NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LAn - Pdf 37

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP
CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRI
Tên đề án:

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ CỦA KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

HÀ NỘI - 2016


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong đề án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và
được trích dẫn đúng quy định. Đề án này phù hợp
với vị trí, chức vụ, đơn vị công tác của tôi và chưa
được triển khai thực hiện trong thực tiễn.

Tác giả

Tạ Hữu Huy


ii


28
28
29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

30


iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

:

Bộ luật Hình sự

BLTTHS

:

Bộ luật Tố tụng hình sự

KSND

:

Kiểm sát nhân dân

cơ quan duy nhất trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố. Từ năm 2002 đến nay, chức
năng của Viện kiểm sát nhân dân đó là: “thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp”. Chức năng này tiếp tục được ghi nhận tại Điều 107 Hiến
pháp năm 2013.
Từ khi ra đời đến nay, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân đã phát huy
được vị trí, vai trò và thực hiện tốt chức năng của mình, góp phần vào công
cuộc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích bảo vệ và xây
dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, duy trì và ổn định tình
hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hội nhập khu vực và quốc tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội theo cơ chế thị
trường ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua, kéo theo đó là tình hình tội phạm
gia tăng ở các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đứng trước những đòi hỏi và yêu
cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, việc
nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đó
có Viện kiểm sát nhân dân là một trong những nội dung quan trọng được thể
hiện ở nhiều Nghị quyết của Đảng trong thời gian qua, cụ thể: Chỉ thị số 53CT ngày 21/3/2000; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/32014 của
Bộ Chính trị. Với mục tiêu không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô
tội, Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp trong thời gian tới đã nhấn mạnh:


2
Nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo
đảm tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham
gia tố tụng khác…việc phán quyết của Hội đồng xét xử phải căn cứ
chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy
đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào

tụng tại phiên tòa là căn cứ, là cơ sở để kết tội bị cáo. Do vậy, việc thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên là rất
quan trọng, đây là khâu quyết định của hoạt động tố tụng để Kiểm sát viên đề
nghị Hội đồng xét xử ban hành bản án, quyết định đúng pháp luật. Từ những
lý do nêu trên, học viên chọn và thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của kiểm
sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm đề án
tốt nghiệp là vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN

Trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn
của việc bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời
nghiên cứu thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện
Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ năm 2011 đến hết năm 2015, qua đó đề ra giải
pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La giai đoạn hiện nay.
1.3. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN

Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề án thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích, làm rõ các khái niệm, những yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh
giá chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án
hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
- Đánh giá thực trạng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện

Quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của Nhà
nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật. Quyền công
tố tồn tại trong tất cả các kiểu Nhà nước, từ Nhà nước chủ nô đến các kiểu
Nhà nước hiện đại ngày nay. Nó là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản
chất giai cấp của từng kiểu Nhà nước, là một bộ phận không thể tách rời khỏi
công quyền. Nhà nước nào cũng ban hành pháp luật để quản lý xã hội, điều
chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị
sử dụng bộ máy Nhà nước để chuyên chính đối với giai cấp đối kháng trong
xã hội, nhằm củng cố quyền lực chính trị, lợi ích kinh tế, duy trì và ổn định
trật tự xã hội. Những hành vi và việc làm trái với ý chí của giai cấp thống trị,
gây thiệt hại đến lợi ích của giai cấp thống trị, xâm phạm đến trật tự xã hội
đều bị coi là hành vi vi phạm và bị pháp luật trừng trị. Quyền trừng trị đó nằm
trong tay Nhà nước mà không một tổ chức hay cá nhân nào thay thế được.
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1994
tại các trang 200, 204, 973 thì: “Công” có nghĩa là thuộc về Nhà nước chung
cho mọi người, khác với “tư”. Còn “tố” nghĩa là công khai cho mọi người biết
việc làm sai trái, phạm pháp của người khác. “Công tố” là điều tra, truy tố,
buộc tội người phạm tội và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Đây là một khái
niệm rộng, bao gồm bốn nội dung: Điều tra, truy tố, buộc tội người phạm tội
và phát biểu trước Tòa án.
Theo Từ điển luật học ghi: “Công tố là quyền của Nhà nước truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [42, tr.188].
Để hiểu cũng như đưa ra được khái niệm đúng và đầy đủ về quyền công
tố, chúng ta phải đặt nó trong một chỉnh thể và xem xét nó trong mối liên hệ
với tính đặc thù của một ngành luật, một lĩnh vực pháp luật. Đối với ngành
luật tố tụng hình sự, luôn luôn tồn tại ba chức năng cơ bản, cụ thể: Chức năng
buộc tội (kết quả điều tra xác minh hành vi phạm tội), Chức năng bào chữa


6

đối với bị cáo. Bản án của Tòa án chính là sự chấp nhận hoặc không chấp
nhận buộc tội của Viện kiểm sát đối với người phạm tội.


7
Trên cơ sở những nhận định và đánh giá nêu trên, có thể đưa ra khái
niệm thực hành quyền công tố: Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm
sát nhân dân sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền
công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm
tội trong các giai đoạn của quá trình tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử) hình
sự.
* Khái niệm chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
Khái niệm chất lượng là phạm trù rộng và trừu tượng. Về mặt lý luận
cũng như thực tiễn cho thấy, cơ sở của chất lượng chính là quyền và nghĩa vụ
pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật. Nếu chủ thể không có quyền và
nghĩa vụ pháp lý theo quy định thì sẽ không phát sinh việc thực hiện nghĩa vụ
pháp lý. Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng việc xác định quyền và nghĩa vụ
của chủ thể chỉ mang tính chất tương đối (định tính), bởi lẽ: có những trường
hợp cùng một quy phạm nếu xét trong mối quan hệ pháp luật này thì quy
phạm pháp luật đó là quyền được thực hiện, nhưng nếu xét trong mối quan hệ
pháp luật khác thì quy phạm pháp luật đó là nghĩa vụ chủ thể phải thực hiện.
Có thể khẳng định: Quyền của chủ thể là cách xử sự mà pháp luật cho
phép chủ thể thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật. Nói theo cách
khác, thì quyền của chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất
định, được pháp luật cho phép hoặc pháp luật không cấm.
Nghĩa vụ của chủ thể là cách xử sự mà các chủ thể bắt buộc phải thực
hiện nhằm đáp ứng yêu cầu của các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ pháp lý tự nó không phải là hành vi mà chỉ là sự cần thiết phải xử sự
của các chủ thể.

biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm;
tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng
khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.
Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án của VKSND tại phiên
tòa giám đốc thẩm, tái thẩm [26].
Điều 19 Luật tổ chức VKSND quy định:
Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện
KSND có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân.


9
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của những
người tham gia tố tụng.
Kiểm sát bản án và quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp hoặc cấp dưới chuyển hồ sơ
những vụ án hình sự để xem xét quyết định việc kháng nghị [26].
Trên cơ sở những phân tích, nhận định và đánh giá nêu trên có thể đưa ra
khái niệm chất lượng của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự như sau: Chất lượng của Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là việc thực
hiện đầy đủ và tích cực nhiệm vụ quyền hạn của KSV được pháp luật quy
định trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự đảm bảo cho việc truy tố xét xử kịp thời, nghiêm minh, theo
đúng quy định của pháp luật.
2.1.2. Căn cứ chính trị, pháp lý
- Các văn bản của Trung ương
Nghị quyết số 08-NQ/TW "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới”

huyện Vân Hồ, huyện Mộc Châu có diện tích 1.081,66 km² và dân số 104.730
người.
Mật độ trung bình 79 người/km2, với nhiều dân tộc khác nhau trong đó
dân tộc Kinh chiếm 29,4%, Thái 33,2%, Mường 15,8%, Mông 14,6%, Dao
6,2%, Sinh Mun 0,4%, Khơ Mú 0,3%…Dân cư phân bố tại 2 thị trấn và 27
xã. Trong đó dân cư chủ yếu tập trung ở hai thị trấn, các xã còn lại dân số ít,
chủ yếu là người dân tộc thiểu số.
Trước năm 2013, Mộc Châu có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong
đó chiếm đa số là người thái: 33%, người Mông 18%, người kinh 15%, ngoài
ra còn có người Khơ Mú, Dao, Tày...Người Thái có nhiều món ăn đặc sắc,
phong phú, hàng năm các lễ hội Hoa Ban, Hết CHá, Cầu mưa được tổ chức
vào mùa xuân với mong muốn mùa màng bội thu...Vào ngày 30/8-2/9 hàng
năm huyện tổ chức ngày hội văn hóa cho người H'Mong từ các tỉnh miền núi
phía bắc đổ về thị trấn Mộc Châu. Ngày hội là dịp cho các đôi trai gái người
H'Mong có cơ hội tìm hiểu về nhau.
- Đặc điểm về kinh tế, văn hoá, xã hội
Trong toàn tỉnh Sơn La, vùng Mộc Châu có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao nhất. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2013 đạt 19,74%/năm,
khá cao so với mặt bằng của tỉnh Sơn La. Vùng Mộc Châu có sự phát triển
khá mạnh về sản xuất chế biến sữa, chè, các sản phẩm nông nghiệp, lâm
nghiệp khác và hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch tăng trưởng nhanh.


12
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng
ngành Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ, giảm tỷ trọng
ngành Nông lâm nghiệp.
Tổng sản phẩm bình quân đầu người đã có những bước tăng trưởng đáng
kể, năm 2005 mới đạt 9,12 triệu đồng, đến năm 2010 đạt 16,44 triệu đồng và
đến năm 2013 đạt 19,91 triệu đồng.

Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm hình sự, lực lượng cảnh sát điều
tra tội phạm về TTXH Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành rà
soát các đối tượng, nắm chắc tình hình cơ sở và xác định những địa bàn phức
tạp liên quan đến hoạt động của tội phạm, nhất là tội phạm trộm cắp, mua bán
người; tăng cường các biện pháp nghiệm vụ, tuần tra, kiểm soát trên các tuyến
đường, tụ điểm phức tạp liên quan đến mất ANTT; Chủ động phòng ngừa và
đấu tranh với đối tượng tội phạm nguy hiểm, góp phần kiềm chế sự gia tăng
các loại tội phạm trên địa bàn. Tính đến tháng 10 năm 2014, Công an huyện
Mộc Châu đã điều tra khám phá làm rõ 86 vụ, 155 đối tượng phạm tội về
TTXH, trong đó có những vụ việc phức tạp, xảy ra trong thời gian dài, đã
mang lại niềm tin trong quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, Công an huyện
Mộc Châu còn phối hợp với các ngành chức năng tổ chức những buổi tuyên
truyền, ký cam kết, vận động quần chúng nhân dân chấp hành nghiêm những
chính sách của pháp luật về đảm bảo ANTT trên địa bàn. Để công tác đấu
tranh với tội phạm trên địa bàn huyện Mộc Châu tiếp tục phát huy hiệu quả,
bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của lực lượng công an; Các cơ quan, đơn vị,
doanh nghiệp và người dân trên địa bàn huyện cần nâng cao tinh thần cảnh
giác với phương thức, thủ đoạn của tội phạm, có phương án tự bảo vệ tài sản;
Đồng thời tích cực tham gia tố giác tội phạm và tăng cường công tác phối hợp
với lực lượng Công an trong công tác phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội
phạm góp phần đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.
2.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN

2.2.1. Thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân
dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
2.2.1.1. Những kết quả đạt được
Theo báo cáo tổng kết công tác của Viện KSND huyện Mộc Châu, số vụ
án đã xét xử sơ thẩm án hình sự trong thời gian 05 năm (2011- 2015) là: 1065
vụ/1695 bị can, trong đó các cơ quan tiến hành tố tụng đã xác định được 26


270
212
150
171
1.065

Ghi chú

Giới tính

406

Nam
368

Nữ
38

429
340
286
234
1.695

387
309
251
218
1.533

429
306
64
59
2013
212
340
224
66
50
2014
150
286
198
49
39
2015
171
234
160
34
40
Tổng số
1.065
1.695
1.153
281
261
Nguồn: Báo cáo, thống kê nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La các năm 2011 đến 2015.

tội, chứng cứ gỡ tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,…
điều khoản áp dụng và mức hình phạt tương ứng với hành vi và tích chất mức
độ và người phạm tội đã gây ra. Cũng chính vì việc nghiên cứu kỹ hồ sơ như
vậy, nên đã phát hiện những sai phạm của Cơ quan điều tra, khắc phục được
tình trạng Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Thứ hai, về xét hỏi tại phiên tòa
Xét hỏi tại phiên tòa là sự kiểm tra lại kết quả điều tra, xuất phát từ địa vị
pháp lý của KSV là người tiến hành tố tụng, là người bảo vệ quyết định truy
tố tại phiên tòa, nên KSV phải hỏi về toàn bộ nội dung vụ án để có cơ sở đề
xuất trong phần luận tội, đề xuất hình phạt cũng như các quyết định khác về
bồi thường dân sự, xử lý vật chứng,… Điều đó có nghĩa là KSV phải đảm bảo
tất cả các chứng cứ phải được kiểm tra công khai tại phiên tòa, không bỏ sót


17
một chứng cứ nào. Việc chủ động tham gia xét hỏi của KSV là rất quan trọng
để làm sáng tỏ vụ án. Trước khi tham gia phiên tòa, KSV đã xây dựng đề
cương xét hỏi, nội dung đề cương xét hỏi được chuẩn bị sát với các tình tiết,
chứng cứ của vụ án đã được thu thập trong hồ sơ. Do làm tốt công tác chuẩn
bị đề cương xét hỏi nên các KSV khi giữ quyền công tố tại phiên tòa nắm
vững nội dung vụ án, các chứng cứ và tình tiết có liên quan đến vụ án, cụ thể:
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh
phạm tội,…nắm vững các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự. Tại
phiên tòa, KSV đã chú ý theo dõi, ghi chép việc xét hỏi của Hội đồng xét xử
và việc trả lời của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Tiến hành xét hỏi bổ sung những vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa hỏi hoặc
hỏi chưa kỹ, chưa đầy đủ, hoặc bị cáo và những người tham gia tố tụng tại
phiên tòa còn có mâu thuẫn,…Trên cơ sở đó, đấu tranh với bị cáo nhằm làm
rõ, sáng tỏ nội dung cũng như sự thật của vụ án.
Thứ ba, về luận tội

sẽ chuyển sang phần tranh tụng. KSV phải có trách nhiệm bảo vệ quan điểm
buộc tội của mình. Đây là giai đoạn thể hiện rõ nhất vai trò cũng như khả
năng đối đáp của KSV tại phiên tòa. Nếu như trước đây là khâu yếu của KSV
thường bị Luật sư, những người tham gia tố tụng và dư luận đánh giá còn
chưa làm tốt, còn mang tính áp đặt thì trong những năm gần đây, việc đối đáp
tranh tụng của KSV VKSND huyện Mộc Châu ngày càng được nâng cao về
chất lượng, đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn
cải cách tư pháp. Tại phiên tòa, các KSV đã thể hiện được tính chủ động, sáng
tạo tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm: Xây dựng đề cương đối đáp
tranh tụng, dự kiến các nội dung, vấn đề có thể bị cáo, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng đưa ra ý kiến và đề nghị những quan điểm
không đồng thuận với bản cáo trạng, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo…Tại phiên tòa, KSV đã ghi chép
đầy đủ những câu hỏi và câu trả lời diễn ra tại phiên tòa, để làm căn cứ tranh
tụng đối đáp với Luật sư, người bào chữa, bị cáo phù hợp với nội dung, tình
tiết vụ án, các quy định của pháp luật cũng như diễn biến tại phiên tòa. Việc
phân tích lập luận của KSV tại phiên tòa đã tạo ra sự thuyết phục, đồng tình
của những người tham dự phiên tòa, bảo vệ được quan điểm truy tố theo cáo
trạng và luận tội của VKS, qua đó giúp cho Hội đồng xét xử ban hành bản án
đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã gây ra, một
mặt nhằm răn đe, giáo dục người phạm tội, mặt khác còn mang tính chất


19
phòng ngừa tội phạm. Nhờ thực hiện tốt công tác này, nên trong giai đoạn vừa
qua không có vụ án nào Tòa án tuyên không phạm tội.
2.2.1.2. Một số hạn chế về chất lượng thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của kiểm sát viên viện kiểm sát
nhân dân huyện Mộc Châu
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của KSV Viện KSND

tùy trường hợp cụ thể, chủ yếu xét dưới góc độ nhân thân người phạm tội để
xem xét cũng đã gây khó khăn cho việc thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, cụ thể: Có những bị can trong vụ án đồng
phạm, thời hạn tạm giam kéo dài (gia hạn điều tra nhiều lần) khi xét xử, Tòa
án tuyên án treo, cải tạo không giam giữ, phạt tiền (là hình phạt chính) đã ảnh
hưởng đến bị cáo, gia đình bị cáo và phần nào suy giảm lòng tin của Nhân
dân đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Bốn là, trong quá trình giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn còn một số ít
KSV chưa làm tốt nhiệm vụ của mình, cụ thể: Khi công bố bản cáo trạng đọc
không dứt khoát, rõ ràng mạch lạc, đặc biệt khi đọc đến phần quyết định truy
tố bị can ra xét xử nên không thu hút được sự chú ý của người tham dự phiên
tòa và tính thuyết phục chưa cao; một số bản cáo trạng, khi viết KSV chưa
chú ý đến văn phong pháp lý vẫn sử dụng những từ địa phương; một số bản
luận tội không phân tích được hết tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
bị cáo đã gây ra, chưa đánh giá đúng về nguyên nhân điều kiện phạm tội,
nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
chưa đi sâu phê phán và lên án hành vi phạm tội để qua đó nâng cao công tác
giáo dục, phổ biến tuyên truyền giáo dục qua phiên tòa đến đông đảo quần
chúng Nhân dân trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Năm là, việc tham gia xét hỏi, tranh tụng với Luật sư, người bào chữa và
những người tham gia tố tụng vừa là quyền vừa là trách nhiệm của KSV,
nhưng vẫn còn có KSV chưa chú ý theo dõi diễn biến của phiên tòa nên chưa
chủ động và nhạy bén trong quá trình xét hỏi, tranh tụng để làm rõ hành vi và
sự thật khách quan của vụ án. Đối với những vụ án nghiêm trọng, vụ án có
nhiều bị cáo mà các bị cáo chối tội, đổ tội cho nhau, hứng cứ còn thiếu, quan
điểm của KSV khác với quan điểm của người bào chữa,…thì KSV giữ quyền
công tố chưa làm tốt việc xác định chứng cứ, tính chất, mức độ, hành vi, động
cơ thủ đoạn phạm tội để có đủ căn cứ, cơ sở buộc tội và phản bác những quan
điểm không đúng, trái pháp luật. Khi xét hỏi còn hạn chế là đặt câu hỏi dài
dòng, khó hiểu, nóng nảy khi quan điểm của người bào chữa trái ngược với

công tác.
- Xây dựng cơ sở vật chất, trang bị phương tiện làm việc cho Viện
KSND huyện Mộc Châu nhằm đảm bảo điều kiện làm việc đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status