LUẬN VĂN:
Chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm
sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong
xét xử phúc thẩm các vụ án hỡnh sự
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tư pháp là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta rất quan
cấp xét xử giúp cho việc xét xử của Toà án chính xác hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của
bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác theo luật định được đảm bảo. Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 quy định về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp - Theo Điều
170 thì Toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực (gọi tắt là Toà án cấp
huyện) được xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Theo đó Toà án cấp huyện được xét xử
các tội phạm có khung hình phạt đến 15 năm. Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân
sự khu vực (gọi tắt là Toà án cấp tỉnh) xét xử những vụ án còn lại - cá biệt có thể xét xử
vụ án thuộc thẩm quyền cấp dưới khi thấy cần thiết. Như vậy, xét xử các vụ án thuộc cấp
tỉnh là những vụ án thuộc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thường là những vụ án phức
tạp, có nhiều bị cáo tham gia và địa bàn hoạt động tội phạm rất rộng trong quốc gia hoặc
có thể là tội phạm xuyên quốc gia, do đó, khi có kháng án, kháng nghị thì xét xử phúc
thẩm của Toà án tối cao cũng đều là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp. Vì
vậy, đòi hỏi công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm của kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải không ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới về
phương thức hoạt động, có tư duy mang tính chiến lược mới đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay; đảm bảo cho việc xét xử chính xác,
đúng pháp luật, sửa chữa, khắc phục được các thiếu sót của sơ thẩm cấp tỉnh mà lý do có
thể do nhận thức chưa đầy đủ, trách nhiệm chưa cao hoặc có thể do quy định, hướng dẫn
áp dụng pháp luật chưa đầy đủ.
Do đó, việc nghiên cứu đề tài " Chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm
sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trong xét xử phúc thẩm các vụ án hỡnh sự "
làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Theo tác giả được biết thì ngoài một số đề tài nghiên cứu và luận văn thạc sĩ có đề
cập đến việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nói chung.
Trong một vài năm qua ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chuyên đề của Vụ thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự đề cập đến việc "Nâng cao chất lượng công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự các vụ án hình sự có bị cáo Tòa án
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản
liên quan đến chất lượng thực hành quyền công tố các vụ án hình sự ở cấp phúc thẩm
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc Viện Kiểm
sát truy tố, Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội, đồng thời khắc phục được các sai sót của
cấp sơ thẩm, đảm bảo việc truy tố, xét xử đúng pháp luật không làm oan sai. Đề tài không
nghiên cứu việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự nói chung ở những
giai đoạn tố tụng trước đó.
Thời gian nghiên cứu: Đề tài xác định nghiên cứu trong thời gian sau khi thi hành
bộ luật hình sự 1999 và bộ luật tố tụng hình sự 2003; việc áp dụng các quy định của 2 bộ
luật này (phần thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao); trong thực tiễn hoạt động của ngành kiểm sát nhân
dân trong thời gian qua.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những luận
cứ lý luận, các điều kiện - phương pháp bảo đảm việc truy tố, xét xử hình sự đúng người đúng
tội, đúng pháp luật - không làm oan người vô tội.
Quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta cũng như lý
luận chung về Nhà nước, pháp luật nhất là chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam. Từ đó xây dựng đề ra những quan điểm và một số giải pháp cơ bản để
nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân trong việc xét xử hình sự các vụ án hình sự, đảm
bảo cho việc xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan, sai cho người
không phạm tội. Góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự
của bộ luật hình sự 1999; bộ luật tố tụng hình sự 2003; đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp
mà Nghị quyết 48, Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đã đề ra.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ một số vấn đề về lý luận cơ bản của việc thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự.
việc xét xử không đúng pháp luật. Đồng thời chỉ ra các nguyên nhân: Khách quan, chủ quan
dẫn đến việc xét xử chưa đúng pháp luật ở cấp phúc thẩm. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn
luận văn đặt ra những giải pháp cụ thể nhất là các giải pháp trong quản lý chỉ đạo điều hành
nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án
hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
7. ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn
- Nghiên cứu một số khái niệm, phạm trù liên quan đến thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân. Xác định những vấn đề liên quan
đến điều kiện đảm bảo chất lượng quyền công tố Nhà nước giao cho ngành Kiểm sát
chống oan sai trong truy tố xét xử các vụ án hình sự.
- ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa tham khảo cho các cơ quan có thẩm
quyền nói chung và cho ngành Kiểm sát nói riêng trong hoàn thiện pháp luật hình sự, tố
tụng hình sự cũng như đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của ngành Kiểm sát
đối với công tác này - góp phần làm tài liệu cho nghiên cứu, giảng dạy của các cơ sở đào
tạo của ngành luật.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết.
Chương 1
cơ sở lý luận về chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên viện kiểm sát
nhân dân tối cao trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
1.1. khái niệm thực hành quyền công tố và nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát
viên viện kiểm sát nhân dân tối cao trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án hình
sự
1.1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
Quyền công tố trong quá trình tồn tại cùng chiều dài lịch sử, cho đến ngày nay vẫn
còn đang có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy vậy, tựu chung lại chúng tôi thấy một số
tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước, từ Nhà nước chủ nô đến các Nhà nước đại diện
[28, tr.86].
Qua những quan điểm trên, tựu chung chúng tôi thấy ba quan điểm đầu các tác giả
đều dựa trên cơ sở chung khi xác định sự xuất hiện quyền công tố, gắn quyền công tố với
vấn đề dân chủ. Theo quan điểm này ta thấy quyền công tố là kết quả trực tiếp và tất yếu
của quá trình vận động xã hội ở thời điểm xuất hiện dân chủ với nghĩa là một thể chế. Từ
những kinh nghiệm thực tế và kết quả của sự tổng kết những lý thuyết chung cho thấy sự
xuất hiện của quyền công tố chưa có sức thuyết phục bởi tính thiếu căn cứ. Từ thực tế khi
nghiên cứu Nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các cơ quan chuyên trách thực hiện
quyền công tố xuất hiện khá muộn, gắn liền với đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế,
phi dân chủ, thực hiện sự chia quyền lực trong tổ chức bộ máy Nhà nước. Tuy vậy, chúng
ta cũng không nên đồng nhất giữa sự ra đời cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công
tố (là một bộ phận thuộc cơ cấu bộ máy nhà nước) với sự ra đời của quyền công tố (khái
niệm pháp lý). Quan điểm thứ tư đã cho ta thấy quyền công tố luôn gắn với bản chất của
nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời của công quyền. Quan điểm
này coi quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện
việc buộc tội đối với những người đã thực hiện những hành vi phạm tội (theo quan điểm
của giai cấp thống trị xã hội). Như vậy, khi Nhà nước xuất hiện thì đồng thời cũng dẫn tới
sự ra đời của quyền công tố và Nhà nước nào cũng ban hành pháp luật để quản lý xã hội
nhằm đấu tranh với tội phạm theo quan điểm của giai cấp thống trị.
Quyền công tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, trong
đó quy định tất cả các hành vi nguy hiểm nào cho xã hội là tội phạm. Bất kỳ giai cấp nào
thống trị có được quyền lực Nhà nước đều hết sức quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự.
Bởi vì pháp luật hình sự là công cụ để chuyên chính giai cấp hữu hiệu nhất. Khi một hành
vi được coi là phạm tội được thực hiện sẽ làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật giữa
một bên là Nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong mối quan hệ này Nhà nước là
chủ thể sử dụng quyền của mình (quyền lực công) để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp
dụng hình phạt đối với người phạm tội. Người phạm tội là người bị truy cứu trách nhiệm
hình sự và gánh chịu những chế tài hình sự do Nhà nước quy định và áp dụng sự buộc tội
một vụ án tư tố phải rất tốn kém về thời gian, tiền của, công sức cho quá trình thu thập
chứng cứ, đảm bảo sự có mặt của nhân chứng cho đến việc thực hiện việc buộc tội trước
Tòa án. Như thế, không phải ai cũng đủ điều kiện và khả năng làm việc trên, nếu thuê
luật sư thì rất tốn kém không phải ai cũng làm được. Mặt khác pháp luật lại cho hòa giải,
thỏa thuận với người phạm tội đã dẫn tới tình trạng nhiều vụ án nghiêm trọng (xét về trật
tự xã hội) không bị xét xử và trừng trị. Điều này làm cho pháp luật không nghiêm minh,
công bằng xã hội không được đảm bảo. Từ những nguyên nhân trên, dẫn đến Nhà nước
thấy cần thiết phải can thiệp và quá trình án tư tố trong những trường hợp người bị hại
không muốn thực hiện quyền tư tố, nhằm bảo đảm lợi ích công.
Như vậy, trong quá trình phát triển của xã hội cũng như của bộ máy Nhà nước và
pháp luật, cơ chế vận hành của hệ thống tư pháp hình sự đã có những thay đổi căn bản.
Từ chỗ vận hành theo quyền tư tố là chủ yếu, tố tụng hình sự chuyển sang vận hành chủ
yếu dựa vào quyền công tố. Vai trò công tố càng trở nên quan trọng và đứng ra giải quyết
các vụ án hình sự ở hầu khắp các quốc gia như ngày nay. Như vậy, công tố viên vừa là
người đại diện cho công quyền (nhân danh Nhà nước), vừa thay mặt người bị hại đứng ra
buộc tội bị cáo, công tố viên hành động vì xã hội và bảo vệ không chỉ lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng, nhằm đảm bảo sự công bằng của xã
hội.
Trước những ưu việt trên, hầu hết các quốc gia trên thế giới, tư tố tồn tại song
song với công tố. Nhưng phạm vi và vai trò áp dụng của nó dần dần thu hẹp và chuyển
xuống hàng thứ hai sau công tố. Nội dung của quyền tư tố cũng dần dần bị thu hẹp và
thông thường chỉ bao gồm quyền yêu cầu khởi tố vụ án, cung cấp chứng cứ, yêu cầu bồi
thường thiệt hại và thực hiện buộc tội bị cáo trước Tòa án đối với bị cáo trong các vụ án
tư tố. Trong một số ít quốc gia theo hệ thống pháp luật lục địa, tư tố vẫn giữ vai trò quan
trọng trong việc giải quyết một số loại án tư tố. Tại các quốc gia này chỉ có người bị hại
mới có quyền khởi tố đối với các vụ án ít nghiêm trọng như tội vu khống, làm nhục người
khác, gây thương tích nhẹ hoặc gây thiệt hại không lớn về tài sản… Trong các vụ án này
các công tố viên được gọi là bên chính tố, người bị hại được gọi là bên phụ tố (người truy
tố phụ), thực hiện việc buộc tội bị cáo trước Tòa án hoàn toàn độc lập với công tố viên
Từ đó cho thấy, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình nghiên cứu về
quyền công tố là không phân định rõ khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền
công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật. Đa số các tác giả đều cho rằng hai chức năng của Viện kiểm sát (chức năng công tố
và chức kiểm sát việc tuân theo pháp luật) như pháp luật trước đây quy định vừa có tính
độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có
những nội dung hòa nhập vào nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự
thống nhất trong chức năng của Viện kiểm sát.
Theo ý kiến chúng tôi, để làm rõ khái niệm quyền công tố, phải xuất phát từ lịch
sử Nhà nước và pháp luật thế giới nói chung cũng như lịch sử Nhà nước và pháp luật
Việt Nam nói riêng. Dù muốn hay không muốn chúng ta đều phải thừa nhận Nhà nước ra
đời và tồn tại luôn luôn là đại diện chính thức cho xã hội (xét về mọi phương diện).
Trong xã họi có giai cấp, bất kể xã hội nào, có nhiều loại quan hệ xã hội cùng tồn tại,
nhưng chung quy lại có hai nhóm quan hệ cơ bản, nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích
công cộng và nhóm quan hệ xã hội thể hiện lợi ích của từng công dân. Nhà nước nói
chung luôn bảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hội
chung và trừng trị những hành vi vi phạm các quan hệ xã hội loại này. Điều này không
phải là vô lý khi các Nhà nước cổ đại và các Nhà nước tư sản hiện đại phân chia pháp
luật thành “công pháp” và “tư pháp”. Công pháp là pháp luật có liên quan đến lợi ích
chung của toàn xã hội còn tư pháp là luật pháp liên quan đến lợi ích của từng công dân.
Nhưng các luật gia Liên Xô và các Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho rằng
sự phân chia pháp luật thành công pháp và tư pháp chỉ có tính ước lệ về nguyên tắc
không thừa nhận nó với lập luận cho rằng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
cơ bản thì giữa lợi ích của từng cá nhân và lợi ích của Nhà nước không thể có sự đối lập
mà kết hợp hài hòa. Đồng thời, chính việc thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
đòi hỏi phải mở rộng can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ tư pháp. Mặc dù không
thừa nhận sự phân chia hệ thống pháp luật thành “công pháp” và “tư pháp”, nhưng khoa
học pháp lý của các nước xã hội chủ nghĩa đã phân chia hệ thống pháp luật thành các
ngành luật, trên cơ sở dựa vào tính chất của các quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật
pháp trong tố tụng hình sự. Ngày 26/11/2003, Quốc hội nước Công hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ tư đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, có hiệu
lực từ ngày 01/7/2004. Một trong những điểm mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
là chính thức ghi nhận nguyên tắc "Thực hiện chế độ hai cấp xét xử" tại Điều 20. Quy
định này khẳng định Toà án Việt Nam thực hiện chế độ hai cấp xét xử, phù hợp với thông
lệ chung trên thế giới và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam
đã tham gia ký kết.
Căn cứ để Toà án cấp phúc thẩm có thể mở phiên toà xét xử lại vụ án hoặc quyết
định sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị. Nội dung kháng cáo và
quyết định kháng nghị là cơ sở để Toà án cấp phúc thẩm xác định phạm vi xét xử phúc
thẩm.
Thủ tục phúc thẩm là thủ tục xét xử lại những bản án, quyết định chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (khác thủ tục giám đốc thẩm chỉ là xét lại bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Theo thủ tục phúc thẩm thì Toà án phải mở phiên
toà xét xử lại vụ án với sự tham gia đầy đủ thành phần như Kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Khi đã có kháng cáo, kháng nghị theo
đúng trình tự luật định thì vụ án buộc phải đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đảm bảo
chế độ hai cấp xét xử. Do đó, về tính chất xét xử phúc thẩm là việc Toà án xét xử lại bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Việc xác định xét xử phúc thẩm là xét
xử cấp thư hai là một trong những nội dung rất quan trọng của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003. Vì đây là căn cứ pháp lý để nhà làm luật quy định những vấn đề tiếp theo của
thủ tục này như: Trình tự, thủ tục, thẩm quyền xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, nguyên tắc
hai cấp xét xử không có nghĩa là mọi vụ án hình sự đều phải thông qua xét xử sơ thẩm và
xét xử phúc thẩm mà xét xử phúc thẩm chỉ được tiến hành khi có kháng cáo, kháng nghị
bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Bản án và quyết định sơ thẩm có hiệu lực
pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không bị kháng cáo hay kháng nghị.
Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng
nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác
hạn, thủ tục kháng nghị phúc thẩm. Quy chế số 960 ngày 17/9/2007 về thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng
dẫn cụ thể về cách thức thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm. Đây là những căn cứ
pháp lý cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm của mình. Để
đảm bảo cho việc quyết định truy tố của Viện kiểm sát cũng như bảo đảm cho việc xét xử
được đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm, Viện kiểm sát
có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại. Đây vừa là quyền,
vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân. Có thể nói, kháng nghị phúc thẩm là một
trong những biểu hiện rõ nhất quyền năng công tố của Viện kiểm sát. Khi có kháng nghị
phúc thẩm, Toà án cấp trên phải mở phiên toà xét xử phúc thẩm, thông qua đó khắc phục
những vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp dưới. Mục
đích của kháng nghị phúc thẩm là nhằm khắc phục những vi phạm của bản án, quyết định
sơ thẩm, đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định của Toà án. Kháng
nghị khác kháng cáo ở chỗ người kháng cáo chỉ cần không đồng ý về một phần nào đó
của bản án, quyết định sơ thẩm là có thể thực hiện quyền kháng cáo, Viện kiểm sát chỉ
thực hiện kháng nghị khi phát biện bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
có sai lầm trong đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố trong xét
xử phúc thẩm các vụ án hình sự theo luật định và theo sự phân công, phân cấp của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Để nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền
công tố ở giai đoạn này Kiểm sát viên cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Một là, thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm theo khoản 2, Điều 233 Bộ luật tố tụng
hình sự 2003 quy định Viện kiểm sát cùng cấp với Toà án đã ra bản án, quyết định sơ
thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát cấp đó có quyền kháng nghị
đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Theo Điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng các
cấp là người có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm. Điều 32 Quy chế 960/2007/VKSTC-
V3 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự nêu cụ thể là: Viện
trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có quyền kháng nghị đối với
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ.
- Kết luận của bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách
quan của vụ án.
- Có những vi phạm trong áp dụng Bộ luật hình sự.
- Có những vi phạm về thủ tục trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Sau thời gian thực hiện thấy quyết định nêu trên chưa đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn. Nhiều kháng nghị bị cấp phúc thẩm bác hoặc rút. Do đó Quy chế năm 2007, theo
Điều 33 đã quy định các căn cứ:
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ.
- Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình
tiết khách quan của vụ án.
- Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm
nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.
Tóm lại, cả 3 Quy chế về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự đều đưa ra 4 căn cứ để kháng nghị phúc thẩm. Các căn cứ này về cơ bản giống
nhau, chỉ có điểm khác biệt là 2 Quy chế ban hành sau khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 xác định khi có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự là căn cứ để kháng nghị
phúc thẩm. còn Quy chế trước đó xác định là vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng Bộ
luật hình sự.
Hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cần thiết cho việc nâng cao hiệu
quả thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát các cấp trong đó có thực hành quyền
công tố trong xét xử phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tuy nhiên, quy định
nêu trên mới là của ngành Kiểm sát; nhiều trường hợp chưa có sự thống nhất giữa Toà án
và Viện kiểm sát trong nhận xét, đánh giá vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm; dẫn
đến có trường hợp Viện kiểm sát cho rằng có vi phạm nhưng Toà án lại cho rằng không
có vi phạm hay vi phạm không đáng kể. Do đó cần có quy định thống nhất trong Bộ luật
tố tụng hình sự.
Ba là, thời hạn kháng nghị phúc thẩm: Điều 234 và 239 Bộ luật tố tụng hình sự
quyền xét xét hoàn thiện bản kháng nghị của mình.
Chú ý, nếu bổ sung, thay đổi kháng nghị cần phân biệt các trường hợp: Nếu thay
đổi một phần hay toàn bộ kháng nghị được thực hiện trong thời gian mà thời hạn kháng
nghị vẫn còn thì có thể bổ sung, thay đổi theo cả hai hướng: Có lợi hoặc không có lợi cho
bị cáo. Kể cả trường hợp đã rút một phần hay toàn bộ kháng nghị, sau đó lại kháng nghị
lại thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm. Trong trường hợp đã hết tời hạn kháng
nghị phúc thẩm thì Viện kiểm sát chỉ được bổ sung, thay đổi kháng nghị theo hướng
không làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Vì nếu thay đổi theo hướng không có lợi cho bị
cáo thì thời hạn kháng nghị đã hết thì bị cáo không thể hoặc khó khăn cho việc thực hiện
quyền bào chữa của mình, đồng thời quy định này cũng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của
bị cáo.
Năm là, sự phối hợp giữa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện
kiểm sát cấp dưới trong bảo vệ, rút kháng nghị.
Theo thống kê một số năm cho thấy số bị cáo bị kháng nghị phúc thẩm, khi xét xử
Viện kiểm sát nhân dân cấp trên rút kháng nghị khoảng 20%; Toà án cấp phúc thẩm bác
kháng nghị khoảng 30%. Tổng cộng kháng nghị phúc thẩm bị rút và bác kháng nghị
khoảng 50%. Đây là hạn chế của công tác kháng nghị phúc thẩm. Chính là hạn chế của
việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân. Hạn chế này có nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân về sự phối hợp của Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm
sát cấp dưới trong công tác kháng nghị phúc thẩm [35].
Khi có kháng nghị của Viện kiểm sát tức là có sự khác biệt giữa đánh giá và nhận
định hoặc áp dụng pháp luật của Hội đồng xét xử sơ thẩm với Viện kiểm sát về toàn bộ
hay một phần cáo trạng của Viện kiểm sát. Vấn đề đặt ra trong kháng nghị và xét xử phúc
thẩm hình sự là Viện kiểm sát cấp dưới kháng nghị (thông thường) nhưng bảo vệ kháng
nghị lại là Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Do đó, để có được quyết định đúng pháp luật
thì giữa Viện kiểm sát cấp trên và Viện kiểm sát cấp dưới phải có sự phối hợp chặt chẽ.
Sau khi kháng nghị, Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo Viện kiểm sát cấp trên. Cụ thể
đối với các kháng nghị mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, sau khi kháng nghị Viện kiểm sát tỉnh phải báo cáo lên Viện kiểm sát nhân dân tối
nguyên tắc tranh tụng; theo đó, Viện kiểm sát với tư cách là một bên đại diện cho Nhà
nước thực hiện chức năng buộc tội. Đồng thời thực hiện việc gỡ tội và làm rõ các chứng
cứ, tình tiết của vụ án có lợi cho bị cáo và bảo đảm quyền, nghĩa vụ cho những người
tham gia tố tụng phúc thẩm.
Thực hiện quyền công tố trong xét xử phúc thẩm hình sự mà mục đích chung là
đảm bảo cho việc xét xử phúc thẩm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không làm oan
người vô tội. Theo quy định của Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và việc triển
khai thực hiện Điều 170 này đến tháng 6/2009 tất cả các Toà án cấp huyện, Toà án Quân
sự cấp tỉnh, quân đoàn… đã được tăng thẩm quyền xét xử với mức hình phạt bị truy tố tới
15 năm tù. Với thực tế này, án sơ thẩm của cấp tỉnh xét xử sẽ giảm đáng kể. Do đó án
phúc thẩm mà Toà án nhân dân tối cao phải xét xử do có kháng cáo kháng nghị cũng sẽ
giảm nhiều. Vấn đề đặt ra cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao khi tham gia
xét xử phúc thẩm là phải nâng cao hơn nữa chất lượng thực hành quyền công tố; tăng
cường cả chất lượng và số lượng các kháng nghị phúc thẩm, khi tham gia phiên toà phải
đảm bảo thực sự chất lượng. Nhất là việc bảo đảm cho kháng nghị của Viện kiểm sát
phải được xem xét, kiểm tra, tổ chức, giải quyết tại phiên toà có hiệu quả nhất.
c. Những vấn đề cần hoàn thiện trong các chế định của thủ tục xét xử phúc thẩm:
- Về quyền kháng cáo kháng nghị:
+ Kháng cáo:
Quyền kháng cáo quy định cho nhiều người tham gia tố tụng khác nhau, đồng thời
phạm vi kháng cáo của những người có quyền kháng cáo cũng được quy định khác nhau,
tuỳ thuộc vào vai trò, tư cách tham gia tố tụng của họ và sự liên quan của bản án, quyết
định sơ thẩm đối với quyền lợi ích hợp pháp của những người này.
Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì: bị cáo , người bị
hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo về tất cả những vấn đề trong bản
án sơ thẩm như: tội danh, hình phạt (bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung),
các biện pháp tư pháp; mức bồi thường thiệt hại, án phí, các quyết định về xử lý tài sản,
vật chứng v. v…đối với quyết định sơ thẩm: bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp
pháp của họ chỉ được kháng cáo hai loại quyết định là quyết định đình chỉ hoặc tạm đình
trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa; việc xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc
không đầy đủ; kết luận của bản án, quyết định của cấp sơ thẩm không phù hợp với các
tình tiết khách quan của vụ án.
+ Về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm:
Để tăng cường chất lượng kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân và
phù hợp với chủ trương cải cách tổ chức, bộ máy của các cơ quan tư pháp theo tinh thần
cải cách tư pháp. Việc sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự cần quy định Viện kiểm sát cấp
huyện, quận (hay khu vực) có quyền kháng nghị phúc thẩm – Viện kiểm sát ngang cấp
với Toà phúc thẩm khi Toà phúc thẩm xét xử lại các vụ án sơ thẩm có quyền kháng nghị
phúc thẩm các vụ án này. Viện kiểm sát cấp trên của cấp Toà xét xử sơ thẩm (có thể là
Toà phúc thẩm hay Toà thượng thẩm) có quyền kháng nghị phúc thẩm bản án sơ thẩm
của Toà án cấp khu vực, quận, huyện hay Toà phúc thẩm.