ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LƯƠNG THÚY HÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
TRONG CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở NƯỚC TA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Quốc Toản
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU
1
1.3.2.
Một số quốc gia theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa
33
1.3.3.
Một số quốc gia khu vực châu Á- Thái Bình Dương
36
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
44
2.1.
Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành
44
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
2.1.1.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi)
44
2.1.2.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
45
2.1.3.
Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
49
2.1.4.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
49
2.1.5.
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004
84
3.1.
Những quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
84
3.2.
Những phương hướng nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp
89
3.2.1.
Đổi mới và nâng cao chất lượng của bộ máy tổ chức cán bộ
và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
89
3.2.2.
Quán triệt và nắm vững các đường lối chính sách và yêu cầu
đổi mới trong thực hành quyền công tố, nâng cao ý thức
chính trị, phẩm chất đạo đức và trình độ, năng lực chuyên
môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên cấp huyện
92
3.2.3.
Nâng cao trách nhiệm và năng lực thực hành quyền công tố
của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
94
3.2.4.
Đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, phân định
trách nhiệm trong công tác thực hành quyền công tố
98
3.2.5.
Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng
118
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống các cơ quan cấu thành bộ máy nhà nước, Viện kiểm
sát nhân dân (VKSND) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật
tự pháp luật, bảo vệ chế độ. Xác định được tầm quan trọng của hệ thống cơ
quan này, thời gian qua, cùng với việc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã
chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong
đó có VKSND. Đây là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng được thể
hiện trong nhiều văn kiện: Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 Về một số công
hoạt động điều tra, kiểm sát hoạt động xét xử…Đây là một chức năng mà
VKSND đã đảm đương từ nhiều năm, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều
vướng mắc, chưa đạt được sự thống nhất cao trên cả phương diện lý luận và
thực tiễn. Đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả việc thực hiện chức năng của VKSND. Do đó, nghiên cứu làm sáng
tỏ các vấn đề trên không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực
tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác tư pháp nói chung, công tác
kiểm sát nói riêng, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó, đáp ứng
với yêu cầu cải cách tư pháp.
Để góp phần vào việc cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động
của VKSND, đồng thời làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn
thông qua hoạt động của VKSND ở cấp huyện, đề xuất một số giải pháp để
nâng cao chất lượng của hoạt động này, tác giả chọn đề tài "Nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
trong cải cách tư pháp ở nước ta" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là các
chức năng hiến định của VKSND. Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ đặt
ra cho VKSND, pháp luật đã quy định cụ thể thẩm quyền của VKSND các
cấp trong từng giai đoạn để thực hiện chức năng hiến định này. Các quy định
3
về thẩm quyền của VKSND các cấp không nằm trong một bộ luật cụ thể mà
được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống pháp luật, nhằm mục đích tạo điều
kiện cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ ở từng mối quan hệ pháp
luật trong từng giai đoạn tố tụng khác nhau. Từ trước đến nay, đã có nhiều bài
viết của nhiều tác giả với các ý kiến và quan điểm khác nhau về vấn đề này đã
được công bố. Đáng chú ý là các công trình sau:
- "Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
giai đoạn điều tra", của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, 2005.
đề cần thiết và cấp bách trong quá trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu và góp phần làm sáng tỏ hơn một số
vấn đề lý luận chức năng của VKSND, thực trạng hoạt động thực hành quyền
công tố ở VKSND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó,
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công tác này theo yêu
cầu của cải cách tư pháp.
3.2. Nhiệm vụ
Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền công tố,
thực hành quyền công tố, hoạt động tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp
của VKSND, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. Những quy định của pháp luật thực định về thực hành quyền
công tố, thực trạng áp dụng những quy định đó trong hoạt động thực hành
quyền công tố ở VKSND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội trong
những năm gần đây. Trên cơ sở đó, đánh giá chất lượng của công tác này,
những kết quả đã đạt được, những vấn đề thiếu sót, tồn tại và làm rõ nguyên
nhân của chúng, đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền công tố,
chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực
tiễn hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của
VKSND cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến 2010.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cộng
sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước nói chung, về cải cách tư pháp
nói riêng, chính sách pháp luật Đảng và Nhà nước ta trong tố tụng hình sự,
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và
Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì VKSND thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp. Đây là chức năng hiến định của VKSND trong giai đoạn
hiện nay và cũng là một nhiệm vụ mà VKSND vốn đảm nhiệm đã từ nhiều năm,
ngay từ khi tổ chức tiền thân của nó là Viện công tố ra đời. Mặc dù vậy, cho đến
nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong khoa học kiểm sát nói riêng và ngay
cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao
về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi
của thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng như mối
quan hệ giữa chúng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nhận thức mà còn tác
động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của các chủ thể trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung, cơ quan VKSND
nói riêng. Để góp phần từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ
trong nhận thức về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng
này: Khái niệm thế nào là quyền công tố, thực hành quyền công tố, thế nào là
kiểm sát các hoạt động tư pháp, đối tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan
hệ của chúng.
1.1.1. Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
1.1.1.1. Quyền công tố
a) Khái niệm quyền công tố
8
Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với
người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội
loài người. Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế
định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự ở đa số
các nước văn minh trên thế giới. Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ quyền
công tố được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến
chức năng, nhiệm vụ của VKSND (tại cụm từ "thực hành quyền công tố"). Từ
lập của hai chức năng này về cả nội dung lẫn phạm vi áp dụng và vì vậy
không thể đồng nhất chúng.
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước
đưa các vụ việc vi phạm pháp luật nói chung ra trước Toà án để xét xử nhằm
bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật. Ở Việt Nam, quyền này
được giao cho VKSND. Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến
trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của Trường Cao
đẳng Kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản
hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát.
Theo quan điểm này thì đầu tiên quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự,
về sau nó được mở rộng sang các lĩnh vực tư pháp khác và cho đến nay thì
quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS) mà còn có
cả trong các lĩnh vực tố tụng dân sự và các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác.
Theo tác giả, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và
phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với những quyền
năng khác của VKSND trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải
quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…).
Quan điểm thứ ba: Là quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ tồn tại
trong lĩnh vực hình sự, là quyền của Nhà nước nhân danh công quyền truy tố
kẻ phạm tội ra trước Toà án để xét xử và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà
hình sự sơ thẩm (duy trì quyền công tố). Ở Việt Nam, quyền này được Nhà
10
nước giao cho VKSND. Theo quan điểm này thì chỉ có duy nhất một chủ thể
có quyền công tố - đó là VKSND, việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra ở
một lĩnh vực duy nhất là TTHS và cũng chỉ có ở một giai đoạn duy nhất của
TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Theo tác giả, quan điểm này trái ngược với quan điểm thứ hai, đã quá
thu hẹp không chỉ khái niệm, nội dung mà còn cả phạm vi của quyền công tố.
Không những vậy, còn không phản ánh được bản chất của quyền công tố và
quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm
vi của quyền công tố, cho rằng quyền công tố chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của quyền công tố…
Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên
với khái niệm quyền công tố bởi các lý do sau:
Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này phù hợp với quan điểm
truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về quyền công tố:
"Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với
người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại
trật tự chung của toàn xã hội".
Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật
của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố, cụ thể:
- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng
định "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố…".
- Khi nói về vai trò, nhiệm vụ của VKSND, đồng chí Trường Chinh đã
khẳng định: Không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát
để sử dụng quyền công tố, bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc VKSND phải trông nom,
đảm bảo tốt.
12
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng nêu rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức
năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp"
[10].
- Tại báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội (số 729
ngày 14/3/2002) về dự án Luật tổ chức VKSND khẳng định: "Hoạt động công
tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ án đến
truy tố bị can và tranh tụng tại phiên toà" [47].
- Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi bổ sung - Điều 137) và các văn bản pháp
pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, của những người thực hành tố
tụng và người tham gia tố tụng.
- Với quan điểm "quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các
vụ việc vi phạm pháp luật thống trị ra trước Toà án để xét xử nhằm bảo vệ lợi
ích Nhà nước, bảo vệ trât tự pháp luật" thì đối tượng của quyền công tố là tất cả
các hành vi vi phạm pháp luật. Tức là đối tượng của quyền công tố rất rộng và
không cụ thể bởi lẽ các hành vi vi phạm pháp luật thì rất đa dạng, phong phú và
không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn có cả trong lĩnh vực tố tụng tư pháp
khác.
Theo tác giả, vì chức năng duy nhất của quyền công tố là chức năng
buộc tội nhân danh Nhà nước, và vì chỉ có lĩnh vực TTHS là lĩnh vực duy nhất
liên quan đến việc truy tố và buộc tội đối với người phạm tội, các lĩnh vực tư
pháp khác là các lĩnh vực chỉ liên quan đến các vi phạm, tranh chấp khác cho
nên quyền công tố chỉ có duy nhất trong lĩnh vực TTHS, không thể có trong các
lĩnh vực tư pháp khác. Với quan điểm tán đồng với quan điểm thứ năm như đã
nêu trên, tác giả cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người
phạm tội.
* Nội dung của quyền công tố
14
Về nội dung của quyền công tố, cũng còn tồn tại những quan điểm rất
khác nhau song xuất phát từ quan điểm về bản chất của quyền công tố là sự buộc
tội nhân danh Nhà nước, đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và
người phạm tội, tác giả thống nhất với quan điểm nội dung của quyền công tố
là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người đã thực hiện tội phạm.
* Phạm vi của quyền công tố
Do hiện đang tồn tại những quan điểm khác nhau về quyền công tố
nên cũng có các cách lý giải khác nhau về phạm vi của quyền công tố (cả
phạm vi về không gian lẫn phạm vi về thời gian).
Về phạm vi không gian: Phần lớn các quan điểm cho rằng quyền công
rõ đó là các nội dung thực hành quyền công tố (Điều 112 BLTTHS). Và nếu
quan niệm như vậy, cũng sẽ không lý giải được những hoạt động của VKSND
các cấp sau phiên toà sơ thẩm: VKSND kháng nghị bản án hình sự, Kiểm sát
viên phát biểu quan điểm của VKSND tại các phiên toà phúc thẩm, giám đốc
thẩm và tái thẩm…là hoạt động gì. Trong khi đó, các hoạt động này cũng
chính là để tiếp tục sự buộc tội nhân danh Nhà nước, để truy cứu trách nhiệm
hình sự đến cùng đối với người phạm tội - chính là nội dung của thực hành
quyền công tố.
- Quan điểm thứ hai: Là quan điểm cho rằng phạm vi của quyền công tố
bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này tuy có mở rộng hơn phạm
vi của quyền công tố, theo đó thì quyền công tố có cả trong giai đoạn điều tra
nhưng lại giới hạn thời điểm kết thúc của quyền công tố là chỉ đến khi bản án
sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Cũng như quan điểm thứ hai, quan điểm này
vẫn bộc lộ những hạn chế, chưa đầy đủ và thiếu tính thuyết phục bởi không
phù hợp với thực tiễn, không lý giải được vai trò của VKS khi thực hiện chức
16
năng thực hành quyền công tố trong các phiên toà khác sau phiên toà sơ thẩm
(trong phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm).
- Quan điểm thứ ba: Phạm vi của quyền công tố là từ khi khởi tố vụ
án đến khi người phạm tội chấp hành xong bản án. Theo quan điểm này thì
quyền công tố có trong tất cả các giai đoạn của TTHS từ giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự, tức là quyền công tố có cả sau khi mà
bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm này đã mở rộng hơn nữa phạm vi của quyền công tố nhưng
cũng lại chưa đầy đủ và cũng chưa có sức thuyết phục. Bởi vì, bản chất của
quyền công tố là sự buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội.
Cho nên, cứ ở đâu và bất cứ khi nào có tội phạm xảy ra, thì ở đó và thời điểm
ấy, cũng đồng thời xuất hiện đòi hỏi đối với các cơ quan chức năng trong việc
chung, trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng, mà còn giúp cho
nhận thức thống nhất và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn cải cách tư pháp.
Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội; quyền công
tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS; phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội
phạm xảy ra, tiếp diễn suốt từ khởi tố, điều tra đến truy tố bị can ra Toà, tranh
tụng tại phiên toà và kết thúc bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (hoặc
quyết định của Toà án - trong trường hợp vụ án bị đình chỉ). Để thực hiện
được quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền
năng pháp lý khác nhau để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng
trong từng giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự (hay nói cách khác đó là
các phương pháp khác nhau để tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong
những giai đoạn tố tụng khác nhau) - đó là thực hành quyền công tố. Ở Việt
Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn thì từ
18
trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất VKS. Vậy, chủ thể thực
hành quyền công tố ở Việt Nam là VKSND.
Như vậy, có thể đi đến khái niệm sau: Thực hành quyền công tố là
việc Nhà nước tổ chức và giao cho cơ quan đại diện của mình (VKS) các
quyền năng pháp lý để thực hiện trong tất cả giai đoạn của TTHS từ điều tra,
truy tố đến xét xử nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi
phạm tội và áp dụng đối với họ các chế tài hình sự cần thiết.
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của hoạt động thực hành quyền công tố
Theo các quy định của BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002
thì "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trong tất cả các giai
đoạn điều tra, truy tố và xét xử bằng các biện pháp theo quy định của pháp
luật". Cụ thể:
Trong giai đoạn điều tra:
thay thế cho Cơ quan điều tra được bởi họ có biên chế là đội ngũ các Điều tra
viên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về điều tra và khám phá tội phạm.
Nhưng bởi việc đưa một con người vào vòng tố tụng và xử lý họ về hình sự là
vấn đề không hề đơn giản, động chạm đến rất nhiều quyền cơ bản của công
dân được pháp luật bảo hộ, cần phải đảm bảo tính thận trọng và chính xác.
Cho nên, cần phải có sự chế ước giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong
TTHS nhằm đảm bảo tất cả mọi hành vi phạm tội đã được phát hiện phải
được khởi tố, xử lý kịp thời và nghiêm minh nhưng cũng cần phải có căn cứ
và đúng pháp luật. Vì vậy, pháp luật quy định giao cho một cơ quan nhà nước
trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ liên quan
đến việc chứng minh hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội phải
được thu thập đầy đủ, toàn diện, khách quan và hợp pháp - Cơ quan đó là
VKS. VKS là cơ quan duy nhất có quyền can thiệp trực tiếp vào quá trình
điều tra, đề ra yêu cầu điều tra để Cơ quan điều tra tiến hành điều tra. Cơ quan
điều tra mà cụ thể là các Điều tra viên có trách nhiệm phải thực hiện tất cả các