LUẬN VĂN:
Di cư mùa vụ của lao động nữ nông thôn -
Thực trạng và những tác động
nông thôn – đô thị. Mặt khác các nghiên cứu này chủ yếu tập trung quan tâm đến ảnh hưởng
tiêu cực; mặt tích cực, những lợi ích từ di dân mang lại chưa đề cập phân tích một cách cặn
kẽ và thoả đáng.
Thực tế, di dân nông thôn – đô thị, trong đó có di dân tạm thời là nhân tố tích cực
trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, tạo tiền đề cho phát
triển kinh tế hộ gia đình và góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn. Ngoài
lợi ích kinh tế, di dân tạm thời nông thôn – đô thị còn mang về những tri thức mới, kinh
nghiệm mới trong đó có năng lực tư duy, sự năng động, ý thức làm giàu và những yếu tố giá
trị mới, tiến bộ. Để kiểm nghiệm và đánh giá được một cách khách quan những tác động tích
cực trên, cần có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu.
Trong luồng di cư nông thôn – đô thị hiện nay, đã xuất hiện xu hướng nữ hoá trong di
cư do các ngành công nghiệp dệt may, dịch vụ … tuyển lao động nữ là chủ yếu. Đây là một
xu hướng tất yếu do cấu trúc của cơ cấu kinh tế quyết định. Bên cạnh những khía cạnh tích
cực do di cư lao động nữ mang lại như giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn, tăng
thu nhập, phát triển kinh tế gia đình. Mặt khác tình trạng phụ nữ di cư đi làm xa nhà đã gây
ra những ảnh hưởng tiêu cực lâi dài và quan trọng đến gia đình và xã hội. Đó là việc tổ chức
cuộc sống gia đình bị đảo lộn, vai trò tham gia công việc lao động sản xuất, nội trợ, chăm
sóc giáo dục con cái, chăm sóc người cao tuổi , mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo ảnh
hưởng đến cuộc sống ổn đinh và hạnh phúc gia đình. Người phụ nữ vốn được coi là trụ cột
quan trọng thứ 2 trong việc tổ chức cuộc sống gia đình, quán xuyến nhà cửa, tay hòn chìa
khoá, thực hiện các chức năng tâm lý, tình cảm… Họ là trung tâm của đời sống tình cảm gắn
kết các thành viên trong gia đình, là người góp phần quan trọng điều chỉnh các quan hệ gia
đình và xã hội, bảo vệ gia đình và góp phần cơ bản vào việc phòng chống tệ nạn xã hội từ
gia đình. Nhưng khi người phụ nữ di cư, tuy kinh tế có phần được cải thiện nhưng cuộc sống
gia đình thiếu đi sự đầm ấm, yên vui, nhiều trẻ em không được chăm sóc đầy đủ, học hành
sa sút, bị buông lỏng giáo dục. Cuộc sống của nhiều nam giới cũng trở nên bất ổn. Từ đó,
nhiều trẻ em và nam giới dễ bị rơi vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút,
Nghiên cứu di dân ở Việt Nam thường phân biệt giữa di dân có tổ chức và di dân tự
do. Nổi bật trong số nghiên cứu di dân có tổ chức là những công trình nghiên cứu về di dân
do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kinh tế nông nghiệp, Bộ lao động thương
binh xã hội (Cục di dân) tiến hành vào các năm 1996, 1997, 1998. Các nghiên cứu này cho
ta thấy từ năm 1960 đến nay đã có hơn 6 triệu người di cư và trên 1,7 triệu ha đất nông
nghiệp đã được khai hoang đưa vào sản xuất. Xu thế di dân có tổ chức là các đợt chuyển
dịch dân cư lớn đến các vùng kinh tế mới trong thời gian từ 1976 đến 1990. Tuy nhiên,
nhiều công trình nghiên cứu về các xu hướng di cư nói chung đã cho thấy, sau những năm
90, di cư tự do có xu hướng gia tăng (Dự án VIE/95/004)[5;6;7].
Nhiều nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, quá trình di cư không chỉ bị thúc đầy bởi
những chính sách di dân trực tiếp mà bởi cả những chính sách kinh tế - xã hội trong quá
trình đổi mới [3]. Sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng phạm vi đô thị cũng là một trong những
nguyên nhân tạo ra luồng di cư nông thôn – đô thị. Để phản ánh tình hình này và tìm hiểu
những vấn đề liên quan đến di dân, nguồn nhân lực, việc làm, đô thị hoá… một số cơ quan
khoa học, cơ quan chủ quản Việt Nam đã phối hợp với đối tác nước ngoài triển khai những
dự án nghiên cứu ở tầm vĩ mô tình trạng di dân tự do vào thành phố Hà Nội (Viện kinh tế
nông nghiệp - 1999); thành phố Hồ Chí Minh (Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh - 1997)
v.v…
Ngoài những công trình trên, nhiều đề tài nghiên cứu chuyên sâu về một số cộng
đồng di cư cũng đã được công bố. Trong đó, các tác giả đã chú trọng tới ảnh hưởng của di
dân đối với cộng đồng gốc và nơi đến của người nhập cư. Đồng thời, một số vấn đề cụ thể
có liên quan tới di dân cũng đã được đặt ra. Ví dụ: chiến lược sinh tồn của người nhập cư,
những khuôn mẫu đang thay đổi (Nguyễn Văn Chính, 2002); nguồn gốc xã hội và kinh tế
của nhập cư (Nguyễn Thị Hoà - 1999); vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư
(Đặng Nguyên Anh, 1998) v.v…
Theo tác giả Đặng Nguyên Anh trong báo cáo về "Di dân và giảm nghèo ở nông thôn
- Một số vấn đề và chính sách" cho rằng: Di dân ở Việt Nam là một hiện tượng kinh tế xã
Về khách thể nghiên cứu, nhiều cuộc nghiên cứu coi những người nhập cư như một
nhóm người đồng nhất, hoặc lấy hộ gia đình như một đơn vị nghiên cứu để phân tích, bỏ qua
những khác biệt về giới tính, tuổi tác và đặc điểm tâm lý, xã hội khác. Một số cuộc nghiên
cứu đã tách riêng những người nhập cư nữ để nghiên cứu những đặc điểm của nhóm nhập cư
này nhưng không phân biệt giữa nhóm nhập cư là trẻ em và những người nhập cư lớn tuổi
(Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc - 2000). Đã có một số nghiên cứu về di cư lao động
nữ nông thôn – thành thị, thường là những nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu định tính từ
góc độ xã hội học và cả nhân học hoặc là nghiên cứu dưới góc độ gia đình và giới, thậm chí
có cả một số tác giả người nước ngoài (nghiên cứu phụ nữ bán hàng rong).
Từ việc phân tích một số nghiên cứu về di dân ở Việt Nam, có thể thấy phần lớn
trong số đó là những nghiên cứu thực nghiệm, tập trung vào góc độ kinh tế, việc phân tích
giới còn mờ nhạt, những thông tin phân biệt giới chưa được thu thập một cách đầy đủ. Đặc
biệt các chỉ báo để đo lường các nguyên nhân xuất cư, sự đóng góp của bản thân những
người nhập cư đối với nơi xuất cư, cũng như sự hoà nhập, những nguyện vọng và sự thay
đổi vị trí, vai trò của phụ nữ di cư trong gia đình như thế nào cũng chưa được đề cập một
cách thoả đáng.
Về phương pháp, đa số các công trình nghiên cứu về di dân ở Việt Nam từ trước đến
nay đều sử dụng phương pháp định lượng trong việc thu thập và phân tích thông tin. Những
nghiên cứu bằng phương pháp định tính còn khá ít.
Mặc dù đã có những nghiên cứu như vậy, nhưng chúng tôi nhận thấy còn có khoảng
trống trong nghiên cứu di dân tại Việt Nam về các khía cạnh xã hội như vấn đề lao động di
cư nữ và đặc biệt là những tác động kinh tế - xã hội của nó tới bản thân người phụ nữ di cư,
đến gia đình, con cái, hạnh phúc gia đình nói chung và những rủi ro mà phụ nữ gặp phải
trong quá trình di cư. Thái độ của người dân nơi đi và nơi đến trong quá trình sử dụng lao
động nữ nhập cư…
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1- Mục đích nghiên cứu
đang làm việc
5- Khung lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu
5.1- Khung lý thuyt
* H bin s c lp
- Đặc tr-ng nhân khẩu, kinh tế- xã hội của gia đình ng-ời di dân:
. Quy mô gia đình
. Số nhân khẩu phụ thuộc trong gia đình
. Thu nhập hộ gia đình
. Cơ cấu nghề nghiệp
. Mức sống của hộ gia đình
. Mạng l-ới xã hội của gia đình
. Tổng số ng-ời di dân trong gia đình
- Đặc tr-ng nhân khẩu, kinh tế- xã hội của ng-ời di dân
. Tui
. Trình độ học vấn
. Nghề nghiệp ở nông thôn
. Tình trạng hôn nhân
* Hệ biến số phụ thuộc
- Gia ỡnh
. Đóng góp ca ngi di c vào thu nhập hộ gia đình
. Hiệu quả sử dụng phần đóng góp của ng-ời di dân
. Mi quan h v chng v cỏch t chc cuc sng gia ỡnh
. Tỏc ng ti chm súc cỏc thnh viờn trong gia ỡnh v giỏo dc con cỏi
- Bn thõn ngi ph n di c:
. Nõng cao hiu bit v vai trũ ca ngi ph n trong gia ỡnh
Mẫu nghiên cứu: thực hiện 360 phỏng vấn định lượng, trong đó với 300 bảng hỏi
thực hiện phỏng vấn tại 6 xã; Trong đó 3 xã: Xuân Vinh, Xuân Trung, Xuân Châu; thuộc
huyện Xuân Trường và 3 xã: Giao Hà, Giao Thanh, Bình Hoà thuộc huyện Giao Thuỷ của
Nam Định và 60 bảng hỏi phỏng vấn phụ nữ Nam Định di cư làm ăn tại Hà Nội.
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Luận văn sẽ bổ sung vào các phân tích thứ cấp bằng những phỏng vấn sâu các đối
tượng: người di cư, chồng, con, bố mẹ của người phụ nữ di cư để làm rõ hơn cho những
phân tích của mình
Số lượng phỏng vấn sâu dự kiến thực hiện: 18 trường hợp phỏng vấn sâu chia đều
cho 6 xã.
- Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: thu thập và phân tích số liệu phát triển kinh
tế xã hội và những tài liệu có liên quan tại địa bàn nghiên cứu.
7- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao
gồm 3 chương chính:
Chương I: Cơ sở lý luận của nghiên cứu
Chương II: Thực trạng di cư mùa vụ của lao động nữ nông thôn
Chương III: Tác động của di cư
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU
1- Các khái niệm có liên quan
1.1- Di cư (Migration) :
Hiện tại, không có một định nghĩa chính xác và cũng không có một mô hình cụ thể
nào về di dân trên thế giới. Có quốc gia xác đinh di dân là quá trình con người di chuyển nơi
ở và đã đến nơi ở mới từ 5 năm trở lên, quốc gia khác lại cho rằng di cư cần phải chia ra làm
hai loại: di cư ngắn hạn và di cư dài hạn. Trong khi một số quốc gia cho rằng phải nhìn nhận
di cư như là sự thay đổi nơi cư trú cũng như các đặc trưng kinh tế - văn hoá – xã hội của cả
. Di dân nông thôn – đô thị
. Di dân nông thôn – nông thôn
. Di dân đô thị - nông thôn
. Di dân đô thị - đô thị
Theo tính chất di dân thì có di dân ép buộc và di dân tự nguyện. Di dân tự nguyện là
trường hợp người di chuyển tự nguyện di chuyển theo đúng mong muốn hay nguyện vọng
của mình. Trong khi đó, di dân ép buộc diến ra trái với nguyện vọng của người dân.
Theo độ dài thời gian cư trú:
- Di chuyển ổn định: Bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi
làm việc với mục đích định cư sinh sống lâu dài tại nơi ở mới.
- Di chuyển tạm thời: sự vắng mặt tại nơi ở gốc là không lâu, khả năng quay trở về là
chắc chắn.
- Di dân mùa vụ, di chuyển con lắc: là dòng di chuyển của cư dân nông thôn vào
thành thị trong những dịp nông nhàn hoặc trong điều kiện thiếu việc làm thường xuyên, việc
làm có thu nhập. Hình thái di cư này có xu hướng gia tăng trong thời kỳ đầu công nghiệp
hoá ở các nước đang phát triển.
Theo đặc trưng di cư: Di cư có tổ chức và di cư tự phát
- Di cư có tổ chức là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch và các
chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp đã vạch ra và tổ chức, chỉ
đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội.
- Di cư tự phát: hình thái di dân này mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển
hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ
của nhà nước và các cấp chính quyền. Di cư tự phát phản ánh tính năng động và vai trò độc
lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm.
1.2- Gia đình (family):
Gia đình là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các
quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao và quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh
ra khiến người nông dân dần tách khỏi đồng ruộng và thôn xóm của họ. Tất cả điều này đã
tác động đến đời sống gia đình, cấu trúc gia đình, những mối quan hệ và những chức năng
bên trong gia đình.
Các giá trị truyền thống trong gia đình nông thôn vẫn tồn tại trong xã hội công nghiệp
hoá: là đơn vị sản xuất, ruộng đất vẫn là trung tâm của đời sống, sự chia sẻ lao động giữa
chồng – vợ, bố mẹ - con cái vẫn được duy trì. Nhưng bên cạnh gia đình truyền thống đã xuất
hiện gia đình nửa truyền thống hay nửa nông nghiệp. Đó là những gia đình sản xuất nông
nghiệp, sống ở nông thôn nhưng có vợ hoặc chồng làm các công việc ngoài nông nghiệp.
Đề tài sẽ đi sâu tìm hiểu một số vấn đề của gia đình nông thôn dưới tác động của đổi
mới kinh tế, cụ thể là của vấn đề phụ nữ - người vợ, người mẹ trong gia đình di cư, từ đó tìm
hiểu sự thay đổi vai trò của người đàn ông và người phụ nữ trong gia đình, sự thay đổi trong
chức năng sản xuất, trong giáo dục và dạy dỗ con cái, nhận thức về đời sống gia đình và xã
hội….
1.3 Quan hệ gia đình
Quan hệ gia đình là khái niệm rộng, bao hàm nhiều nội dung và các mối quan hệ
tương tác qua lại giữa các thành viên trong gia đình.
Quan hệ gia đình trong luận văn này tập trung chủ yếu vào mối quan hệ vợ chồng trên
khía cạnh phân công công việc gia đình; mối quan hệ giữa người mẹ và việc chăm sóc giáo
dục con cái; mối quan hệ giữa người con đối với việc chăm sóc người cao tuổi trong gia
đình.
Phân công lao động gia đình là khái niệm liên quan đến vai trò giới. Phân công lao
động gia đình thường đề cập đến việc ai làm gì trong gia đình và vì sao có sự phân công này.
Xem xét sự phân công lao động trong gia đình có người phụ nữ di cư có gì khác với gia đình
bình thường, những khác biệt trong sự phân công lao động đó có tác động gì tới gia đình và
bản thân những người phụ nữ di cư.
Bạo lực gia đình là các hành vi dẫn đến hoặc có thể dẫn đến, làm tổn hại hoặc đau
đớn về mặt thân thể, tình dục hay tâm lý đối với thành viên gia đình. Bạo lực gia đình là bạo
Người cao tuổi: Người cao tuổi được xác định dựa trên tiêu chí tuổi. Cụ thể là tất cả
những người từ 61 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi. Cách xác định này có điểm thuận
tiện là dựa trên số liệu về năm sinh, người nghiên cứu có thể dễ dàng và nhanh chóng tiếp
cận đối tượng cần điều tra.
Gia đình có người cao tuổi: là gia đình có ít nhất một trong các thành viên là người
cao tuổi.
2- Lý thuyết về di cư, cách tiếp cận
2.1- Lý thuyết đô thị hoá ra đời nhằm nhấn mạnh mối quan hệ giữa đô thị hoá và thu
nhập bình quân. Lý thuyết này cho rằng những người dân nông thôn quyết định ra đi bởi họ
bị việc làm với đồng lương cao ở thành phố hấp dẫn thu hút. Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro
hay bị thất nghiệp ngay tại thị trường lao động ở thành phố trong thời gian chờ đợi cơ hội
thu nhập và việc làm với mức lương cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn.
2.2- Lý thuyết “hút – đẩy”:
Các nhà xã hội học người Anh vào thế kỷ XIX đã bàn luận và đưa ra lý thuyết này,
việc ra đời của lý thuyết gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra ở
Anh. Họ cho rằng di cư để tìm kiếm cơ hội mới và để gạt bỏ rủi ro ở nơi đang sống, lực hút
bao giờ cũng lớn hơn lực đẩy đối với những người di cư. Thông thường người di cư sẽ lựa
chọn giữa lực hút và lực đẩy, cuối cùng họ thường chọn lực hút bởi con người thường bị ước
muốn tốt đẹp hơn thôi thúc di cư thay vì chạy khỏi tình thế không thoả mãn hiện thời.
Everetts Lee (1966) đã xây dựng lý thuyết này trên cơ sở tóm tắt các quy luật di dân
và phân loại các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di chuyển. Đó là những nhân tố cơ
bản liên quan đến nơi đi (lực đẩy) và nơi đến (lực hút).
- Lực đẩy: Là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, chính trị, văn hoá…. ở
vùng xuất phát không đáp ứng các nhu cầu sống (nhu cầu vật chất, tinh thần, nhu cầu về lao
động – việc làm…) đã đẩy họ ra ngoài nơi họ đang sinh sống, khiến họ phải đi tìm vùng đất
mới nhằm thoả mãn các nhu cầu của họ.
Trong quá trình di cư từ nông thôn ra đô thị, lực đẩy được xác định tập trung là do sự
mạng lưới xã hội đã được hình thành theo thời gian. Do đó mọi nỗ lực nhằm can thiệp, tác
động trực tiếp vào quá trình di cư sẽ không đem lại hiệu quả dưới ảnh hưởng của mạng lưới
xã hội này.
2.4- Lý thuyết xã hội học về di dân của E.G. Ravenstain (1885)
Điểm mạnh của lý thuyết xã hội học về di dân của Ravenstain là đã khái quát hoá
được những quy luật của di dân. Cụ thể như:
- Trong một quốc gia, những người dân gốc thành phố, thị xã thường ít di chuyển hơn
so với những người ở các vùng nông thôn.
- Xác định động lực chính của di dân là động cơ kinh tế.
- Phần lớn nữ giới di sân theo khoảng cách ngắn hơn so với nam giới.
Phát triển thêm lý thuyết của E.G. Ravenstain, một số nhà nghiên cứu khác đã dựa
trên các quy luật của di dân của ông để xây dựng và phát triển sâu thêm những lý thuyết di
dân mới như lý thuyết lực hấp dẫn xem xét mối quan hệ nghịch giữa số người di chuyển và
khoảng cách di chuyển, hoặc lý thuyết cơ hội sống cho rằng khoảng cách cơ học không có ý
nghĩa quan trọng, người di cư lựa chọn định cư tại những nơi có các cơ hội cuộc sống mà họ
chấp nhận được, cho dù khoảng cách di chuyển có thể lớn. Đó là cơ sở hình thành nên quyết
định di dân.
2.5- Tiếp cận hệ thống
Hệ thống xã hội được xã hội học sử dụng để chỉ một phức thể các bộ phận có các đặc
trưng như: sự phụ thuộc lẫn nhau – sự biến đổi bộ phận này làm biến đổi bộ phận khác, cân
bằng động – mỗi khi có sự thay đổi, các bộ phận có xu hướng biến đổi và kết hợp với nhau
để lập lại trạng thái ổn định; tính chỉnh thể - hệ thống là một chỉnh thể, một toàn thể các bộ
phận liên kết với nhau tạo nên
một thực thể tương đối bền vững, ổn định. Hệ thống xã hội được hiểu là phức thể bao gồm
các cá nhân, các nhóm xã hội liên hệ lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn. Xã hội học
dùng phương pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu tính tổ chức và mối quan hệ giữa các bộ
phận cấu thành hệ thống.[38; tr 109 – 168]
Chương II
THỰC TRẠNG DI CƯ MÙA VỤ CỦA LAO ĐỘNG NỮ NÔNG THÔN
1. Mô tả địa bàn nghiên cứu
Nam Định là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, có diện tích tự nhiên 1.672 km
2
,
dân số gần 2 triệu người. Toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 9 huyện với
tổng số 229 xã, phường, thị trấn. Dân cư nông thôn chiếm 81%; số dân trong độ tuổi lao
động là 1.370.000 người với 74,9% làm nông nghiệp, thời gian lao động nông nhàn không
có việc làm chiếm 30%, do đó nhiều người lựa chọn di cư đi làm ăn xa để tăng thu nhập,
trong đó có đến 40% lao động nữ.
Về di cư và xuất khẩu lao động: Theo thống kê trên địa bàn tỉnh Nam Định có gần
10.000 người đi xuất khẩu lao động. Khoảng 80% trong số họ làm việc tại Đài Loan và
Malasia. Phần lớn những người xuất khẩu lao động là phụ nữ và thường làm việc trong các
nhà máy hoặc làm giúp việc gia đình. Từ năm 2000 trở lại đây, số lượng người đi xuất khẩu
lao động tăng lên hàng năm. Bên cạnh việc xuất khẩu lao động, còn có một số lượng lớn
người ra thành phố tìm việc làm trong thời gian nông nhàn hoặc đi làm ăn xa từ 1 năm trở
lên.
Huyện Xuân Trường
tích đất
tự
nhiên
(ha)
Diện
tích đất
canh
tác (ha)
Diện tích
canh tác
bình
quân đầu
người
(m
2
/người)
Dân số
(người)
Dân số trong
độ tuổi lao
động (người)
Nam Nữ Nam Nữ
1
Xuân Vinh
730
4
3
Xuân Trung
221
139
205
4323
4501
2040
2493
4
Giao Thanh
613,3
471,1
583
3488
465,08
432
422
4
4353
3430
3570
Qua bảng số liệu trên có thể nhận thấy tỷ lệ đất canh tác của các địa phương không
cao, trong khi đó dân số trong độ tuổi lao động nhiều, đặc biệt là dân số nữ trong độ tuổi lao
động. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới dư thừa lao động và tạo nên tình trạng thiếu việc
làm thường xuyên tại nông thôn. Tại địa bàn nghiên cứu, ngoài làm nông nghiệp với diện
tích đất hạn chế, tổng thời gian tập trung làm nông nghiệp chỉ hết từ 3 đến 4 tháng. Các nghề
phi nông nghiệp chủ yếu do nam giới đảm nhiệm: xây dựng, gạch, ngói, thợ mộc tuy nhiên
những công việc này cũng chỉ đảm bảo được từ 5 đến 7 tháng, số tháng còn lại là thiếu việc
làm, chỉ có một số lượng nhỏ phụ nữ làm nghề buôn bán nhỏ. Do đó phụ nữ thiếu việc làm
tại chỗ nhiều hơn nam giới. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới việc di cư tìm việc làm tại các
thành phố lớn.
Theo thống kê của UBND các xã nghiên cứu, ngoài số lượng di cư đi xuất khẩu lao
động và đi học thì số người di cư trong nước tìm kiếm việc làm năm 2008 được xác định
như sau:
Bảng 2.2: Số người di cư năm 2008
Số liệu di cư trên cũng chỉ đảm bảo tính chính xác tương đối, trong thực tế số người
di cư bao giờ cũng cao hơn số liệu thống kê của xã. Qua số liệu sơ bộ trên ta có thể nhận
thấy, trên địa bàn nghiên cứu, số lượng lao động nữ di cư cao hơn so với nam giới.
2. Đặc điểm lao động nữ di cư mùa vụ ở Nam Định
2.1 Đặc trưng chủ yếu của người di cư và gia đình người di cư
Có thể tổng hợp những đặc điểm chung nhất của người di cư và đặc trưng gia đình
của họ thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.3: Đặc trưng của người di cư và gia đình người di cư
Số lượng Tỉ lệ %
Tuổi
< = 34 131 36.4( 33,3)
35 – 49 170 47.2
= > 50 56 15.6
Trình độ học
vấn
Mù chữ 3 0.8
Biết đọc, biết viết 5 1.4
Tiểu học 56 15.6
Trung học cơ sở 263 73.1
Trung học phổ thông 30 8.3
Trung cấp/nghề 2 0.6
Cao đẳng, đại học 1 0.3
Dân tộc
Kinh
360 100
Khác 0 0
Tôn giáo