luận văn: Đầu tư trực tiếp của hoa kỳ vào việt nam – thực trạng và giải pháp - Pdf 11


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Đầu tư trực tiếp của hoa kỳ vào
việt nam – thực trạng và giải pháp.”

2
MỤC LỤC
Trang

L
ời nói đầu
………………………………………………………………………………………… 3

1.4.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại…………………………………………. 18
1.4.5 Khai thác chuyên gia và công nghệ………………………………………………………… 18
1.4.6 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên…………………………………………………… 19
1.4.7 Các nhân tố khác…………………………………………………………………………… 19

Chương II: Th
ực trạng FDI của Hoa Kỳ v
ào Vi
ệt Nam thời gian qua
…………………………. 20
2.1 Thực trạng và xu hướng đầu tư của Hoa Kỳ ở nước ngoài…………………………………… 20
2.2 Tình hình đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam……………………………………………………. 23
2.2.1 Những mốc quan trọng trong quan hệ Việt Mỹ……………………………………………. 23
2.2.2 Thực trạng đầu tư Hoa Kỳ vào Việt Nam sau hiệp định thương mại……………………….

24
2.2.3 Kết quả đạt được, tồn tại và các nguyên nhân………………………………………………

35

3

Chương III: Gi
ải pháp đẩy mạnh thu hút FDI của Hoa Kỳ v
ào Vi
ệt Nam
…………………… 41
3.1 Triển vọng đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam 41
3.2 Những giải pháp đẩy mạnh thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam………………………… 44
3.3 Một số kiến nghị về giải pháp thu hút FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam……………………… 47
4

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác, nguồn vốn đầu tư là rất cần
thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thực tế đã chứng minh rằng, đầu
tư trực tiếp nước ngoài không phải là một giải pháp tình thế khi trong nước đang thiếu
vốn mà đó chính là một trong những con đường phát triển kinh tế của một quốc gia.
Tại Đại hội Đảng VI (12/1986), Đảng và Nhà nước đã đề ra mục tiêu đổi mới toàn
diện về mọi mặt kinh tế – xã hội, chính trị, ngoại giao Kể từ thời điểm đó, chúng ta
đã chuyển đổi từ cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Cùng với nó, Luật đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã được ban hành vào năm 1987 nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài góp phần giúp Việt Nam đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá
đất nước. Hoa Kỳ với tư cách là nhà đầu tư ra nước ngoài lớn nhất trên thế giới, đã
bước đầu tiếp cận thị trường Việt Nam và đặc biệt sau khi Hiệp định Thương mại Việt
Nam – Hoa Kỳ được ký kết, các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã quan tâm và đầu tư nhiều hơn
vào thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam vẫn còn ở mức
rất khiêm tốn so với tiềm lực kinh tế của mình cũng như chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
bé trong tổng đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ. Đứng trước tình hình trên, với mong

khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc
quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển UNCTAD cũng đưa
ra một định nghĩa về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp
(trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu
nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở
hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là
một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có

6
ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát
trong thực thể kinh tế ấy.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “Một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc
không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ
phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là
chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên không phải tất cả các
quốc gia nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI. Trong thực tế có
những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn
10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều
lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam (Ban hành năm 1987, điều chỉnh năm
1990, 1992 và 2000) đã định nghĩa như sau: "Đầu tư nước ngoài là việc các tổ
chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài
hoặc bất kỳ tài sản nào khác được Chính phủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác
kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp
100% vốn nước ngoài theo qui định của Luật này". (Ở đây cần lưu ý rằng Luật

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài gọi tắt là liên doanh: là hình thức
được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước
đến nay. Nó là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp
và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác.
Khái niệm: liên doanh là một hình thức tổ chức kinh donah có tính chất
quốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ
thốgn tài chính, luật pháp và bản sác văn hoá; hoạt động trên cơ sở sự đóng góp
của các bên về vốn, quản lí lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng
như rủi ro có thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản
xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt đọng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu
triển khai.
* Đối với nước tiệp nhận đầu tư:

8
- Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sp, đổi mới
Công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho ngưòi lao động làm việc và học
tập kinh nghiệm quản lí của nước ngoài
- Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo vác vấn đề liên quan đến dự án
đầu tư, thường xuất hiện mẫu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp; đối tác
nước ngoài thương quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lcú liên doanh phải
chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác; thay đổi nhân sự ở công ty mẹ có ảnh hưởng
tới tương lai phát triển của liên doanh.
* Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
- Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại;
được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị cấm hoặc hạn
chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được những
thị trường truyền thống của nước chủ nhà. Không mất thời gian và chi phí cho việc
nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ. Chia sẻ được chi phí và
rủi ro đầu tư.
- Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác; mất

- Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiện được
chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ
động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung của
tập đoàn.
- Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi phí
nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập được vào
những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệ với các
cơ quan quản lý Nhà nước

nước sở tại.
1.2.3 Hình thức hợp tác trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

10
Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân
chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không
thành lập pháp nhân mới.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được kí kết giữa đại diện có thẩm
quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việc thực
hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên.
Đặc điểm là các bên kí kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong quá trình
kinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát
việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phân chia kết quả kinh doanh: hình
thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả
kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thoả thuận giữa các bên. Các bên
hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước sở tại một cách riêng rẽ.
Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại
chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại. Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên
hơp doanh được ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh
* Đối với nước tiếp nhận:
- Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu cnghệ, tạo ra thị

chuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng có điểm
khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủ nhà dành cho
quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian đủ để

12
hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về công trình đã xây dựng và
chuyển giao.
Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhà thanh
toán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư đã bỏ ra và một
tỉ lệ lợi nhuận hợp lí.
Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đòng BOT, BTO, BT mặc dù
hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đồng là các cơ quan quản lí nhà nước
ở nước sở tại. Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệp FDI khác, chủ yếu áp
dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng; được hưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn
sơ với các hình thức đầu tư khác và điểm đặc biệt là khi hết hạn hoạt động, phải
chuyển giao không bồi hoàn công trình cơ sở hạn tầng đã được xây dựng và khai
thác cho nước sở tại.
* Đối với nước chủ nhà:
- Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án cơ sở hạ tầng đòi hỏi
vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồng thời nhanh
chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơi dậy các nguồn lực
trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế.
- Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lí và khó kiểm soát công
trình. Mặt khác, nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của nhà
đầu tư.
* Đối với đầu tư nước ngoài:


- Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ
đối ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…
1.3 Vai trò của đầu tư và thu hút FDI
Hoạt động FDI có tính hai mặt, với nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận
đầu tư đều có các tác động tiêu cực và tác động tích cực. 1.3.1 Đối với nước đầu tư
* Các tác động tích cực:

Đối với nước đầu tư, Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn
ở trong nước. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư. Việc
đầu tư ra nước ngoài làm cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước giảm
hay năng suất giảm. Ngược lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài
tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động giảm và yếu tố tư bản tăng. Như vậy, thu
nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ lao
động thành tư bản.

Trong quá trình đầu tư ra nước ngoài, Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích
thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc. Đặc biệt là khi đầu tư vào các
nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ
cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy móc thiết bị, linh kiện, phụ
tùng và nguyên liệu. Nếu công ty của nước đầu tư muốn chiếm lĩnh thị trường
thì Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu các linh kiện tương
quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất khẩu.

15

Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác
của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ. Trong điều kiện nhập khẩu

16
mức thuê mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở
nước sở tại dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao
động ở nước chủ nhà.
Tóm lại, có một số tác động không tốt tới cán cân thanh toán quốc tế hay
làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp của việc các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài song
không vì thế mà khuynh hướng này có chiều hướng bị giảm sút. Để đáp ứng yêu
cầu thực tế và vì những lợi ích to lớn và lâu dài mà hình thức đầu tư này mang lại,
nhất định Đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn sẽ ngày càng được phát triển mạnh mẽ.
1.3.2 Đối với nước nhận đầu tư:
* Tác động tích cực:
Đối với các nước đang phát triển, tác dụng chủ yếu của Đầu tư trực tiếp
nước ngoài là làm tăng thêm tích luỹ và bù đắp vào lỗ hổng ngoại tệ. Do thu
nhập của các nước này còn thấp nên tích luỹ thấp trong khi tỷ lệ tư bản đầu ra lại
cao. Muốn đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhất định (là tỷ lệ tích luỹ trừ đi tỷ lệ
tư bản đầu ra) thì một trong những biện pháp là phải hạ tỷ lệ tư bản đầu ra. Biện
pháp này yêu cầu phải nâng cao trình độ kỹ thuật và quản lý và Đầu tư trực tiếp
nước ngoài có thể đáp ứng được đòi hỏi này. Bên cạnh tỷ lệ tích luỹ thấp, các
nước đang phát triển còn thiếu nhiều ngoại tệ. Do vậy, không thể đáp ứng được
nhu cầu nhập khẩu đầu tư thiết bị, Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng lấp được lỗ
hổng này.
Ngoài ra Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có thể kéo theo đầu tư trong
nước. Khi nước ngoài đầu tư vào các công trình hạ tầng cơ sở, các ngành công
nghiệp sẽ thúc đẩy nước sở tại đầu tư. Như vậy, nó cũng làm tăng thêm việc làm
cho các nước này.

17

tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu tư đã gây ra ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức
Tóm lại, trong việc thu hút Đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước sở tại vừa
được lợi lại vừa bị thiệt hại. Giải quyết vấn đề này hài hoà như thế nào hoàn toàn
phụ thuộc vào chính sách, sách lược và chiến lược thu hút Đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Nếu nước sở tại xây dựng được một kế hoạch đầu tư cụ thể và khoa
học thì việc thu hút cũng như sử dụng nguồn vốn đầu tư này sẽ mang lại hiệu quả
rất cao. 1.4 Những nhân tố thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.4.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng
suất cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do
dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa
vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có
năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ
nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của
các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không
có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các
doanh nghiệp tự sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của
doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dư hoạt động đó cho năng suất cận biên
thấp.
1.4.2 Chu kỳ sản phẩm

19
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì
sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm
mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu
Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở

xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các
nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.
1.4.5 Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém
phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Tức là nhờ FDI
mà các nước kém hơn khi đầu tư sang các nước lớn có thể học hỏi, khai thác được
công nghệ và chuyên gia. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để
khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở
các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty
máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước
công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy
mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa
quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay
của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để
Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL
(Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson
Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành
khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
1.4.6 Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào
những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước

21
ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của
Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
1.4.7 Các nhân tố khác
Khi đầu tư ra nước ngoài thì các chính phủ ở nước đó đều có chính sách ưu
đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư và Hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định
hoặc để sản xuất hàng hóa xuất khẩu sẽ được miễn thuế nhập khẩu. Quy trình thực
hiện cấp phép đầu tư được thực hiện đơn giản nhanh chóng. Các mức ưu đãi thuế

các nước phát triển đến các nước phát triển. Hoa Kỳ cũng không nằm ngoài xu
hướng này. Bảng 1 trình bày chi tiết về cơ cấu FDI của Hoa Kỳ theo thị trường
từ năm 1994 đến hết quý II năm 2005. Bảng 1: Cơ cấu FDI của Hoa Kỳ theo thị trường giai đoạn 1994 - 2005

Đơn vị : triệu USD

Thị trường

FDI

T


t
r

ng

Canada

125000 10,09 %

Châu Âu


0,27 %

Tổng FDI

985521

100 %

(*) Tính đến năm 2005 Nguồn: BEA

23Châu Âu, nơi tập trung phần lớn các nước công nghiệp phát triển, là thị
trường FDI lớn nhất của Hoa Kỳ. Trong giai đoạn 1994-2005, hơn một nửa
lượng FDI của nước này đó đổ vào đây. Ngoài ra, chỉ riêng nước láng giềng
Canada, cũng là một quốc gia phát triển, đó thu hút 10,09% FDI của Hoa Kỳ. Đó
là chưa kể đến thị phần của các nước phát triển khác nằm rải rác ở những khu vực
còn lại trên thế giới. Trong số những khách hàng
nhỏ,
các nước Mỹ Latinh, vốn
được coi là sân sau của Hoa Kỳ, và khu vực châu Á - Thái Bình Dương là những
địa chỉ hấp dẫn hơn cả đối với nguồn FDI của Hoa Kỳ. Điều này một lần nữa lại
khẳng định sự vươn lên đầy năng động của các nước châu Á - Thái Bình Dương,
mà đa số là các quốc gia đang phát triển, trong việc thu hút FDI.
Cơ cấu theo lĩnh vực đầu tư:
Bảng 2: Cơ cấu FDI của Hoa Kỳ theo lĩnh vực giai đoạn 1994 - 2005.


24
Thực phẩm

Hoá chất

Luyện kim

Máy móc, thiết bị

Điện tử

Thiết bị vận tải

Các ngành SX khác

3107896080249804760086330


4,89%

Tài chính, ngân hàng

503647

30,85%

Dịch vụ

83976

5,19%

Các lĩnh vực khác

110898

8,61%

Tổng FDI

2014506

100%

(*) Tính đến năm 2005 Nguồn: BEA Qua bảng 2 có thể thấy tài chính - ngân hàng là thế mạnh của Hoa Kỳ khi

giao do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Việt – Mỹ trước đó. Thương mại song
phương giữa 2 nước mới chỉ gần đạt 500 triệu USD, các cuộc trao đổi chính thức,
ký kết hiệp định rất ít và hầu như không đem lại kết quả. Ngày 3/2/1994, Mỹ đã
chính thức xoá bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Kể từ thời điểm đó,
quan hệ Việt – Mỹ đã có những bước tiến đáng kể.
b. Từ năm 1995 đến nay
Ngày 11/7/1995, tổng thống Mỹ Willianm J. Clinton tuyên bố bình thường
hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Tháng 3/1998, hai bên chính thức ký Hiệp định cho phép Cơ quan Đầu tư tư
nhân hải ngoại Hoa Kỳ (OPIC) hoạt động ở Việt Nam.
Ngày 09/12/1999: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập
khẩu Hoa Kỳ (EXIMBANK) chính thức ký Hiệp định Bảo lãnh khung và Hiệp
định Khuyến khích dự án đầu tư.
Ngày 14/7/2000 – Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương
mại Mỹ Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Song phương tại văn phòng Đại
diện Thương mại Mỹ. Tổng thống Bill Clinton đã công bố Hiệp định này tại buổi
lễ ở Vườn Hồng, Nhà Trắng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status