàng hoá sức lao động của C.Mác, từ đó vận
dụng vào thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đưa ra
các giải pháp cụ thể.
- Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Hữu Hân, Một số vấn đề phát triển thị
trường lao động ở Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2003. Các tác giả đã làm rõ
thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của thị trường lao động Việt Nam, những
thuận lợi, khó khăn, những mặt được và chưa được trong quá trình hình thành và phát triển
thị trường lao động; các giải pháp cần thiết để phát triển loại thị trường đặc biệt này trong
thời gian tới.

- Nguyễn Đình Hương (2006): Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb lý luận chính trị, Hà Nội. Tác
giả nghiên cứu góc độ lý luận và thực tiễn.
- Nguyễn Văn Phúc (2008): Thị trường sức lao động trình độ cao ở Việt Nam
hiện nay - Luận án tiến sĩ kinh tế. Tác giả đã đưa ra khái niệm về thị trường sức lao động
ở trình độ cao, phương hướng và các giải pháp phát triển về thị trường sức lao động ở
trình độ cao
- Nguyễn Ngọc Bình (2008): Thị trường sức lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh
dưới tác động trực tiếp của đầu tư nước ngoài - Luận văn thạc sĩ kinh tế. Tác giả đã làm
rõ khái niệm về thị trường sức lao động và các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động.
Đưa ra các nhóm giải pháp cần thiết về thị trường sức lao động dưới tác động trực tiếp
của đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm Văn Chính, Thị trường lao động, cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006. Tác giả phân tích cơ sở lý luận của thị trường lao
động, về nguồn lao động, những yếu tố cấu thành và điều tiết thị trường lao động, mối quan
hệ cung- cầu sức lao động và tiền lương; sự vận dụng linh hoạt lý luận về thị trường lao động
vào điều kiện Việt Nam.

đoạn 1997- 2007. Từ đó đánh giá thành tựu đạt được, những vấn đề đặt ra và nguyên
nhân.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao động ở thành phố
Đà Nẵng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thị trường sức lao động ở thành phố Đà Nẵng giai đoạn năm 1997- 2007.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: Các số liệu chủ yếu từ năm 1997- 2007
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
- Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Dựa vào đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước nói
chung, của Thành phố Đà Nẵng nói riêng về phát triển thị trường sức lao động.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử; phân tích tổng hợp, sơ đồ hóa, hệ thống bảng biểu.
Đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã
được công bố.
6. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thị trường sức lao động ở
Thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường sức lao động,
góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo hướng bền
vững.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với việc giảng dạy nghiên
cứu về thị trường sức lao động.
7. Kết cấu của đề tài

cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó.
Tóm lại, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra
các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là quá trình tiêu
dùng sức lao động trong hiện thực, là phẩm chất đặc biệt của con người, khác với hoạt
động bản năng của con vật. C.Mác viết:
… bằng việc xây dựng những ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho
một số nhà kiến trúc phải thổ thẹn. Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến
trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong
bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chung trong đầu óc mình rồi [31, tr.266].

Hàng hoá sức lao động
Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố của quá trình sản xuất, nó xuất hiện từ
rất lâu, cùng với sự xuất hiện của con người, từ khi con người biết tiến hành sản xuất tạo
ra tư liệu sinh hoạt cho bản thân mình. Trải qua một quá trình lâu dài sức lao động ngày
càng được hoàn thiện hơn. Ngay trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ sức lao động chưa phải là
hàng hoá, người nô lệ bị áp đặt lao động cưỡng bức, bị đối xử như một công cụ biết nói
và chịu sự chi phối hoàn toàn về mọi mặt của chủ nô. Đến chế độ phong kiến, người nông
dân tá điền tuy không bị lệ thuộc hoàn toàn vào địa chủ, nhưng họ không được quyền tự do
di chuyển, lựa chọn chủ đất làm thuê, sức lao động trong thời kỳ phong kiến đã manh nha trở
thành hàng hoá nhưng lại bị chặn bởi bóc lột siêu kinh tế, dưới bạo lực của địa chủ phong
kiến trấn áp. Người nô lệ có sức lao động chỉ làm thuê cho địa chủ mà họ không có quyền
mặc cả về tiền công. Do đó, sức lao động trong chế độ phong kiến chưa phải là hàng hoá.
Khi lực lượng sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời
đã cản trở cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Từ đó đòi hỏi một phương thức sản
xuất mới tiến bộ hơn ra đời, đó là phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, từ đây sức lao
động trở thành hàng hoá. Vì vậy, C.Mác viết:
Thiên nhiên không sinh ra một bên là chủ tiền - chủ hàng hoá, còn bên
kia là những người chỉ làm chủ độc có sức lao động của mình. Quan hệ ấy
không phải là một quan hệ lịch sử tự nhiên mà cũng không phải là một quan hệ
xã hội chung cho tất cả thời kỳ lịch sử. Rõ ràng bản thân nó là kết quả của sự

cách nhất thời, trong một thời gian nhất định thôi, do đó chỉ trong chừng mực là khi bán
sức lao động, anh ta không từ bỏ quyền sở hữu về sức lao động ấy.
Hai là, C.Mác viết: “Người chủ sức lao động phải không có khả năng bán những
hàng hoá trong đó lao động của anh ta đã được vật hoá, mà trái lại anh ta phải buộc đem
bán đi, với tư cách là hàng hóa, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại ngay cơ thể sống
của anh ta thôi” [31, tr.252-253].
Khác với một người bán những hàng hóa do mình sản xuất ra, C.Mác cũng chỉ
rõ:

Để cho một người nào đó có khả năng bán những hàng hóa khác với sức
lao động của mình, thì tất nhiên là anh ta phải có những tư liệu sản xuất như
nguyên liệu, công cụ lao động vv… anh ta không thể làm giày ống mà không
có da thuộc. Ngoài ra anh ta còn cần có tư liệu sinh hoạt, không một ai ngay
cả một nhạc sĩ của tương lai, cũng không thể sống bằng những sản phẩm của
tương lai, không thể sống bằng những giá trị sử dụng còn chưa sản xuất xong
[31, tr.253].
Như vậy, để sức lao động trở thành hàng hóa cần phải có hai điều kiện nêu trên,
nghĩa là người chủ tiền phải tìm được người lao động tự do trên thị trường hàng hóa, tự
do theo hai nghĩa: thứ nhất là một con người tự do, chi phối được sức lao động của mình
với tư cách là một hàng hóa, và mặt khác, anh ta không có một hàng hóa nào khác để bán,
nói một cách khác là trần như nhộng, hoàn toàn không có một vật cần thiết để thực hiện
sức lao động của mình. Thiếu một trong hai điều kiện nêu trên thì sức lao động không trở
thành hàng hóa. Việc sức lao động trở thành hàng hóa đã đánh dấu một bước ngoặt cách
mạng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phương thức kết hợp người lao động
với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến. Sự cưỡng
bức lao động bằng biện pháp phi kinh tế đã được thay bằng việc ký kết hợp đồng mua và
bán giữa hai người bình đẳng về hình thức: giữa người sở hữu sức lao động và người sở
hữu tư liệu sản xuất. Sự bình đẳng về hình thức ấy che đậy bản chất bóc lột của chủ nghĩa
tư bản, chế độ bóc lột được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa kẻ bóc lột và
người bị bóc lột. Chính sự kết hợp giữa biện pháp cưỡng bức lao động bằng biện pháp

1.1.1.2 Các yếu tố của hàng hóa sức lao động
* Giá trị của sức lao động
Giá trị hàng hóa sức lao động được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động. Sức lao động chỉ tồn tại như một năng lực con
người đang sống, muốn tái sản xuất năng lực lao động đó thì người có sức lao động phải
tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định. Do đó, thời gian lao động cần thiết để sản
xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động cần thiết sản xuất để sản xuất ra tư liệu
sinh hoạt ấy.

C.Mác viết:
Giá trị của sức lao động cũng như mọi hàng hóa khác, được quyết định
bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do đó để sản xuẩt ra thứ sản
phẩm đặc biệt ấy. Sức lao động chỉ tồn tại như một năng lực của con người
đang sống… Nhưng sức lao động chỉ được thực hiện bằng cách biểu hiện ra
ngoài, nó chỉ được thực hiện trong lao động. Trong quá trình thực hiện nó,
trong lao động phải hao phí một lượng nhất định về cơ, thần kinh và não, v.v.
của con người, sự hao phí đó phải được bù lại. Hao phí càng nhiều thì bù đắp
càng lớn [31, tr.255- 256].
Như vậy, là hàng hóa đặc biệt giá trị của hàng hóa sức lao động khác với hàng
hóa thông thường ở chỗ nó bao gồm yếu tố lịch sử và yếu tố tinh thần. Nhu cầu của người
có sức lao động không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn có nhu cầu về tinh thần. Những
nhu cầu này nó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ và phụ
thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, và lịch sử hình thành giai cấp công nhân cả
điều kiện lịch sử, khí hậu. C.Mác viết:
Bản thân những nhu cầu tự nhiên như thức ăn, áo quần, chất đốt, nhà ở
vv… cũng khác nhau tuỳ theo khí hậu và những đạc điểm thiên nhiên khác của
từng nước. Mặt khác quy mô của cái gọi là những nhu cầu thiết yếu, cũng như
những phương thức thoã mãn những nhu cầu đó, bản thân chúng cũng là một
sản phẩm của lịch sử và vì thế nó phụ thuộc phần lớn vào trình độ văn minh của
mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào những điều kiện, và do đó vào

hàng hoá sức lao động lại có giới hạn thấp nhất của nó; đó chính là “Giá trị của cái khối
lượng hàng hóa mà hằng ngày thiếu nó thì kẻ mang sức lao động, tức con người, sẽ
không thể khôi phục lại quá trình sống của mình, tức là tạo thành giá trị của những tư liệu
sinh hoạt không thể thiếu được về mặt sinh lý” [31, tr.259]. Nếu vượt quá giới hạn này,
người lao động sẽ có cuộc sống thấp và việc sử dụng sức lao động của người này sẽ bị
ảnh hưởng và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khó phát huy tốt đuợc.
Cũng như mọi hàng hóa khác, người mua hàng hóa tuy phải thực hiện giá trị,
nhưng mục đích của họ là giá trị sử dụng của hàng hoá đó. Nhà tư bản cũng vậy, họ bỏ

tiền ra mua sức lao động chỉ vì hàng hoá này có giá trị sử dụng rất đặc biệt. Chính tính
chất đặc biệt của nó tạo ra sự hấp dẫn kỳ lạ cho người mua cũng như cho nhà tư bản
* Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là đáp ứng nhu cầu của người mua.
Trong quá trình sản xuất nhà tư bản cần có sức lao động của công nhân kết hợp với tư
liệu sản xuất của mình để tạo ra giá trị sử dụng, tạo ra các hàng hóa có giá trị cao hơn giá
trị ứng truớc. Cái có ý nghĩa quyết định ở giá trị sử dụng của sức lao động là cái đặc tính
của nó, đặc tính có ích của sức lao động không chỉ là năng lực tạo ra các giá trị sử dụng
mà là cái nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa lại sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của
chính bản thân nó. Ở đây có sự thống nhất giữa quá trình tạo ra giá trị với quá trình làm
tăng giá trị. Về thực chất, quá trình làm tăng giá trị cũng chính là quá trình tạo ra giá trị
được kéo dài quá một điểm nào đó mà thôi, điểm đó ngang bằng với giá trị sức lao động
Tính có ích của sức lao động chỉ thực sự được thực hiện, tức chỉ thực sự tạo ra
một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó khi sức lao động phải hoạt động trong những điều
kiện bình thường đó là các điều kiện sau đây:
Một là, bản thân sức lao động phải là một sức lao động bình thường. Nghĩa là, trong
ngành chuyên môn sức lao động ấy được sử dụng, nó phải có một trình độ trung bình về mặt
tài nghệ, về mặt thành thục và tốc độ. Tức muốn nâng cao giá trị sử dụng của sức lao động
phải trải qua một thời kỳ đào tạo, huấn luyện, rèn luyện chuyên môn nhất định cả kinh
nghiệm tích luỹ được nữa.
Hai là, phải đảm bảo tính chất bình thường của những yếu tố vật chất của sản

được hiểu như là một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội (trong
đó có cả pháp luật) đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sử dụng lao động”. Với
quan niệm trên coi thị trường lao động trên cơ sở đánh giá sự vận động của thị trường sức
lao động dưới tác động của hệ thống những quan hệ xã hội, thể chế và pháp luật của một
xã hội nhất định.

Các nhà khoa học Mỹ thì cho rằng : Thị trường lao động là một cơ chế mà với sự
trợ giúp của nó hệ số giữa người lao động và số lượng chỗ làm vịêc được điều tiết hay thị
trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết những lĩnh vực
việc làm được gọi là thị trường lao động.
Ngân hàng thế giới cho rằng: Thị trường sức lao động xét về lý thuyết kinh tế
được coi là một vị trí mà tại đó cung và cầu về lao động tác động qua lại với nhau. Đồng
thời, khi nhấn mạnh bản chất của thị trường sức lao động, ngân hàng thế giới còn đưa ra
khái niệm chi tiết mô tả nội dung và các yếu tố cơ bản cấu thành thị trường sức lao động
gồm:
- Các chủ thể của thị trường sức lao động là hộ gia đình, cá nhân người lao động
(thuộc về phía cung người lao động); hãng, công ty, chủ doanh nghiệp (thuộc về phía cầu
người lao động).
- Quy mô gồm: số lượng người lao động làm công, số giờ làm việc(thời gian làm
việc)
- Giá cả: mức tiền công; tỷ lệ tiền công
- Thể chế: chính phủ, cơ chế điều tiết
Theo tiến sĩ Leo Maglen, chuyên gia tư vấn của dự án giáo dục kỹ thuật dạy
nghề của tổng cục dạy nghề Do ngân hàng phát triển châu Á thì quan niệm thị trường lao
động được tiếp cận dưới góc độ việc làm và được xác định như sau: Thị trường lao động
là một hệ thống trao đổi giữa người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm (cung lao
động) với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng
(cầu lao động). Theo quan niệm này, sự trao đổi và thoả thuận giữa những người sử dụng
lao động và người lao động trên thị trường lao động liên quan đến các nội dung quan hệ lao
động như tuyển dụng lao động, sử dụng lao động, tiền công, tiền lương, bảo hiểm xã hội,

sức lao động bằng hình thức hợp đồng thoả thuận về giá cả, tiền công, và các điều kiện
làm việc khác.
Thị trường sức lao động theo nghĩa rộng là nơi cung và cầu lao động tác động
qua lại với nhau, hay là nơi trao đổi hàng hóa sức lao động trong đó người bán sức lao
động và người mua sức lao động bình đẳng với nhau để xác định giá cả (tiền công, tiền

lương) và các điều kiện lao động khác thông qua một hình thức hợp đồng lao động nhất
định.
- Về thuật ngữ “ thị trường sức lao động” và “ thị trường lao động”
Trong những năm chuyển sang nền kinh tế thị trường, khi nghiên cứu các vấn đề
lý luận về thị trường lao động thường xuất hiện hai thuật ngữ là “ thị trường lao động” và
“ thị trường sức lao động”. Hầu hết được thể hiện trong các công trình nghiên cứu, sách
báo và các bài viết đều không có sự thống nhất. Ở đây, điểm xuất phát của hai thuật ngữ
nêu trên chủ yếu là sức lao động là hàng hóa hay lao động là hàng hóa. Hiện nay, tồn tại
hai loại ý kiến khác nhau: Đối với các nhà kinh tế theo lý thuyết của kinh tế thị trường
hiện đại như tiến sĩ Leo Maglen của tổ chức lao động quốc tế ILO và trong “Đại từ điển
kinh tế thị trường”(xuất bản năm 1988) cho rằng, trên thị trường sức lao động chỉ mua bán
dịch vụ lao động, do đó thiên về cách gọi là thị trường lao động. Ở Việt Nam, những năm
đầu của thời kỳ đổi mới, thuật ngữ “ thị trường lao động” được sử dụng rộng rãi trong hệ
thống pháp luật, đặc biệt là trong bộ luật lao động; Mặt khác, các nhà nghiên cứu lý luận theo
lý thuyết kinh tế thị trường của chủ nghĩa Mác thì cho rằng trên thị trường này sức lao động
là hàng hóa và thống nhất quan điểm thị trường hàng hóa sức lao động. Cơ sở luận giải cho
vấn đề này dựa vào lý luận của C.Mác về Mua bán sức lao động. C.Mác và Ăng ghen đã chỉ
ra rằng: “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và
tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó vận
dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [31, tr.251]. Như vậy, sức lao động bao
gồm năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một con người đang sống và khả năng vận
dụng thể lực và trí lực để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó. Còn lao động là hoạt động
có mục đích, có ý thức của con người tác động vào tự nhiên để cải biến những vật thể tự
nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người.

cơ chế điều tiết quan hệ cung cầu và cạnh tranh trên thị trường sức lao động. Giữa các nhân tố
này có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau. Nói đến sự vận động của thị trường sức lao động là
nói đến sự vận động của các yếu tố cung, cầu lao động, giá cả sức lao động theo các quy luật
khách quan và chịu sự tác động của các chính sách, thể chế do nhà nước ban hành.
* Cung sức lao động

Cung sức lao động được hiểu là tổng nguồn sức lao động do người lao động tự
nguyện đem ra tham dự vào quá trình tái sản xuất xã hội, tức là tổng số nhân khẩu trong
độ tuổi lao động có khả năng lao động kể cả số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao
động nhưng thực tế vẫn tham gia vào quá tái sản xuất xã hội.
Cung sức lao động cũng có thể được hiểu là khả năng cung cấp cả thể lực và trí
lực của người lao động làm thuê cho người sử dụng lao động trong một thời gian nhất
định với mức tiền công xác định.
Khi xem xét cung sức lao động trên thị trường cần phân biệt rõ hai phạm trù
cung thực tế và cung tiềm năng.
Cung thực tế về sức lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc hoặc chưa có việc làm nhưng đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Cung tiềm năng về sức lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên
chưa có việc làm hoặc đang đi học, đang làm việc nội trợ hoặc chưa có nhu cầu tìm kiếm
việc làm
Cung sức lao động chịu tác động của nhiều yếu tố có thể khái quát sau đây:
- Cung sức lao động phụ thuộc vào số lượng dân số có khả năng lao động cụ thể
là số lượng dân số hoạt động kinh tế thường xuyên
Dân số kinh tế thường xuyên gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động đang làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Chính lực lượng
này quyết định đến mức cung sức lao động và nó mang tính chất tỷ lệ thuận với mức
cung sức lao động.
- Cung sức lao động phụ thuộc vào định mức giờ làm việc.
Trong thực tế luôn tồn tại các bộ phận người lao động khác nhau về nhu cầu thời
gian làm việc. Trong đó, một bộ phận có khả năng về kinh tế tài chính họ cần có thời gian

chính sách lao động việc làm của nhà nước sẽ tác động đến cung lao động ở các thị
trường lao động giới hạn trong không gian và thời gian xác định. Việc di chuyển lao động
là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp và được phân loại thành những tiêu chí khác
nhau.
Theo độ dài thời gian cư trú: phân chia thành di dân tạm thời và di dân lâu dài.

Theo tính chất pháp lý của di dân: gồm có di dân hợp pháp và di dân bất hợp
pháp.
Theo tính chất tự giác của di dân: gồm có di dân có tổ chức và di dân tự do; di
dân tự nguyện và di dân bắt buộc.
Việc di dân có ảnh hưởng trực tiếp đến cung sức lao động bởi vì nó có thể làm
tăng lực lượng lao động ở vùng này và đồng thời làm giảm lực lượng lao động ở vùng
khác. Đây là hiện tượng bình thường, thông qua đó người ta có thể đánh giá được tình
trạng hoạt động bình thường của thị trường lao động. Ngoài ra, di dân có thể làm thay đổi
cơ cấu lực lượng lao động về giới, trình độ và về trình độ học vấn. Chính vì thế, khi điều
chỉnh cung sức lao động cần chú ý đến ýêu tố di dân.
* Cầu sức lao động
Cầu về sức lao động là số lượng lao động được thuê mướn trên thị trường lao
động. Hay nói cách khác, cầu về sức lao động là toàn bộ nhu cầu về sức lao động của một
nền kinh tế(hoặc của một ngành, địa phương, doanh nghiệp…) ở một thời kỳ nhất định,
bao gồm cả số lượng và chất lượng, cơ cấu và thường được xác định thông qua chỉ tiêu
việc làm.
Cầu về sức lao động biểu hiện khả năng thuê lao động của người sử dụng lao
động trên thị trường lao động và được xem xét ở hai góc độ là cầu thực tế và cầu tiềm
năng.
Cầu thực tế về sức lao động là nhu cầu thực tế lao động cần được sử dụng tại
một thời điểm nhất định, bao gồm những người đang làm việc, chỗ làm việc trống (chỗ
làm việc đã từng sử dụng lao động, nay không có lao động lànm việc và đang có nhu cầu
sử dụng lao động) và chỗ làm việc mới đang cần thuê lao động làm việc (chỗ làm việc
mới xuất hiện và đang có nhu cầu sử dụng lao động.

hóa sức lao động nó được đo bằng giá cả của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người
công nhân và gia đình của anh ta, nên sự tác động của giá cả của hàng hóa sức lao động
đến cầu sức lao động có những điểm đặc biệt. Nếu tiền lương cao sẽ giảm cầu sức lao
động
- Sự thay đổi mức lương

Số lượng lao động được thuê phụ thuộc vào mức lương mà người sử dụng lao
động trả cho họ. Điều này nói lên rằng cầu sức lao động phụ thuộc vào giá cả của nó. Nếu
mức lương càng cao thì cầu về sức lao động càng giảm, nó phù hợp với quy luật cung cầu
trên thị trường. Hơn nữa, giữa tiền lương và lợi nhuận có quan hệ với tác động lẫn nhau;
Ngược lại, giá cả sức lao động giảm xuống thì cầu về súc lao động sẽ tăng. Ngoài ra, mức
tiền lương trên thị trường lao động còn bị tác động bởi mức lương tối thiểu của chính
phủ. Trên thực tế, việc nâng mức tiền lương tối thiểu của chính phủ thường bị quy ước
của tối đa hoá lợi nhuận gây trở ngại, vì trong các doanh nghiệp, việc thuê lao động
bao gồm một sự so sánh doanh thu cận biên và mức tiền lương. Theo quy luật tối đa
hóa lợi nhuận, khối lượng sản phẩm được ssản xuất ra tại thời điểm mà chi phí cận
biên đúng bằng doanh thu cận biên của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ dừng nhận
thêm lao động tại điểm này.
- Thời gian làm việc của người lao động
Thời gian làm việc trong ngày, tuần và cả cuộc đời, yếu tố này tác động đến cầu
về cơ bản và ngược lại so với khi phân tích tác đến cung về sức lao động. Chẳng hạn, thời
gian lao động nông nhàn trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, cung về sức lao động trên thị
trường cao và cầu giảm.
* Về giá cả sức lao động
Giá cả sức lao động là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Trên thị
trường sức lao động, giá cả được biểu thể hiện dưới dạng tiền công. Cũng như mọi hàng
hóa khác, giá cả phụ thuộc vào quan hệ cung, cầu sức lao động trên thị trường. Khi cung
sức lao động vượt quá cầu, giá cả sức lao động giảm và ngược lại. Tuy nhiên, là hàng hóa
đặc biệt mà giá trị của nó được đo bằng giá cả những tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần
thiết cho người có sức lao động ấy, và cả gia đình anh ta, nên sự lên xuống của giá cả sức

Tuỳ thuộc vào nhiệm vụ và quyền hạn, giới trung gian có chức năng được quy định cụ
thể
Về phương thức giao dịch. Trên thị trường hàng hóa sức lao động, các phương thức
giao dịch rất phong phú và đa dạng. Có thể tiếp cận theo giao dịch trực tiếp và gián tiếp,
nhưng hiện nay phổ biến nhất là: giao dịch thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm; giao

Trích đoạn Tiếp tục hoàn thiện cỏc quy định phỏt luật kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước phỏt triển Tớch cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế “Cụng nghiệp dịch vụ nụng nghiệp” và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý Phỏt triển cơ sở hạ tầng, hợp tỏc quốc tế, thu hỳt chuyờn gia, xuất khẩu lao động Nõng cao nhận thức về thị trường sức lao động đối với người lao động và người sử dụng sức lao động trong sự phỏt triển kinh tế xó hộ Tiếp tục hoàn thiện chớnh sỏch tiền cụng, tiền lương linh hoạt khuyến khớch phỏt triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status