LUẬN VĂN:
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp
công nhân vào việc xây dựng đội ngũ công
nhân Nghệ An trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới -
đó để lại cho Đảng ta, dân tộc ta những di sản tư tưởng to lớn. Tư tưởng của Người là
ngọn đuốc soi đường, chỉ lối cho cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong hai cuộc
kháng chiến trường kỳ và thành công trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm về giai cấp công nhân (GCCN)
Việt Nam được Người nhận thức đúng đắn, khoa học, là giai cấp có sứ mệnh lịch sử đưa
cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng. Để GCCN hoàn thành được sứ mệnh
lịch sử đó, Người chỉ rõ: Trước hết và hơn ai hết giai cấp công nhân phải giác ngộ quyền
lợi giai cấp, giác ngộ xã hội chủ nghĩa ra sức học tập, trau dồi văn hoá, chính trị và kỹ
thuật, nâng cao trình độ về mọi mặt, gương mẫu trong sản xuất và trong cuộc sống, đặc
biệt, nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, mạnh dạn đấu tranh.
bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm đòi hỏi phải từng bước khắc phục để hoàn thành
nhiệm vụ và sứ mệnh lịch sử của mình.
Sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay nói chung và Nghệ An nói riêng đòi hỏi
phải xây dựng đội ngũ công nhân không ngừng lớn mạnh; coi sự lớn mạnh của đội ngũ
công nhân là một điều kiện bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất
nước. Do vậy, việc tìm hiểu, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về GCCN là một yêu cầu
khách quan, qua đó tìm ra phương hướng và giải pháp đúng đắn xây dựng đội ngũ công
nhân trong quá trình CNH, HĐH hiện nay là rất cần thiết và cấp bách. Vấn đề này không
chỉ trực tiếp cho Nghệ An mà còn là cơ sở khoa học cho những quan điểm, chủ trương,
chính sách xây dựng và phát triển GCCN cả nước trong bối cảnh mới. Với ý nghĩa quan
trọng đó, tôi chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân vào
việc xây dựng đội ngũ công nhân Nghệ An trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá hiện nay” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
- ở Việt Nam, vấn đề giai cấp công nhân đã được nhiều công trình khoa học
nghiên cứu với nhiều góc độ và phạm vi khác nhau. Đáng chú ý là một số công trình
nghiên cứu về khái niệm giai cấp công nhân; thực trạng và sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân Việt Nam; những giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
như: Cuốn “Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay” (của Bùi Đình Bôn, Nxb Lao động, Hà Nội, 1996). Cuốn “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và Công
đoàn Việt Nam” (của GS. Văn Tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997). Cuốn “Đảng
cộng sản Việt Nam với giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam” (của Ban Tư tưởng -
Văn hóa Trung ương, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000). Cuốn “Xu hướng biến động của giai
cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XIX” (của Viện Công nhân và
Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội, 2001). Cuốn “Giải pháp xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XIX (của Viện Công nhân và Công đoàn,
Nxb Lao động, Hà Nội, 2002). Cuốn “Những tác động tới việc làm, đời sống của người
lao động và các giải pháp hành động công đoàn khi Việt Nam gia nhập WTO” (của Viện
(của GS. Đỗ Quang Hưng, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2008) đã tập hợp các bài viết
của nhiều tác giả như GS. Đỗ Quang Hưng, PSG. TS Bùi Đình Phong, GS. TS Phùng
Hữu Phú về Hồ Chí Minh với GCCN, với Công đoàn Việt Nam và di sản tư tưởng Hồ
Chí Minh về GCCN và tổ chức Công đoàn.
Cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước” (của Lê Quang
Thiệu, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2008) đã đề cập đến vấn đề phong trào thi đua yêu nước
của GCCN và vận dung vào công cuộc đổi mới hiện nay.
Cuốn “Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”
(của PGS.TS Lê Văn Tích (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008) đã có đề cập
đến vấn đề đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào giai cấp công nhân từ thực trạng hiểu biết của giai
cấp công nhân về tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cuốn “Hồ Chí Minh với công nhân và Công đoàn Việt Nam” (của Tổng liên đoàn
Lao động Việt Nam), đã tập hợp trên 30 bài phát biểu, tham luận của nhiều tác giả viết về
lòng biết ơn của GCCN và tổ chức Công đoàn Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh
và tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về GCCN và Công đoàn Việt Nam.
ở Nghệ An, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, Liên đoàn Lao
động tỉnh đã tiến hành khảo sát đưa ra những đánh giá bước đầu nhằm xây dựng đội ngũ
công nhân lớn mạnh. Song, nhìn chung chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu
có hệ thống vấn đề phát triển đội ngũ công nhân Nghệ An trong sự nghiệp CNH, HĐH;
đặc biệt là vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GCCN vào việc xây dựng đội ngũ công
nhân. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công
nhân vào việc xây dựng đội ngũ công nhân Nghệ An trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hiện nay”, tác giả hi vọng luận văn sẽ góp phần bổ sung những nhận thức, kinh nghiệm vào công tác xây dựng đội ngũ công nhân Nghệ An trong sự nghiệp
CNH, HĐH hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ các quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
GCCN.
- Làm rõ thực trạng đội ngũ công nhân Nghệ An trong 10 năm trở lại đây, qua đó
luận giải có hệ thống quan điểm và giải pháp xây dựng đội ngũ công nhân Nghệ An dưới
ánh sánh tư tưởng Hồ Chí Minh.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những quan điểm lý luận về GCCN của Hồ Chí
Minh và của Đảng ta, đặc biệt vai trò của GCCN trong sự nghiệp CNH, HĐH của cả
nước nói chung, tỉnh Nghệ An nói riêng.
- Luận văn bảo vệ thành công có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng,
hoạch định những chủ trương, chính sách và giải pháp xây dựng đội ngũ công nhân tỉnh
Nghệ An đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp CNH, HĐH.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy,
tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
Nội dung
Chương 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân việt nam
1.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của giai cấp công nhân
1.1.1. Khái niệm giai cấp công nhân
Bàn đến khái niệm GCCN cho đến nay, do lập trường giai cấp, thái độ chính trị,
trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận khác nhau nên vẫn còn những ý kiến không
giống nhau. Có thể phân ra ba loại ý kiến như sau:
Loại ý kiến thứ nhất: Trong thời đại ngày nay, thời đại công nghệ thông tin, do sự
phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, do sự điều chỉnh “có hiệu quả” của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt trên lĩnh vực xã hội, GCCN không còn nữa, hoặc
đã trở thành giai cấp trung lưu, hoặc đã tan biến vào đội ngũ trí thức.
ngược nhau: giữa một bên là “giai cấp vô sản cách mạng” với một bên là “tầng lớp vô sản
lưu manh” mất gốc, những phần tử cặn bã của xã hội. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc
phân biệt GCCN cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục, trở thành công cụ của
giai cấp tư sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong, mưu toan kìm hãm và
khuôn cuộc đấu tranh của GCCN trong trật tự của “chủ nghĩa tư bản” vì mục tiêu kinh tế
và lợi ích tầm thường do hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng mà ở đây các ông đã
sử dụng thuật ngữ: “Công nhân quý tộc”. Theo các ông, “công nhân quý tộc” và tầng lớp
vô sản lưu manh không còn là bộ phận của GCCN nữa mà đã trở thành một bộ phận của
giai cấp tư sản hoặc đã là tầng lớp cặn bã của xã hội.
Nói tóm lại, tuy có khác nhau trong cách gọi, cách diễn đạt tuỳ từng hoàn cảnh lịch
sử. Nhưng những thuật ngữ không giống nhau nêu trên về khái niệm GCCN đều được
các nhà kinh điển Mácxít sử dụng như một khái niệm đồng nhất dựa trên hai tiêu chí cơ
bản để phân định GCCN với các giai tầng xã hội khác:
Một là, về phương thức lao động, cách thức sản xuất
GCCN là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành
các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá, quốc tế
hoá cao. Đây cũng là tiêu chí cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ
thủ công thời trung cổ hay người thợ trong công trường thủ công. C.Mác viết: “Trong
công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của
mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục tùng máy móc” [41,tr.605].
Đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, GCCN là tập đoàn người, bao gồm những người công
nhân công xưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát triển cùng với sự phát
triển của đại công nghiệp: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát
triển của nền đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp” [41,tr.610] hay “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như
máy móc vậy Công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại ”
[42,tr.11]. Như vậy, GCCN ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của đại
công nghiệp. Chính vì thế, GCCN là hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại, đại biểu
cho lực lượng sản xuất tiên tiến và mang trong mình những đặc trưng riêng có mà không
một giai tầng nào có được đó là: tính tiên tiến, hiện đại; ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác
Phát triển học thuyết C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới - thời đại đế quốc
chủ nghĩa và cách mạng vô sản, đặc biệt trong CNXH hiện thực, trên cơ sở quan niệm đúng về GCCN, V.I Lênin đã bổ sung thêm những thuộc tính mới của GCCN. Theo V.I
Lênin, sự phân chia giai cấp phải dựa vào địa vị và sự khác nhau của các tập đoàn người
trong quan hệ đối với quản lý sản xuất và khác nhau trong quan hệ phân phối sản phẩm.
Trên cơ sở quan niệm mới về giai cấp như vậy, trong nhiều tác phẩm của mình, như
“Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, “Nhà nước và cách mạng”, “Kinh tế chính
trị trong thời đại chuyên chính vô sản” Lênin đã khẳng định: sau khi cách mạng vô sản
thành công, GCCN đã trở thành giai cấp cầm quyền, địa vị kinh tế - xã hội của GCCN đã
hoàn toàn thay đổi, từ thân phận nô lệ làm thuê trở thành giai cấp thống trị về chính trị,
thông qua đảng tiền phong của mình lãnh đạo toàn xã hội cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã
hội mới.
Theo V.I.Lênin, GCCN là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã
hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo xã hội mới, trong
toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp. Xu hướng phát triển của giai
cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp vô sản.
Giờ đây, khi lịch sử đã thay đổi, để hiểu đúng quan niệm của chủ nghĩa Mác -
Lênin về GCCN, đòi hỏi chúng ta cần có thái độ khách quan và phương pháp khoa học để
tiếp cận khái niệm này.
Trước hết, cần khẳng định rằng những thuật ngữ cơ bản của các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác - Lênin nói về GCCN, như đã nêu ở trên, có cùng một bản chất và có hình
thức diễn đạt chặt chẽ, hàm súc của một khái niệm khoa học.
Thời đại mới đã vượt qua những hạn chế về mặt lịch sử, để hiểu bản chất và trình
độ phát triển của giai cấp công nhân hiện đại, xét trên phạm vi thế giới, khu vực và từng
quốc gia - dân tộc. Trong tất cả những thuật ngữ mà C.Mác - Ph.Ăngghen đã dùng trước
đây, thuật ngữ “giai cấp công nhân” và “giai cấp công nhân hiện đại” là phù hợp hơn cả.
Nó cũng phù hợp và giữ nguyên giá trị trong xu thế phát triển của thế giới, của cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại.
HĐH đất nước. Để khẳng định hơn nữa về vai trò và vị trí của GCCN Việt Nam trong giai
đoạn cách mạng hiện nay, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
khoá X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định:
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển,
bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và
dịch vụ có tính chất công nghiệp.
Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: là giai cấp lãnh đạo
cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại
diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng [16,tr.43-44].
Quan niệm trên, tuy chưa phải là một định nghĩa, nhưng đã phản ánh được những
nội dung chủ yếu của khái niệm GCCN Việt Nam như:
Thứ nhất: GCCN Việt Nam hiện nay là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển
cùng với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức; chưa
định hình rõ, luôn có sự đan xen chuyển dịch giữa các giai cấp, tầng lớp.
Thứ hai, GCCN là những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công
hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
Điều đó có nghĩa là, trong cơ cấu giai cấp công nhân có cả bộ phận công nhân trí thức,
công nhân lao động trí óc nhưng làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh
doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công
nghiệp.
Thứ ba, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là
Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên
phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nhân dân Việt Nam” [52,tr.9]. Người đã sớm trao vũ khí sắc bén nhất của thời đại - tư
tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin cho GCCN để họ đảm đương được sứ mệnh của giai
cấp độc lập và duy nhất đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi
cuối cùng.
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù Hồ Chí Minh chủ yếu sống và
hoạt động ở nước ngoài, nhưng Người vẫn nắm chắc phong trào cách mạng trong nước.
Vấn đề to lớn nhất mà Người quan tâm giữ vững là tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng, của GCCN đối với phong trào cách mạng. Cách mạng tháng Tám thành công đã
khẳng định rằng, GCCN Việt Nam đủ sức tiến lên bằng một bước nhảy vọt, kết thúc chế độ thuộc địa ở nơi đầu não của nó. Nhưng GCCN Việt Nam hơn ai hết, hiểu rõ rằng:
“Giành chính quyền đã khó, giữ được chính quyền lại càng khó hơn”. Đây là một trong
những thời kỳ khó khăn phức tạp nhất của cách mạng, khi vận mệnh Tổ quốc đã có lúc
như “ngàn cân treo sợi tóc”.
Đưa con thuyền cách mạng có thể vượt qua những mỏm đá ghềnh lướt tới đích cuối
cùng, ngoài vấn đề có tính quyết tử là đi theo đường lối kháng chiến do Đảng và Hồ Chí
Minh đã vạch ra, thì việc bố trí lực lượng cách mạng trên trận tuyến kháng chiến, là một
khâu hết sức quan trọng. Theo Hồ Chí Minh, trong kháng chiến, kiến quốc và xây dựng
nền dân chủ mới, “giai cấp công nhân phải là người lãnh đạo. Vì vậy, mỗi nam, nữ công
nhân phải cố gắng học hỏi, tiến bộ, phải cố gắng xung phong làm kiểu mẫu trong mọi
việc để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của giai cấp mình” [47,tr.3]. Từ đó, Người đặt niềm
tin vào công nhân “đã dũng cảm trong công việc kháng chiến, thì ắt cũng dũng cảm trong
sự nghiệp kiến quốc” [47,tr.420]. Niềm tin của Người vào công nhân là niềm tin của
Đảng, của dân tộc vào giai cấp lãnh đạo. Đó là một trọng trách, không những chỉ công
nhân ở miền tự do mà cả công nhân ở vùng tạm bị chiếm. Hoàn thành được trọng trách
đó, tức là công nhân “đã có công với nước nhà” giúp cho “kháng chiến sẽ chóng thắng
lợi, thống nhất và độc lập sẽ chóng thành công, toàn thể đồng bào lao động sẽ chóng
được giải phóng” [47. tr, 421].
Cuộc kháng chiến thần thánh 9 năm của nhân dân ta giành được thắng lợi vẻ vang,
hái thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa anh dũng chiến đấu bảo vệ miền Bắc, vùa hết
lòng ủng hộ miền Nam” [53,tr.434].
Rõ ràng, quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của GCCN trong sự nghiệp cách mạng
giải phóng niềm Nam, bảo vệ niềm Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên
CNXH là một quan điểm nhất quán về các mặt: vai trò tiên phong, lãnh đạo của GCCN, liên
minh công - nông là cơ sở của Mặt trận dân tộc thống nhất, công nhân mỗi miền, trong khi
góp phần hoàn thành nhiệm vụ từng miền, chính là nhằm mục tiêu chung, hoàn thành cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Đó chính là cái nhìn chính xác, phản
ánh bản chất cách mạng và năng lực lãnh đạo của GCCN Việt Nam.
Trong những điều kiện cụ thể, Hồ Chí Minh đã phát triển nhận thức của mình về
vai trò, vị trí của GCCN một cách đúng đắn, phù hợp với nhiệm vụ cách mạng từng miền
và nhiệm vụ chung của cả nước. Nhưng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhận thức có phát
triển đến mức nào, thì điều căn bản, cốt yếu nhất của GCCN, như Hồ Chí Minh đã nêu ra vẫn không hề thay đổi: “Tiền đồ của giai cấp công nhân rất rộng và vẻ vang. Nó vừa cải
tạo thế giới, vừa cải tạo bản thân mình” [51,tr.285]; “Giai cấp công nhân chẳng những
đấu tranh để tự giải phóng mà còn để giải phóng cả loài người khỏi áp bức, bóc lột. Cho
nên lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của nhân dân là nhất trí” [51,tr.288]. Đó là,
“làm cho cả nước không còn ai bị bóc lột, xây dựng một xã hội mới, trong đó mọi người
sung sướng, ấm no” [51,tr.286].
1.1.3. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của giai cấp công nhân trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa
1.1.3.1. Đưa đất nước tiến dần theo con đường chủ nghĩa xã hội - Lý tưởng và
mục đích cao cả của Hồ Chí Minh
Ngay từ năm 1920, ở Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, khi bỏ lá phiếu tán thành
ủng hộ Quốc tế III, Hồ Chí Minh đã trọn vẹn đặt niềm tin vào con đường cách mạng vô
sản. Đánh đổ đế quốc, phong kiến giành độc lập cho dân tộc, đưa đất nước tiến theo con
đường XHCN, đã trở thành lý tưởng, mục đích phấn đấu suốt đời của Hồ Chí Minh. Lý
tưởng và mục đích cao đẹp đó nhất quán, xuyên suốt mọi hoạt động lý luận và thực tiễn
là công nhân” [54,tr.565]. Bác Hồ luôn luôn đặt niềm tin lớn lao vào GCCN, khẳng định
sứ mệnh lịch sử, vai trò lãnh đạo của công nhân trong sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội
mới.
Người khẳng định: “Để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do giai cấp
công nhân lãnh đạo. Vì nó là giai cấp tiền tiến nhất, giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỷ
luật nhất và tổ chức chặt chẽ nhất” [51,tr.283].
Trong suốt 15 năm, kể từ khi miền Bắc bắt tay vào thời kỳ cách mạng XHCN, đến
năm 1969, khi Hồ Chí Minh qua đời, mặc dù bận trăm công, nghìn việc với cương vị Chủ
tịch Đảng, Chủ tịch Nước, Người vẫn giành nhiều thời gian, trí lực để đi thăm hỏi, nói
chuyện với cán bộ, công nhân ở nhiều xí nghiệp trên các địa phương miền Bắc. Thông
qua những bài viết, bài nói của mình, Người đã chỉ ra cho GCCN những nhiệm vụ lịch sử
trong thời kỳ cách mạng mới.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, với tư cách là người chủ đất nước, là giai cấp
lãnh đạo, trước hết GCCN phải đi đầu trong trong trào thi đua sản xuất và thực hành tiết
kiệm để xây dựng CNXH, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và góp phần đắc lực vào
cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Ngày 15 tháng 9 năm 1958, trong buổi gặp gỡ thân mật với cán bộ, công nhân nhà
máy Tĩnh Túc (Cao Bằng) Bác Hồ đã đặt câu hỏi: “Là giai cấp công nhân, là giai cấp lãnh
đạo thì phải làm gì?” Trả lời câu hỏi đó, Người nhấn mạnh: “Lãnh đạo phải đi trước, phải
gương mẫu sản xuất và tiết kiệm mới là lãnh đạo”, “là công nhân làm chủ xí nghiệp,
muốn làm chủ phải làm thế nào? Làm chủ là phải cố gắng làm việc chứ không phải làm
chủ chỉ ăn no, ngủ say”. Khi về thăm và nói chuyện với cán bộ, công nhân trên công
trường xây dựng ba Nhà máy xà phòng - cao su - thuốc lá ở Hà Nội ngày 24 tháng 2 năm
1959, Người ân cần nhắc nhở cán bộ, công nhân:
Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, muốn xứng đáng là giai
cấp lãnh đạo cách mạng thì phải gương mẫu trong công tác. Muốn tiến lên chủ
nghĩa xã hội, muốn nước nhà mau chóng thống nhất, muốn được tự do, sung sướng,
mọi người phải khắc phục khó khăn, thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm
nghiệp với nông nghiệp, xí nghiệp với các hợp tác xã nông nghiệp. Muốn củng cố được
mối liên hệ mật thiết với người bạn đồng minh chiến lược đông đảo, lôi cuốn họ đi vào
quỹ đạo XHCN, GCCN trước hết phải sử dụng các biện pháp kinh tế tích cực, hiệu quả.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh những nội dung mới trong quan hệ liên minh giữa
hai giai cấp. Người nói: “Phải hiểu rằng giúp đỡ nông nhân tiến bộ là một nhiệm vụ cách
mạng của giai cấp công nhân. Đó không phải là một sự ban ơn ”; “Nhà máy giúp nông
thôn” là một việc rất hay, có ý nghĩa lâu dài và to lớn. Lênin dạy chúng ta rằng: “Lập
quan hệ giữa nông nhân và công dân, xây dựng một hình thức bầu bạn giúp nhau, giản
đơn, dễ làm. Đó là một trong những nhiệm vụ căn bản của giai cấp công nhân, đã nắm
chính quyền”. Song song với việc nhắc nhở GCCN về nhiệm vụ đoàn kết, giúp đỡ giai
cấp nông dân, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề xây dựng mối quan hệ giữa lao động
chân tay và lao động trí óc. Người nói: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công,
nông, trí, cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối”, trí thức phải “gần gũi công
nông”[40,tr.215].
Đối với các lực lượng xã hội khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ dẫn GCCN phải
có thái độ đúng đắn về đoàn kết, tập hợp, động viên họ góp công, góp của xây dựng đất
nước. Người nói: “Giai cấp công nhân đoàn kết với những người thủ công và những người
buôn bán nhỏ vì họ là người lao động và họ vui lòng đi vào con đường hợp tác hoá, họ tán
thành và ủng hộ cách mạng xã hội chủ nghĩa” [51,tr.586]. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam đã
ủng hộ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Từ ngày hoà bình lập lại, họ có đóng
góp một phần trong công cuộc khôi phục kinh tế. Hiện nay, chúng ta có điều kiện để
cải tạo họ theo con đường xã hội chủ nghĩa… Giai cấp tư sản dân tộc sẵn sàng tiếp
thu cải tạo để góp phần vào công cuộc xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã
hội [51,tr.587].
Trong khi xác định nhiệm vụ của GCCN, đồng thời với việc đòi hỏi tinh thần tự
lực cánh sinh, ý chí tự lực tự cường, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ sự cần thiết phải đề cao tinh
đã xác định một trong những nhiệm vụ của Đảng là làm cho giai cấp công nhân trở thành
giai cấp lãnh đạo. Trong “Sách lược vắn tắt” do Hồ Chí Minh soạn thảo, được thông qua
tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 ghi rõ: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp
phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo
được dân chúng”.
Năm 1960, khi tổng kết, đánh giá hoạt động của Đảng và vai trò của GCCN Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã trưởng
thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” [52,tr.8]. “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm
nhất, cách mạng nhất, luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách
mạng tiền phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra
là người lãnh đạo xứng đáng nhất và tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam” [52,tr.9].
Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là: kiên quyết, triệt để, tập thể, có
tổ chức, có kỷ luật. Lại vì là giai cấp tiền tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách
nhiệm đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc, để xây dựng một xã hội mới, giai cấp công
nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đồng thời, tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp khác. Vì
vậy, về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, giai cấp công nhân đều giữ vai
trò lãnh đạo. [49,tr.212].
Hồ Chí Minh luôn chủ trương xây dựng GCCN đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng là
hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam, một đất nước cần được giải phóng khỏi sự
thống trị của thực dân, phong kiến. Trong khi ở Việt Nam, vào đầu thế kỷ XX, giai cấp
địa chủ phong kiến không đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đã cấu kết
với thực dân Pháp để thống trị nhân dân; giai cấp tư sản dân tộc nhỏ bé, yếu ớt lại ra đời sau GCCN, và ngay sau khi ra đời đã bị tư sản Hoa kiều, ấn kiều và tư bản Pháp chèn ép;
giai cấp nông dân không có khả năng lãnh đạo vì không có hệ tư tưởng độc lập. Sứ mệnh
lãnh đạo cách mạng đặt lên vai giai cấp công nhân, bởi vì, ngoài những đặc điểm của
GCCN quốc tế như: trưởng thành trước giai cấp tư sản dân tộc; không bị ảnh hưởng tư
xứng đáng là giai cấp lãnh đạo, đi đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.2.2. Xây dựng giai cấp công nhân phát triển về chất lượng
1.2.2.1. Xây dựng ý thức làm chủ, ý thức giác ngộ giai cấp
Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng, GCCN chỉ trở thành giai cấp lãnh đạo và
hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng khi mỗi thành viên ngày càng giác ngộ sâu sắc
về ý thức làm chủ, ý thức giác ngộ giai cấp, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình và
được tổ chức chặt chẽ.
Nhưng Người chỉ rõ, ra đời trong lòng một xã hội thuộc địa nửa phong kiến; trưởng
thành trong lòng một đất nước mà nền kinh tế sản xuất nhỏ là chủ yếu; chịu sự chi phối,
tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh phức tạp, nên công nhân Việt Nam có nhiều hạn
chế là ý thức giác ngộ XHCN, ý thức làm chủ còn mờ nhạt. Mặt khác, lịch sử của GCCN
chủ yếu là lịch sử đấu tranh chống đế quốc, phong kiến vì độc lập, tự do. Lịch sử xây
dựng chế độ xã hội mới chỉ mới bắt đầu, do vậy ý thức về dân tộc đậm nét hơn ý thức về
giai cấp, nhận thức về cách mạng XHCN. Phần lớn công nhân chưa nhận thức đầy đủ về
vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình trong thời kỳ cách mạng mới. Đồng thời, tư tưởng làm
thuê đã tồn tại hơn nửa thế kỷ trong hoàn cảnh đất nước nô lệ vẫn còn để lại nhiều dấu ấn
trong nhận thức, hành động của GCCN mới được giải phóng đang tập dượt làm chủ đất
nước, làm chủ xã hội, làm chủ xí nghiệp và cuộc sống của mình. Trong bài “Nói chuyện
với cán bộ, công nhân nhà máy xi măng Hải Phòng”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh “người
công nhân trước đây làm thuê cho tư bản. Bây giờ là người làm chủ đất nước. Phải xứng
đáng vai trò của mình” [50,tr.363]. Người nghiêm khắc phê phán biểu hiện của tư tưởng
làm thuê, kêu gọi cán bộ, công nhân đấu tranh xoá bỏ tàn tích của tư tưởng lạc hậu để xây
dựng ý thức làm chủ, gắn chặt quyền lợi của mình với quyền lợi của xí nghiệp, nhà nước.
Người nói:
Nhà máy này trước đây là nhà máy của ai? Của thực dân Pháp; nó làm có
lãi không? Lãi ai ăn? Thực dân Pháp nó hưởng, thế là nó làm chủ. Dân tộc ta
trước làm nô lệ cho thực dân Pháp thì công nhân cũng làm nô lệ cho thực dân
Pháp, nhưng công nhân làm trong nhà máy còn làm nô lệ cho tư bản Pháp nữa.