TIỂU LUẬN
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
2
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA 3
1.1. Khái niệm nền kinh tế thị trường 3
1.2. Sự cần thiết phát triển nền kinh tế thị trường 4
1.4. Bản chất nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 6
1.4. Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta 10
Chương 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
NƯỚC TA 11
2.1. Trước đổi mới 11
2.2 Thời kỳ sau đổi mới 13
2.3. Những mặt trái trong phát triển kinh tế thị trường 15
2.4. Một số giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 18
KẾT LUẬN 23
[email protected]
MỞ ĐẦU
1
Sau hòa bình lập lại, cách mạng dân tộc dân chủ hoàn thành trên phạm
vi cả nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa xã hội.
Đảng ta đã chủ trương giữ vững quan điểm cũng như con đường mà chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn là tiến lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm đưa đất nước
trở thành một nước giàu mạnh về kinh tế, ổn định về kinh tế chính trị, xã hội
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA
1.1. Khái niệm nền kinh tế thị trường:
Theo quan điểm của Samuelson trích trong kinh tế học thì: “ Một nền
kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác
nhân dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trường. Nó là một
phương tiện giao thông để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá
nhân khác nhau, không có bộ não trung tâm nó vẫn giải được bài toán mà máy
tính lớn nhất hiện nay cũng không thể giải nổi. Không ai thiết kế ra nó. Nó tự
xuất hiện và nó đang thay đổi cũng như xã hội loài người.” Kinh tế thị trường
là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn
minh nhân loại. Là một kiểu tổ chức kinh tế, kinh tế thị trường vừa là vấn đề
của lực lượng sản xuất, vừa là vấn đề của quan hệ sản xuất. Phải đạt đến một
trình độ phát triển nhất định, nền sản xuất xã hội mới thoát khỏi tình trạng tự
cung tự cấp, mới có sản phẩm dư thừa để trao đổi. Cũng phải trong những
quan hệ xã hội như thế nào của sản xuất mới nảy sinh cái tất yếu kinh tế:
người sản xuất hàng hóa phải mang sản phẩm dư thừa ra thị trường; kẻ mua
và người bán trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường.
3
Theo quan điểm của đảng ta, Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy
luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi
các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Một nền kinh tế mà trong
đó những vấn đề cơ bản của nó do thị trường quyết định được xem là nền
kinh tế thị trường. Nói cách khác nền kinh tế thị trường chính là nền kinh tế
hàng hoá chịu sự điều khiển của cơ chế thị trường. Nền kinh tế này khác với
nền tập trung ở chủ thể xác định các vấn đề cơ bản của nền kinh tế mà nền
kinh tế tập trung chủ thể này là nhà nước thông qua các mệnh lệnh hành
thành phần kinh tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển. Từ đó
xuất hiện sự khác biệt giữa các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản
phẩm lao động. Đây chính là điều kiện đủ để nền kinh tế hành hoá có cơ sở ra
đời. Khác biệt về sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã tạo ra
động lực to lớn để thúc đẩy kinh tế phát triển mặc dù mặt trái của nó là sự
phân hoá về giàu và nghèo.
Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã
đến lúc chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế. Cơ chế thị
trường với những ưu thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và cần
thiết. Cơ chế quản lý cũ cồng kềnh, kém năng lực đã không còn phù hợp với
tình hình trong nước và quốc tế. Những căn bệnh đặc trưng của cơ chế cũ như
bảo thủ, trì trệ, kém năng lực hình thành nên bộ máy quản lý thiếu chuyên
môn nghiệp vụ nhưng lại có thái độ quan liêu, cửa quyền cần phải được thay
đổi. Thực tế cho thấy trải qua gần hai mươi năm đổi mới gây dựng nhưng
chúng ta vẫn phải thực hiện các cuộc chỉnh đốn Đảng, cải cách bộ máy hành
chính chứng tỏ những quan niệm cũ sai lầm đã ăn sâu bám rễ như thế nào.
Việc xoá bỏ hoàn toàn không dễ dàng, không thể hoàn thành trong một sớm
một chiều nhưng đó là việc cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển. Cùng với
5
cơ chế cũ cũng là sự bất cập khi nhà nước can thiệp quá sâu vào sản xuất kinh
doanh, điều hành không tuân theo các qui luật kinh tế mà theo cảm tính dẫn
đến sự thất bại trong thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra. Chuyển
sang cơ chế mới sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển theo
đúng những qui luật kinh tế khách quan.
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng việc chuyển đổi sang mô hình
kinh tế thị trường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ mô hình kinh tế đó
chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút
vốn và kỹ thuật nước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất trong xã hội,
phát triển lực lượng sản xuất, góp phần quyết định bảo đảm nhịp độ tăng
trưởng GDP bình quân hằng năm trong thập niên đầu thế kỷ XXI là trên 7%.
rằng nó có thể học hỏi nhiều điều từ nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
hiện đại. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất kinh
tế khác với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Bản chất đó được quy
định bởi các quan hệ kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.
Bàn về bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam chính là bàn về bản chất của những thành phần kinh tế của nền
kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam. Những thành phần kinh tế
đó tạo thành cơ sở kinh tế của định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam. Con đường chính trị xã hội chủ nghĩa là một tất yếu
khách quan của cách mạng Việt Nam trong thời đại cả loài người vẫn tiếp tục
vượt qua chủ nghĩa tư bản, đi lên chủ nghĩa xã hội theo cách này hay cách
khác, cho dù trước mắt còn gặp vô vàn khó khăn. Định hướng xã hội chủ
nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta tập trung vào quan hệ sở hưu của
nền kinh tế, bên cạnh đó chú trọng vào mặt phát triển lực lượng sản xuất. Tuy
nhiên, định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường trong thời kỳ
quá độ ở nước ta không phải chỉ do định hướng chính trị chi phối, mà còn
7
được chi phối bởi cơ sở kinh tế bên trong, được bảo đảm bởi một kết cấu kinh
tế mà trong quá trình vận động, tự nó có xu hướng xã hội chủ nghĩa, và do đó,
nó làm cho các nhân tố xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh lên.
Nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên nhiều hình thức sở hữu. Chỉ có
hình thức công hữu mới mang bản chất xã hội chủ nghĩa, cho nên việc nhanh
chóng mở rộng hình thức công hữu, thu hẹp hình thức tư hữu là thực hiện yêu
cầu định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường là không đúng với
lý luận Mác - Lê-nin và đường lối chính trị, kinh tế của Đảng ta trong thời kỳ
quá độ. Đại hội IX của Đảng xác định: Chế độ công hữu sẽ từng bước được
xác lập và "sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng
xong về cơ bản". Nhưng, từ nay đến đấy còn xa, hình thức sở hữu tư nhân còn
tồn tại lâu dài và còn đóng vai trò tích cực trong nền kinh tế thị trường nước
chúng, và phải xem xét mối quan hệ giữa chúng một cách biện chứng. Chế độ
công hữu dưới hình thức kinh tế nhà nước hiện nay là tiêu biểu cho nhân tố xã
hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta. Tuy nhiên, nhân tố đó không
tồn tại biệt lập, mà đan xen, xâm nhập vào các thành phần kinh tế khác, tạo
nên những mầm mống xã hội chủ nghĩa trong lòng các thành phần kinh tế tư
nhân; thông qua những hình thức kinh tế quá độ của chủ nghĩa tư bản nhà
nước.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không
chỉ khác kiểu với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thế giới mà còn khác
về trình độ phát triển; nền kinh tế thị trường nước ta còn sơ khai, giản đơn,
trong khi nền kinh tế thị trường thế giới đã ở trình độ phát triển cao, hiện đại.
Chúng ta cần nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thị trường nước ta vào nền
kinh tế thị trường thế giới, bởi vì càng hội nhập nhanh chóng bao nhiêu thì
chúng ta càng sớm có chủ nghĩa xã hội bấy nhiêu. Cần lưu ý rằng, trong lĩnh
vực kinh tế thị trường, cũng có quy luật phát triển rút ngắn, đi tắt, đón đầu.
9
Từ nền kinh tế thị trường Việt Nam tiến tới hội nhập với nền kinh tế thị
trường thế giới, xét từ góc độ kinh tế hàng hóa là từ kinh tế hàng hóa giản đơn
của những người sản xuất nhỏ tiến tới hội nhập với nền kinh tế hàng hóa tư
bản chủ nghĩa hiện đại, phát triển. Ở đây, chúng ta gặp lại vấn đề từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn, nhưng theo tư duy mới, theo con đường kinh tế thị
trường. Chúng ta sẽ đi từ nền kinh tế hàng hóa nhỏ lên nền kinh tế hàng hóa
lớn mang bản chất xã hội chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, học tập và sử dụng tối đa
các thành tựu của nền kinh tế hàng hóa lớn tư bản chủ nghĩa.
1.4. Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất cả các
thành viên trong xã hội. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với
nguời, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước thể hiện trình độ tư duy và vận
dụng của Đảng ta về qui luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là mô hình kinh tế tổng
quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Chương 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
NƯỚC TA
2.1. Trước đổi mới
Từ năm 1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất,
cách mạng Việt Nam hoàn toàn chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp
lại chịu ảnh hưởng nặng nề do chiến tranh kéo dài. Trong 15 năm nhân dân ta
11
đã không ngừng phấn đấu vựot qua bao khó khăn thử thách mới giành được
độc lập thống nhất đất nước. Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc hàn gắn
vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước
xác lập quan hệ sản xuất mới bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội, phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục y tế, thiết lập củng cố
chính quyền nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình
trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và nặng nề tính tự cung tự cấp.
Trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như trong kết cấu hạ tầng
kinh tế văn hoá xã hội lạc hậu, mất cân đối, chưa tạo được tích luỹ trong nước
và lệ thuộc nhiều vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp
để lại nhiều hậu quả tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.
Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trưng sản xuất chậm
và không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao
động và tài năng mới được sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp
sống văn hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội
Thứ nhất, kinh tế hàng hóa kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng
tính tự cung tự cấp, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kém hiệu quả, chưa có
thị trường theo đúng nghĩa của nó và năng suất lao động xã hội và thu nhập
quốc dân tính theo đầu người còn thấp.
Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta đã được hình thành và phát
triển, vì vậy thị trường nước ta cũng được hình thành và phát triển. Xem xét
khái quát về thị trường nước ta trong những năm qua vẫn thấy còn là thị
trường ở trình độ thấp, tính chất của nó vẫn còn hoang sơ, dung lượng còn
yếu và có phần rối loạn. Chúng ta mới có thị trường hàng hoá nói chung,
trước hết là thị trường hàng tiêu dùng thông thường với hệ số giá cả và quan
hệ mua bán bình thường. Về cơ bản chúng ta chưa có thị trường sức lao động,
thị trường tiền vốn trong khu vực kinh tế nhà nước. Thực trạng này của thị
trường nước ta là do kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau. Về mặt khách
13
quan là do trình độ phát triển của phân công lao động xã hội còn thấp, nền
kinh tế còn mang nặng tính tự cấp tự túc. Về mặt chủ quan là do những nhận
thức chưa đúng đắn của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, là do sự phân biệt duy ý
chí giữa thị trường có tổ chức và thị trường tự do.
Điều cần thiết phải rút ra từ thực trạng của thị trường trên đây là: với tất
cả tính phức tạp và các mặt tiêu cực xảy ra trên thị trường, việc chuyển nền
kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường vẫn đưa tới mức tiến bộ về mật kinh tế
hơn hẳn trước đây và tạo khả năng dẫn tới bước ngoặt quyết định. Nhiệm vụ
đặt ra hiện nay là phải tiếp tục thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của
thị trường ngày càng đầy đủ và thông suốt, thống nhất trên phạm vi cả nước,
phải gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế.
Thứ hai về thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường là ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp. Hai cơ chế kinh tế cũ và mới (cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp và thị trường) có nhiều đặc điểm khác nhau, điểm khác nhau cơ bản
nhất là: cơ chế cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc gần như xoá bỏ quan hệ
Theo những định hướng trên, mấy năm qua, hoạt động kinh tế đối
ngoại ở nước ta đã lập lại quan hệ bình thường với các quan hệ tài chính, tiền
tệ quốc tế, bước đầu đã thu đựoc những thành tựu quan trọng về kinh tế đối
ngoại.
Ngoài ra nền kinh tế thị trưòng phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa cần có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của
kinh tế thị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hoá giản đơn trước
đây, cũng như khác với nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Đặc điểm này cũng chính là mô hình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Mô hình kinh tế đó có những đặc trưng riêng,
làm cho nó khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa.
2.3. Những mặt trái trong phát triển kinh tế thị trường
15
Măc dù nước ta đã đạt được nhưng thành tựu nhất định trong phát triển
kinh tế và ổn định tình hình chính trị xã hội nhưng không phải không còn
nhưng tồn tại cần được giải quyết nhất là những tồn tại trong việc điều hành
nền kinh tế và giải quyết các vấn đề thương mại. Tuy những khó khăn này chỉ
là tạm thời nhưng chúng ta vẫn phải giải quyết để làm lành mạnh hoá nền
kinh tế và đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế nước nhà .
Một trong những hạn chế lớn hiện nay là Việt Nam còn thiếu quá nhiều
thông tin, đặc biệt là thông tin trong lĩnh vực kinh tế. Không có các thông tin
cần thiết về thị trường, về Luật kinh tế dẫn đến nhiều thất bại. Đáng chú ý là
vấn đề thương hiệu và gần đây là những khó khăn trong việc thâm nhập thị
trường Mỹ. Phải thừa nhận chúng ta đã không có nhưng thông tin cần thiết và
cũng không tiến hành những hoạt động mà đáng ra chúng ta phải thực hiện
trước khi thâm nhập và thành công trên thị trường khó tính này. Một hạn chế
khác là chúng ta vẫn còn tồn tại những nghành kinh tế còn quá yếu kém khi
mà chúng ta đã và đang dỡ bỏ một số hạn ngạch thuế quan cho một số mặt
hàng để chuẩn bị cho quá trình tham gia tổ chức thương mại quốc tế WHO.
Nguyên nhân của sự khó khăn này một phần là do còn có nhưng ngành kinh
thực sự thông thoáng. Tiêu biểu là việc cải thiện chế độ hải quan tại các cảng
biển nước ta. Theo đánh giá của các nhà kinh doanh nước ta đây là một tiến
bộ lớn nhưng sau một thời gian kiểm điểm lại chính chúng ta cũng phải thừa
nhận những khiếm khuyết vẫn còn tồn tại. Đồng thời với việc nặng nề trong
thủ tục hành chính thì vấn đề liên hệ giữa các thành phàn tham gia giải quyết
cũng chưa thông suốt. Hệ thống luật Việt Nam cũng chưa thực sự hoàn thiện
và thiếu sự ổn định. Đặc biệt là hệ thống luật kinh tế nói chung luôn thay đổi
gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Gần đây các phương tiện thông tin
đại chúng liên tục đưa ra những kiến nghị của các doanh nghiệp xung quanh
vấn đề mua hoá đơn GTGT. Theo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài tham
gia giúp đỡ Việt Nam trong việc soạn thảo các văn bản luật thì nguyên nhân
17
chính là do Việt Nam có quá nhiều văn bản chồng chéo. Ngoài luật còn có
thông tư, chỉ thị, hướng dẫn.Đôi khi chính những văn bản này lại hạn chế lẫn
nhau, mâu thuẫn với nhau. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh cũng hạn chế
khả năng hoạt động của các nhà đầu tư. Cái khó nhất ở đây là bộ máy hành
chính càng cồng kềnh càng tạo ra nhiều khâu trung gian, càng làm mất thời
gian của doanh nghiệp trong khi đó có không ít khâu còn có sự chồng chéo
nhau không phân định rõ phạm vi hoạt động. Phát triển đa dạng, đồng bộ,
ngày càng văn minh, hiện đại các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ. Thực hiện
nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Xây dựng và
thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối
với người tiêu dùng và đối với môi trường.
2.4. Một số giải pháp cơ bản phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Muốn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Một là, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. Thừa
nhận trên thực tế tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một
trong những điềukiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, nhờ đó
hình thành đồng bộ các loại thị trường tiền tệ, vốn, sức lao động, chất xám,
thông tin, tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng… Điều này sẽ đảm bảo cho
việc phân bố và sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất phù
hợp với nhu cầu của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Ba là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thưòng xuyên đổi mới công
nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy phải đẩy mạnh
công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa
học vào quá trình lưu thông hàng hoá. So với thế giới, trình độ công nghệ sản
19
xuất của ta còn thấp kém, không đồng bộ do vậy khả năng cạnh tranh của
hàng hoá nước ta so với hàng hoá nước ngoài trên thị trường cả nội địa và thế
giới còn kém. Bởi vậy, để phát triển kinh tế hàng hoá, chúng ta phải đẩy mạnh
công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đaị, đồng bộ cũng đóng
vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Hệ thống đó ở nước ta đã
quá lạc hậu, không đồng bộ mất cân đôí nghiêm trọng nên đã cản trở nhiều
đến quyết tâm của các nhà đầu tư trong cả nước lẫn nước ngoài, cản trở phát
triển hàng hoá ở mọi miền đất nước. Vì thế cần gấp rút xây dựng và củng cố
các yếu tố của hệ thống kết cấu đó. Trước mắt, nhà nước cần tập trung ưu tiên
xây dựng nâng cấp một số yêu tố thiêt yếu như đường sá, cầu cống, bến cảng,
sân bay, điện, nước hệ thống thông tin liên lạc, ngân hàng dịch vụ bảo hiểm…
Bốn là, giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi
mới các chính sách tài chính tiền tệ giá cả. Sự ổn định chính trị bao giờ cũng
là nhân tố quan trọng để phát triển. Nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh
doang trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư. Giữ vững ổn định chính trị ở
nước ta hiện nay là giữ vững vai trò lãng đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước, phát huy đầy đủ vai
kích thích hơn nữa việc không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh
quản lý, tài năng kinh doanh của họ. Cơ cấu của đội ngũ cán bộ cần phải được
chú ý đảm bảo ở cả phạm vi vĩ mô cũng như lẫn cả vi mô, cả cán bộ quản lý
cũng như kinh doanh.
Sáu là, thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện có hiệu quả kinh tế đối ngoại
chúng ta phải đa dạng hoá hình thức, đa phương hoá đối tác. Phải quán triệt
nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau và
không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Cải cách cơ chế quản lý xuất khẩu,
thu hút rộng rãi nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, thu hút kỹ thuật, nhân tài và
kinh nghiệm quản lý. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự
21
chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là
giữ vững môi trường hoà bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì
hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Bảy là, giải quyết những hạn chế còn tồn tai của kinh tế thị trường. Thị
trường Việt Nam hiện nay hoạt động còn yếu, nó chưa đủ mức độ để báo hiệu
những co hội mới. Khu vực tư nhân còn thiếu kỹ năng và kinh nghiệm cần
thiết để đáp ứng các tín hiệu về thời cơ mà họ nhận được. Do đó sự liên lạc có
hiệu quả giữa nhà nước và tư nhân là cần thiết, làm cho các chiến lược phát
triển nền kinh tế nước nhà có thể thực hiện được.
Nhà nước ta cần xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có
tính đồng bộ. Hệ thống pháp luật cần được bổ sung và hoàn thiện trên các lĩnh
vực: sử dụng, chuyển nhượng và cho thuê đất đai, thị trường bất động sản, thị
trường vốn… Bổ sung, điều chỉnh bộ luật thuế tránh bị chồng chéo, khuyến
gian trước mắt để tiếp tục ổn định và khắc phục những hạn chế của nền kinh
tế thị trường và sau này trong quá trình phát triển lâu dài của đất nước. Nhất
là trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hoá
nền kinh tế thế giới thì khi đó sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cũng như những thách
thức đòi hỏi chúng ta phải thật sáng suốt nếu không muốn bị lâm vào tình thế
bị động trước những diễn biến của nền kinh tế thị trường.
23