LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc áp dụng hình phạt của Viện Kiểm sát
nhân dân ở tỉnh Thái Bình
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.
Theo yêu cầu của cải cách tư pháp thì vấn đề đổi mới, cải cách hệ thống các cơ quan tư
pháp từ công tác tổ chức đến cơ chế hoạt động và nâng cao năng lực của cán bộ đã được
quán triệt và đặt ra là nhiệm vụ cấp bách nhằm xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, hoạt động có hiệu quả, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì
dân. Yêu cầu của cải cách tư pháp đã đặt ra nhiệm vụ khách quan phải xây dựng mô hình tổng
thể của hệ thống các cơ quan tư pháp, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn
thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp.
VKSND là cơ quan Nhà nước nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp có vị trí, vai
trò rất quan trọng trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp
chế XHCN. Trong những năm gần đây có khá nhiều các quan điểm khác nhau về vai trò,
Trên thực tế việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong công cuộc cải
cách tư pháp hiện nay ở địa phương có nơi, có việc vẫn chưa được nhận thức, quán triệt và
vận dụng đầy đủ, thống nhất. Nghiên cứu số liệu thống kê số bị cáo đã bị xét xử trong một
số năm gần đây cho thấy, số bị cáo bị xét xử hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án
treo vẫn thường chiếm tỷ lệ rất cao so với các loại hình phạt khác. Các hình phạt cảnh cáo,
cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền đối với một số loại tội phạm chưa được Toà án các
cấp quan tâm áp dụng. Công tác thực hành quyền công tố, KSXX các vụ án hình sự của
VKS chưa có biện pháp hữu hiệu làm chuyển biến nhận thức về áp dụng và kiểm sát việc
áp dụng hình phạt đối với người phạm tội theo tinh thần cải cách tư pháp đặt ra.
Việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là những yêu cầu
quan trọng nhất của công tác tư pháp. Trong đó, công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật…là trách nhiệm của VKSND được quy định tại điều 23
BLTTHS.
Để làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của VKS theo quy định của tố tụng
hình sự trong công tác thực hành quyền công tố, KSXX hình sự (trong đó có kiểm sát việc
áp dụng hình phạt) thì việc hệ thống về mặt lý luận những căn cứ pháp luật và làm rõ chủ
trương của Đảng, chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với người phạm tội không chỉ có
ý nghĩa trong công tác nghiên cứu, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng với người làm công
tác thực tiễn trong ngành Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
Đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội, nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ
thống dưới góc độ một Luận văn khoa học về nâng cao chất lượng thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc áp dụng hình phạt của Toà án đối với người phạm tội - nhìn nhận dưới
góc độ áp dụng chính sách hình sự của Nhà nước trong việc áp dụng hình phạt đối với
người phạm tội trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc học viên chọn đề tài " Nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng hỡnh phạt của Viện Kiểm sỏt
nhõn dõn ở tỉnh Thỏi Bỡnh " để nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ của mình, nhằm
tham khảo vô cùng quan trọng giúp cho tác giả nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Đánh giá đúng thực trạng và đề xuất được các giải pháp nhằm thống
nhất nhận thức việc áp dụng hình phạt trong thực tiễn xét xử và KSXX các vụ án hình sự
trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đảm bảo chính sách hình sự của Nhà nước theo tinh thần cải
cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích nêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp
dụng hình phạt được quy định trong BLHS; Nghiên cứu một cách có hệ thống chủ trương
của Đảng về thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp và chính sách hình sự của Nhà nước đối
với việc xử lý người phạm tội; Nghiên cứu thực trạng thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội của VKS hai cấp trên địa bàn tỉnh Thái
Bình trong những năm gần đây.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác THQCT, kiểm sát việc áp dụng
pháp luật về hình phạt của VKSND ở tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động của VKS trong thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc áp dụng pháp luật về hình phạt của VKSND hai cấp ở tỉnh Thái
Bình. Thời gian thu thập số liệu để nghiên cứu tính từ năm 2005 đến 2008.
Do khuôn khổ của Luận văn Thạc sỹ nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sâu bốn
loại hình phạt chính là: Cải tạo không giam giữ, phạt tiền, tù có thời hạn, tử hình.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về đổi mới cải cách bộ máy Nhà
nước, cải cách tư pháp, về xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật, nâng cao vai trò
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong hoạt động
xét xử và KSXX các vụ án hình sự. Luận văn còn dựa trên cơ sở lý luận của khoa học Luật
chuyên ngành là Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, khoa học Luật Hình sự, Luật Tố
tụng hình sự.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 7 tiết.
Chương 1
cơ sở lý luận về chất lượng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng
hình phạt
của viện kiểm sát nhân dân
1.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích áp dụng hình phạt
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật XHCN là tổng hợp các quy
tắc xử sự chung thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản, được cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền ban hành theo một trình
tự nhất định, với các hình thức nhất định, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong quá
trình xây dựng CNXH.
Hình thức thể hiện của pháp luật XHCN chính là các quy phạm pháp luật được các
chủ thể có thẩm quyền ban hành với các loại văn bản có tên gọi và hiệu lực pháp lý khác
nhau. Nhà nước XHCN căn cứ vào các quy phạm pháp luật để quản lý các lĩnh vực của
đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc
phòng Các quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý của việc tôn trọng và thực thi các quyền
tự do, dân chủ của công dân và là chuẩn mực, thước đo chung để xem xét, đánh giá một
hành vi hợp pháp luật hay vi phạm pháp luật. Các quy phạm pháp luật đòi hỏi phải được
tôn trọng, tuân thủ và thi hành trong đời sống xã hội. Nói cách khác, các quy tắc xử sự
hệ pháp luật. Chủ thể thực hiện hình thức thi hành pháp luật này là tất cả các cơ quan nhà
nước, nhân viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội.
- Sử dụng pháp luật, là hình thức các chủ thể thực hiện pháp luật sử dụng các
quyền mà pháp luật cho phép. Đây cũng là hình thức thực hiện pháp luật chủ động và tích
cực bằng các hành vi cụ thể của các chủ thể quan hệ pháp luật. Do hình thức thực hiện
pháp luật này là việc sử dụng các quyền năng pháp lý được pháp luật trao quyền, nên các
chủ thể quan hệ pháp luật có quyền thực hiện hoặc không thực hiện các quyền của mình,
pháp luật không bắt buộc các chủ thể phải thực hiện như hai hình thức tuân thủ pháp luật
và chấp hành pháp luật. Chủ thể thực hiện hình thức sử dụng pháp luật là tất cả các cơ
quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các cá nhân, tổ chức và mọi công dân trong xã hội.
Có thể nói, áp dụng pháp luật là hoạt động diễn ra hàng ngày trong các cơ quan
Nhà nước và chỉ do nhân viên cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Trong hoạt
động tố tụng hình sự, áp dụng pháp luật thường được Điều tra viên, KSV, Thẩm phán, Hội
thẩm tiến hành theo một thủ tục tố tụng nhất định để thu thập chứng cứ, xác minh, điều
tra làm rõ các tình tiết vụ án nhằm xác định sự thật khách quan; truy cứu trách nhiệm pháp
lý; xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
Tính chất tổ chức thực hiện quyền lực của Nhà nước trong hoạt động áp dụng
pháp luật thể hiện ở chỗ: Hoạt động này chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến
hành, không theo ý chí của các chủ thể mà là theo quy định của pháp luật. Việc tiến
hành áp dụng pháp luật và ra văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hoàn toàn theo quy
định của pháp luật. Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thi
hành và được Nhà nước bảo đảm thi hành. Do hoạt động áp dụng pháp luật gắn liền với
quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp nên nó có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc thực thi quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, áp dụng pháp luật còn là
một hình thức thực hiện quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nếu quy phạm pháp luật là những khuôn mẫu chung, những tiêu chuẩn chung cho xử
sự giữa người với người trong các mối quan hệ xã hội thì hoạt động áp dụng pháp luật luôn
luôn mang tính cụ thể. Tính cụ thể của hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện ở chỗ, các địa chỉ
để áp dụng pháp luật là xác định, gồm cả sự việc, con người, thời gian, không gian; quy phạm
và dễ lạm dụng pháp luật nên cần được tiến hành chỉ trong những điều kiện cần thiết và
phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN một cách nghiêm ngặt.
Mặt khác, để giúp cho việc áp dụng pháp luật được tiến hành chính xác và thống
nhất thì công tác giải thích pháp luật cũng được quan tâm nhằm làm sáng tỏ nội dung của
các quy phạm pháp luật, bảo đảm cho nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất.
Giải thích pháp luật bao gồm giải thích chính thức và giải thích không chính thức. Giải
thích chính thức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành bằng văn bản và có tính
bắt buộc khi áp dụng quy phạm pháp luật. Giải thích pháp luật không chính thức là giải
thích của các nhà nghiên cứu pháp luật và của các cá nhân, tổ chức trong xã hội thông qua
bình luận, trao đổi trực tiếp hoặc qua sách báo pháp lý và các phương tiện thông tin đại
chúng. Giải thích pháp luật không chính thức không có giá trị bắt buộc áp dụng nhưng lại
có tác động rất lớn đến việc nâng cao ý thức pháp luật, hiểu và sử sự đúng theo quy định
của pháp luật.
Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả khái quát như sau: áp dụng pháp luật là một hoạt
động mang tính thực tiễn, cụ thể và sinh động do các cơ quan Nhà nước, nhân viên Nhà
nước được giao quyền tiến hành theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Nó là
hình thức thực hiện pháp luật, là thủ tục bắt buộc để các cơ quan Nhà nước thực hiện các
biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm; khi phải giải quyết các
tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể hoặc khi Nhà nước cần
phải can thiệp, cần phải tham gia để bảo đảm việc thực thi trên thực tế các quyền của chủ
thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt và áp dụng hình phạt
1.1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt
* Khái niệm hình phạt:
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2007, hình phạt là "cách phạt kẻ có tội từ việc
cảnh cáo, cấm túc đến tù đày, tử hình" [31, tr.487]. Theo Từ điển Luật học năm 1999,
hình phạt là "biện pháp cưỡng chế do nhà nước quy định trong luật hình sự, được Toà
án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm” [32, tr.185].
Nghiên cứu lịch sử lập pháp của nước ta thấy, khái niệm hình phạt lần đầu tiên
nhận những chức vụ; Cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản
chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền khi không áp dụng là hình
phạt chính; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. Đối với một tội phạm cụ thể,
TA có thể chỉ tuyên hình phạt chính mà không kèm theo một hình phạt bổ sung nào, nhưng
cũng có thể có một hoặc nhiều hình phạt bổ sung, nếu trong điều luật có ghi rõ có thể
tuyên phạt hình phạt bổ sung. Việc quy định hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt có
tác dụng hỗ trợ, tăng sức mạnh cưỡng chế và giáo dục của hình phạt chính, làm cho hình
phạt được thực hiện một cách triệt để, đạt được mục đích của hình phạt, giúp cho các cơ
quan có thẩm quyền thực hiện nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt,
đảm bảo công bằng xã hội và pháp chế XHCN.
Từ kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra đặc điểm của hình phạt:
- Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước thể hiện ở chỗ người bị
kết án có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị, thậm
chí cả quyền sống. Bên cạnh đó hình phạt cũng để lại hậu quả pháp lý là án tích cho người
bị kết án trong thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật.
- Hình phạt được luật hình sự quy định và do TA quyết định. Trong Phần chung
của BLHS quy định những vấn đề có tính nguyên tắc liên quan đến hình phạt như: Mục
đích của hình phạt; hệ thống hình phạt; căn cứ quyết định hình phạt; quyết định hình phạt
trong trường hợp phạm nhiều tội; tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; miễn chấp hành
hình phạt; giảm mức hình phạt đã tuyên… Phần các tội phạm của BLHS quy định các loại
hình phạt và mức hình phạt cho từng loại tội phạm cụ thể.
Các dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi; tính trái pháp luật và sự có
lỗi của người phạm tội luôn gắn liền với tính chịu hình phạt. Do vậy cùng với việc xác
định hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm thì cũng đòi hỏi phải quy định loại và mức
hình phạt áp dụng cho người có hành vi phạm tội đó trong luật.
Trong mọi trường hợp không được áp dụng hình phạt đối với những hành vi
không được BLHS quy định là tội phạm và cũng không được áp dụng một loại hình phạt
nào đó nếu hình phạt ấy không được quy định trong hệ thống hình phạt hoặc không được
quy định trong chế tài của điều luật mà hành vi bị xử phạt thỏa mãn. Ngoài TA - cơ quan
quan hệ giữa trừng trị và cải tạo thì trừng trị là mục đích nhưng đồng thời cũng là phương
tiện để đạt mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt đối với người phạm tội là giáo
dục, cải tạo họ.
Ngoài phòng ngừa riêng, hình phạt còn có mục đích phòng ngừa chung thể hiện ở
việc ngăn ngừa người khác phạm tội, nhằm giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật cho các
thành viên khác trong xã hội, động viên họ, khuyến khích đông đảo quần chúng nhân dân
tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh, ngăn ngừa và chống tội phạm.
Để đạt được mục đích phòng ngừa chung thì phải tiến hành đồng bộ nhiều biện
pháp, trong đó biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật trong
nhân dân là biện pháp hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn. Mục đích phòng ngừa
chung của hình phạt chỉ đạt kết quả tốt khi quần chúng nhân dân hiểu biết pháp luật, thấy
được sự cần thiết của việc tuân thủ pháp luật cũng như ý nghĩa xã hội của hình phạt.
Mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt của thể thống nhất
(hình phạt). Nếu chỉ coi trọng mặt này hay mặt kia đều có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc
pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt và làm cho mục đích của hình phạt bị triệt tiêu.
1.1.2.2. Khái niệm áp dụng hình phạt
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 nước ta quy định "TAND Tối cao, các TAND địa
phương, các Tòa án quân sự và các TA khác do luật định là những cơ quan xét xử của
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" [20, tr.68].
Trong quá trình xét xử một vụ án hình sự, việc tuyên bố một người là có tội và
phải chịu hình phạt nhất thiết phải thông qua hoạt động xét xử của TA, theo đó “Không
ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật” chính là
một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS” [19, tr.12].
Một người chỉ bị coi là có tội khi người đó đã bị TA xét xử và kết án theo các quy
định của pháp luật bằng một bản án của TA đã có hiệu lực pháp luật. Thông qua bản án kết
tội có hiệu lực pháp luật thì người phạm tội phải chịu một hình phạt tương ứng với hành vi
phạm tội do người đó gây ra. Như vậy, việc áp dụng hình phạt của Toà án đối với người
phạm tội là hậu quả tất yếu do người phạm tội phải gánh chịu từ hành vi phạm tội người đó
thực hiện và cũng là kết quả cuối cùng trong hoạt động xét xử của Toà án.
chịu trách nhiệm pháp lý bằng một bản án quy kết tội danh và quyết định hình phạt nhất
định buộc người phạm tội phải chấp hành. Ngoài ra, áp dụng pháp luật (áp dụng hình phạt)
trong hoạt động xét xử hình sự của TA còn có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần
phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân bằng
những vụ việc cụ thể, đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử công khai.
Phân tích vai trò áp dụng hình phạt của TA như nêu trên đã gián tiếp nói lên vai
trò của VKS trong THQCT, KSXX nói chung cũng như kiểm sát áp dụng hình phạt của
TA nói riêng. Điều đó cũng có nghĩa là chất lượng áp dụng hình phạt của TA có liên quan
đến chất lượng kiểm sát áp dụng hình phạt của VKS. Nếu chất lượng áp dụng hình phạt
đối với người phạm tội trong xét xử các vụ án hình sự của TAND đang cần được quan tâm,
chấn chỉnh kịp thời, thì chất lượng và trách nhiệm của VKSND trong công tác THQCT,
kiểm sát áp dụng hình phạt của VKS các cấp cũng cần phải được nâng cao.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chất lượng công tác thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc áp dụng hình phạt của Viện Kiểm Sát
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò công tác thực hành quyền công tố, kiểm
sát việc áp dụng hình phạt của Viện kiểm sát
Để hiểu rõ về công tác THQCT, kiểm sát việc áp dụng hình phạt của VKS, trước
hết chúng ta cần tìm hiểu về Quyền công tố, THQCT như khái niệm, nội dung, phạm vi và
đối tượng của nó trên cả phương diện lý luận và thực tiễn ở Việt Nam.
* Về Quyền công tố
ở nước ta, Quyền công tố là một chức năng rất quan trọng của Nhà nước được giao
cho VKSND thực hiện. Hiến pháp năm 1980 tại điều 138 quy định: “VKSND … thực
hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Luật tổ chức VKSND năm 1981 quy định tại điều 1: “VKSND tối cao… thực hành quyền
công tố bảo đảm cho pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất”.
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn chưa có sự hiểu thống nhất và đầy đủ về
khái niệm, nội dung và phạm vi của Quyền công tố. Đã có một số tác giả nghiên cứu vấn đề
này và đưa ra khái niệm về Quyền công tố, song cách hiểu cũng chưa thống nhất và chưa
được cơ quan lập pháp ghi nhận, giải thích.
Theo chúng tôi, Quyền công tố chỉ thực hiện trong lĩnh vực hình sự như quy định ở
Luật tổ chức VKSND năm 2002 là đúng. Phạm vi của nó trong TTHS bắt đầu từ khi phát
hiện tội phạm, khởi tố vụ án đến truy tố bị can ra Toà và kết thúc bằng một bản án của Toà
án có hiệu lực pháp luật.
Với những lý do phân tích ở trên về Quyền công tố, tác giả đồng nhất với quan
điểm của Tiến sĩ Luật học Lê Thị Tuyết Hoa : Quyền công tố là quyền của VKSND nhân
danh Nhà nước thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng
hình sự để tiến hành việc khởi tố vụ án, truy tố và buộc tội người phạm tội trước Toà án;
nhằm góp phần ra được bản án có căn cứ, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như các lợi ích
hợp pháp của Nhà nước, của xã hội.
* Công tác thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong
xét xử các vụ án hình sự nói riêng
Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định “VKSND Tối cao THQCT và kiểm sát
các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và
thống nhất. Các VKSND địa phương, các VKS Quân sự THQCT và kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định” [20, tr.71].
Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định “VKSND THQCT trong TTHS,
quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước TA”.
Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định:
Khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKSND có những nhiệm vụ và
quyền hạn sau đây: 1. Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan
điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
2. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp
tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật; 3. Yêu cầu thủ
trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu
hành vi của điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; 4. Quyết
định áp dụng thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện
pháp ngăn chặn khác. Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan
xử, nhằm đảm bảo việc truy tố của VKSND được đúng người đúng tội, không để lọt tội
phạm và người phạm tội.
Việc xác định giới hạn, phạm vi hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử các vụ
án hình sự bắt đầu từ khi nào và đến khi nào kết thúc là vấn đề có ý nghĩa về lý luận và
thực tiễn. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của VKSND được quy định trong Luật tổ
chức VKSND năm 2002 và BLTTHS năm 2003 thì khi VKSND hoàn thành bản cáo
trạng, được người có thẩm quyền ký tên, đóng dấu ghi ngày tháng, bản cáo trạng được
tống đạt cho bị can một cách hợp pháp và chuyển hồ sơ sang TA thì khi đó kết thúc giai
đoạn quyết định truy tố của VKSND. Đồng thời chuẩn bị mở ra một giai đoạn mới - giai
đoạn xét xử của TA. ở giai đoạn này, VKSND sẽ thực hiện quyền năng do luật định là
THQCT và kiểm sát hoạt động xét xử các vụ án hình sự. Khi đã có quyết định truy tố thì
trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định, VKS phải thực hiện các quyền năng của
mình là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của TA, từ việc nhận hồ sơ đến các hoạt động
chuẩn bị xét xử…
Đồng thời với các hoạt động đó thì VKS phải có các hoạt động chuẩn bị cho việc
THQCT tại phiên toà như: Chuẩn bị đề cương thẩm vấn, luận tội, ý kiến phát biểu, dự kiến các
tình huống xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, dự kiến mức án đối với bị cáo và các vấn đề liên
quan khác… Như vậy, để THQCT tố tại phiên toà thì VKSND phải có hàng loạt các hoạt
động để chuẩn bị theo đúng các quy định của quy chế KSXX các vụ án hình sự nhằm đảm
bảo sự liên tục cũng như yêu cầu nghiệp vụ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
- Về nội dung THQCT tại phiên toà hình sự của VKS
Luật tổ chức VKSND 2002 và BL TTHS năm 2003 đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể của VKSND tại các phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm. ở mỗi phiên toà khác nhau
thì nhiệm vụ, quyền hạn và nội dung hoạt động THQCT của VKS khác nhau do tính chất
pháp lý của từng loại phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm: Theo quy định tại điều 17 Luật tổ chức VKSND 2002, các
điều 206, 207, 217 BLTTHS 2003 thì tại phiên toà hình sự sơ thẩm VKSND có quyền:
1. Đọc cáo trạng, quyết định của VKSND có liên quan đến việc giải quyết vụ án tại
phiên toà. Đây là sự cáo buộc một cách công khai của VKS về hành vi phạm tội của bị
vụ kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Theo quy định tại điều 18 Luật tổ chức VKSND 2002:
Khi thực hiện công tác KSXX các vụ án hình sự, VKSND các cấp có
những nhiệm vụ và quyền hạn: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động xét xử của TAND; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người
tham gia tố tụng; Kiểm sát các bản án, quyết định của TAND theo quy định của
pháp luật; Yêu cầu TAND cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án
hình sự để xem xét quyết định việc kháng nghị [20, tr 205, 206].
Điều 19 Luật tổ chức VKSND quy định:
Khi thực hiện quyền công tố, KSXX các vụ án hình sự, VKSND có quyền
kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết
định của TAND theo quy định của pháp luật; kiến nghị với TAND cùng cấp và
cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử; kiến nghị với cơ quan, tổ chức,
đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp
luật; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự [20, tr 206].
Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì: kiểm sát áp dụng hình phạt của VKS
chính là kết quả của KSXX các vụ án hình sự của VKS và là hoạt động thuộc nội dung của
kiểm sát bản án, là một trong những nhiệm vụ quyền hạn của VKSND khi thực hiện chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của
TAND nói riêng và trong kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung. Thông qua kiểm sát
bản án của TA, VKSND thực hiện kiểm sát áp dụng hình phạt của TA đối với người phạm
tội trong xét xử các vụ án hình sự, nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật hình sự được
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo chính sách hình sự của Nhà nước được
thực hiện cũng như yêu cầu của pháp chế XHCN trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Thông
qua kiểm sát bản án, VKS các cấp có quyền xem xét quyết định việc kháng nghị theo thẩm
quyền.
Để làm tốt việc kiểm sát bản án mà kết quả cuối cùng là kiểm sát áp dụng hình phạt
của TA đã tuyên đối với người phạm tội thì VKSND phải làm tốt tất cả các nhiệm vụ
quyền hạn được quy định trong suốt quá trình thực hành quyền công tố, KSXX các vụ án
công tác thi hành hình phạt với người phạm tội.