HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN VN QUí
Chất lượng thực hành quyền công tố
của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
H NI - 2017
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN VN QUí
Chất lượng thực hành quyền công tố
của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: Lí LUN V LCH S NH NC V PHP LUT
Mó s: 62 38 01 01
NGI HNG DN KHOA HC: GS.TS. PHM HNG THI
H NI - 2017
Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải
cách tư pháp
2.2. Tiêu chí đánh giá và các yếu tố bảo đảm chất lượng thực hành quyền
công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
2.3. Yêu cầu của cải cách tư pháp đối với việc bảo đảm chất lượng thực hành
quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
Chương 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM
3.1. Khái quát thực trạng đội ngũ Kiểm sát viên
3.2. Thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại
phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN
TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ
PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Quan điểm bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp
ở Việt Nam hiện nay
4.2. Giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát
viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
7
7
14
KSND
: Kiểm sát nhân dân
THQCT
: Thực hành quyền công tố
VKSND
: Viện Kiểm sát nhân dân
VKSNDTC : Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
XXST
: Xét xử sơ thẩm
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng của Viện kiểm sát
nhân dân (VKSND) đã được hiến định. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “VKSND
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” (Điều 107). Thực hành
quyền công tố trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối
với người phạm tội, do VKSND thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo
trung ương Đảng khóa X đặt ra yêu cầu đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 phải bảo đảm các điều kiện cho VKSND thực hiện
tốt chức năng thực hành quyền công tố. Những quan điểm đó đã được thể chế
hóa trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, thời gian qua, nhìn
chung VKSND đã thực hiện tố chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, góp phần to lớn trong đấu tranh phòng chống
tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn
tại nhiều thiếu sót, hạn chế. Tình trạng oan, sai trong hoạt động xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự của Tòa án vẫn diễn ra. Nhiều vụ án sơ thẩm hình sự Tòa án trả hồ
sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung do truy tố chưa đúng người, đúng tội.
Một số vụ án phán quyết của Tòa án khác với những nội dung thực hành quyền
công tố, hay Viện kiểm sát truy tố bị cáo nhưng Toà án tuyên bị cáo không phạm
tội. Điều đó cho thấy chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại
một số phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự chưa thật sự bảo đảm.
Trên phương diện nghiên cứu, chủ đề chất lượng thực hành quyền công tố
của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự không phải
hoàn toàn mới. Tuy nhiên, những vấn đề lý luận căn bản của chất lượng thực
hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm đều
3
chưa được nhìn nhận một cách toàn diện và giải quyết thấu đáo; do đó, hệ thống
các tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại
phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm chưa được nhận diện thật rõ nét. Thực trạng
hoạt động lập pháp gần đây cho thấy, một số đạo luật liên quan đến tổ chức và
hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra chưa thể hiện đúng tinh
ở Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, tiêu chí đánh giá, những yếu tố
bảo đảm và yêu cầu của cải cách tư pháp.
- Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ kiểm sát viên và rút ra những ưu
điểm, thuận lợi và khó khăn vướng mắc.
- Đánh giá thực trạng chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa
xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp.
- Phân tích và đề xuất các quan điểm và đưa ra những giải pháp bảo đảm
chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo
yêu cầu cải cách tư pháp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng THQCT của kiểm
sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở
Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Không nghiên cứu chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Luận án cũng không đề cập đến hoạt động
thực tiễn của viện kiểm sát quân sự.
- Về không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm trên
phạm vi toàn quốc.
5
- Về thời gian: Những số liệu thống kê làm cơ sở đánh giá thực trạng hoạt
động THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự tác giả sử dụng từ
năm 2010 đến nay.
1) Luận án đã xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm và vai trò chất lượng
thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.
2) Luận án xây dựng được các tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành
quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu
cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.
3) Luận án phân tích, chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân
thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa
xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
4) Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm chất lượng thực
hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo
yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú
thêm lý luận về chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình
sự sơ thẩm.
- Về thực tiễn: Những kết quả của luận án sẽ góp phần nhằm nâng cao
chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình
sự. Đồng thời, luận án là nguồn tư liệu tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4
chương, 10 tiết.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề THQCT nói chung và chất lượng THQCT của Kiểm sát viên tại
phiên tòa xét xử hình sự nói riêng được nhiều nhà khoa học trong giới luật học
quan tâm nghiên cứu từ lâu. Khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cải
của hệ thống tư pháp và các mặt hoạt động của các cơ quan tư pháp phải nằm
trong mối liên hệ có tính hệ thống, phụ thuộc vào nhau, bổ sung cho nhau.
Chỉ khi xác định được như vậy, chúng ta mới đưa ra được giải pháp đúng đắn.
Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định: Hệ thống tư pháp trong tổng thể của nó
cũng như từng bộ phận hợp thành có mối liên hệ với các yếu tố nằm ngoài hệ
thống tư pháp như: các yếu tố kinh tế - xã hội, chính trị, tư tưởng. Từ nhận
thức về mối liên hệ khách quan này, tác giả cho rằng, cải cách tư pháp nhất
thiết phải được nhìn nhận ở tầm chiến lược với các yêu cầu sau: các yếu tố
kinh tế - xã hội, các quá trình và diễn biến trong xã hội có ý nghĩa quyết định
đối với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp; chức năng, nhiệm vụ
và hoạt động của các cơ quan tư pháp phải được xác định trên cơ sở yêu cầu
về khả năng thích ứng với các điều kiện và tình hình mới; các cơ quan tư pháp
phải được đặt trong mối liên hệ với xã hội xuất phát từ đòi hỏi về năng lực
phục vụ các nhu cầu của xã hội; vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp phải
thích ứng với vị trí, vai trò của các thiết chế chính trị và thiết chế nhà nước.
- Nguyễn Trần Bạt, "Cải cách và sự phát triển" [1].
Trong cuốn sách này, tác giả đã xây dựng khái niệm cải cách: "Cải cách
là biện pháp con người chủ động đưa ra các chương trình uốn nắn các hành
động xã hội, nhằm thúc đẩy một nhịp điệu phát triển phù hợp với quy luật
cuộc sống" [1, tr.27]. Các chương trình cải cách có hai nhiệm vụ rõ ràng: Thứ
nhất, là uốn nắn những sai trái trong các chương trình hành động xã hội được
phát hiện bởi trạng thái tiến bộ về nhận thức của xã hội. Thứ hai, là bổ sung
vào các chương trình hành động xã hội những yếu tố mới xuất hiện do đòi hỏi
của sự phát triển tự nhiên hoặc phát triển mới của cuộc sống.
Bên cạnh đó, tác giả cũng phân biệt cải cách với đổi mới: "Đổi mới là
quá trình mang tính chủ động, nằm trong quy luật vận động và phát triển của
sự vật. Khác với đổi mới, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải
9
10
- Lê Văn Cảm, "Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng
Nhà nước pháp quyền" [26].
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến rất nhiều nội
dung, đáng chú ý là tác giả đưa ra năm vai trò của hệ thống tư pháp hình thức
trong Nhà nước pháp quyền đó là:
Góp phần khẳng định trong thực tiễn nguyên tắc phân công quyền
lực; khẳng định trên thực tiễn nguyên tắc tính tối thượng của pháp
luật; khẳng định trên thực tiễn nguyên tắc về sự ngự trị của pháp
luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; góp phần khẳng định
một loạt các tư tưởng pháp lý cao cả và tiến bộ được thừa nhận
chung của nền văn minh nhân loại - công bằng, nhân đạo, dân chủ
và pháp chế; khẳng định thắng lợi huy hoàng của chính nghĩa đối
với tàn bạo, của công lý đối với bất công, của cái thiện đối với cái
ác [26, tr.166].
Bên cạnh đó tác giả cũng nêu ra 5 yếu tố bảo đảm cho hoạt động của hệ
thống tư pháp hình sự đó là:
Hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng chống tội phạm; các
chuyên ngành khoa học pháp lý về đấu tranh chống tội phạm; đội
ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực tư pháp hình sự của các cơ
quan nhà nước; thực tiễn sáng tạo pháp luật về đấu tranh chống tội
phạm; thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu tranh chống tội phạm
[26, tr.168].
Khi bàn về hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự, tác giả đã đưa ra 6 tiêu
chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động tư pháp hình sự đó là: "Hiệu quả hoạt
động điều tra án hình sự; hiệu quả hoạt động THQCT và kiểm sát án hình sự;
hiệu quả hoạt động xét xử; hiệu quả hoạt động thi hành án hình sự; hiệu quả
hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý về tư pháp hình sự và hiệu quả việc