LUẬN VĂN: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam pot - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Lời nói đầu

Một trong những nội dung lớn của sự nghiệp mới do Đảng ta khởi xướng là
xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới. Đảng ta đã xác định, chính sách kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng XHCN có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy
luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH, có tác dụng to lớn trong việc động viên nhân dân
xây dựng kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất. Hiện nay, trong các thành phần kinh
tế thì kinh tế Nhà nước đóng góp vào GDP luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu. Song trên
thực tế, kinh tế Nhà nước chưa thực sự phát huy tối đa hiệu quả trong việc điều tiết
nền kinh tế thị trường.
Các chính sách cải cách kinh tế gần đây ở Việt Nam đã ảnh hưởng tích cực tới

I. Lý luận chung về kinh tế thị trường và việc cần thiết chuyển sang kinh tế
thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
1. Lý luận chung về kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các
quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá; các yếu tố
của sản xuất như đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động,
công nghệ và quản lý; các sản phẩm và dịch vụ tạo ra; chất xám đều là đối tượng mua
bán, là hàng hoá.
Kinh tế thị trường được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. Khi các
quan hệ kinh tế giữa các chủ thể đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá dịch vụ trên thị
trường (người bán cần tiền, người mua cần hàng và họ phải gặp nhau trên thị trường )
thì nền kinh tế đó là nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó, các quan hệ
kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là hướng vào
việc tìm kiếm lợi ích cuả chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
a. Ưu điểm
Với cách hiểu như trên ta có thể thấy kinh tế thị trường có một số ưu điểm như
sau:
- Kinh tế thị trường thúc đẩy việc cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động làm
cho sản phẩm hàng hoá phong phú đa dạng, giá thành hạ, thúc đẩy lực lượng sản xuất

phát triển nhanh. Bởi mục đích của người sử dụng hàng hoá là có lãi cao nhất, do đó
họ phải làm thế nào để có giá trị cá biệt của hàng hoá là thấp nhất. Muốn vậy, họ phải
tăng năng suất lao động. Vì vậy phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ tay nghề, tổ
chức quản lý sản xuất trong đó yếu tố quan trọng nhất, yếu tố có tính chất quyết định
là kỹ thuật. Cải tiến kỹ thuật lúc đầu ứng dụng ở từng người, từng Xí nghiệp sau lan
rộng ra toàn xã hội làm xuất hiện một ngành mới và như vậy lực lượng sản xuất đã
phát triển thêm một bước.

quá trình sản xuất chưa có tác động trực tiếp đến họ không được xử lý. Ô nhiễm môi
trường sống chung của toàn xã hội là tất yếu.
- Cũng do một phần các nguyên nhân trên nền kinh tế thị trường không tránh
khỏi những đợt sóng khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, suy thoái về kinh tế. Kinh
tế thị trường phải gắn với thị trường, thông qua thị trường người sản xuất mới biết
được hàng hoá của mình có được xã hội chấp nhận hay không.
2. Sự cần thiết chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam
Đại hội VII của Đảng đã xác định, đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta là một tất
yếu khách quan. Đổi mới để nâng cao chất lượng cuộc sống, để phát triển kinh tế phù
hợp với xu hướng phát triển chung của kinh tế thế giới. Vì với cơ chế kinh tế cũ, với
việc bao cấp tràn lan, quản lý kinh tế kém hiệu quả thì việc sản xuất không đủ sản
phẩm để tiêu dùng dẫn đến không thể tích luỹ để mở rộng sản xuất dẫn đến thiếu hụt
ngân sách, làm cho nền kinh tế đình trệ. Đặc trưng của kinh tế chỉ huy là rất cứng
nhắc nó chỉ có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế trong giai đoạn ngắn hạn và chỉ có
tác dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại
quá dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản
xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng suất chất
lượng và hiệu quả sản xuất.
Bên cạnh đó, thị trường ở nước ta phát triển chưa đồng bộ, còn thiếu hẳn thị
trường các yếu tố sản xuất như thị trường lao động thị trường vốn và thị trường đất
đai và về cơ bản là thị trường tự do, mức độ can thiệp của Nhà nước còn rất thấp. Xét
về mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nền kinh tế nước ta đang hoà nhập so với nền kinh
tế thị trường thế giới, giao lưu về hàng hoá dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài
làm cho sự vận động của nền kinh tế gần gũi hơn với thị trường kinh tế thị trường thế
giới. Tương quan giá cả của các chủng loại hàng hoá trong nước gần gũi hơn với

tương quan giá cả hàng hoá quốc tế. Việc chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị
trường thúc sản xuất và cạnh tranh hàng hoá không chỉ trong nước mà vượt qua cả
ranh rới trong nước cạnh tranh với nước ngoài về các loại sản phẩm như: hàng tiêu
dùng, thuỷ sản làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tích luỹ vốn để mở rộng và tái sản

đã được cơ khí hoá, không có tính tự nhiên tự cấp tự túc như nền kinh tế nước ta, quá
trình hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta trước hết là quá trình chuyển nền
kinh tế kém phát triển mang tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần. Mặt khác, ở nước ta cũng đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế kế
hoạch hoá tập trung. Nó gần như đối lập với thị trường, kinh tế thị trường vận động
theo cơ chế thị trường. Thị trường được coi là trung tâm của sản xuất và toàn bộ quá
trình tái sản xuất xã hội. Vì vậy quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế
thị trường còn là quá trình xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành
đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường đồng thời cũng là
quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập thị trường trong nước với thị
trường thế giới. Kinh tế "khép" thường gắn với nền kinh tế phong kiến, gắn với sản
xuất nhỏ mang nặng tính cục bộ địa phương chủ nghĩa và với tình trạng "bế quan toả
cảng". Chính sự xuất hiện và phát triển của sản xuất hàng hoá đã phá vỡ các quan hệ
truyền thống của kinh tế khép kín. Sự phát triển của tư bản chủ nghĩa đã khẳng định:
kinh tế hàng hoá làm cho thị trường dân tộc gắn bó và hoà nhập với thị trường thế
giới. Chính giao lưu hàng hoá đã làm cho các quan hệ kinh tế được mở rộng ra khỏi
phạm vi quốc gia, đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Kinh tế mở là đặc
điểm và là xu thuế của thời đại ngày nay mà bất kỳ một quốc gia nào cũng phải coi
trọng. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, chúng ta đã có nhiều đổi mới quan trọng, chúng
ta đã chuyển quan hệ kinh tế quốc tế từ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất
cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm về kinh tế đối ngoại nói trên
hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta có những tiến bộ lớn. Xuất khẩu hàng hoá tăng
nhanh với nhịp độ trên dưới 20% hàng năm (1986 - 1992) đảm bảo nhập khẩu các
loại vật tư và công nghệ chủ yếu, cải thiện dần cán cân thanh toán quốc tế. Chúng ta
đã nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục được những hẫng hụt về thị trường và

nguồn vốn từ các nước SNG và Đông Âu. Nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào Việt


khác, thế giới vẫn đang nằm trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, cho nên, sự
phát triển kinh tế - xã hội nước ta phải theo định hướng XHCN là cần thiết, khách
quan và cũng là nội dung, yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự nghiệp "dân giầu,
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, nhiệm vụ
của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Đảng và Nhà
nước khuyến khích mọi người dân trong xã hội làm giầu một cách hợp pháp. Dân có
giầu thì nước mới mạnh, nhưng dân giầu phải làm cho nước mạnh đảm bảo độc lập,
tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
2. Nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần với vai trò chủ đạo của kinh tế
Nhà nước
Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường phải là một nền kinh tế đa thành
phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thị trường mà chúng ta xây dựng
là nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi "bàn tay hữu hình"
của Nhà nước trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó. Đồng thời, chính nó sẽ bảo
đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự quản lý, điều tiết, định
hướng phát triển nền kinh tế thị trường của Nhà nước là thông qua các công cụ chính
sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước. Kinh tế Nhà
nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh vực then chốt, có ý nghĩa là "đài chỉ
huy", là "mạch máu" của nền kinh tế. Cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của
kinh tế Nhà nước, cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn
hợp, đặt chúng trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ, thống nhất, không tách rời, biệt lập.
3. Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước
ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trường hiện
đại là Nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác với Nhà nước của
nhiều nền kinh tế thị trường trên thế giới. Nhà nước ta là Nhà nước "của dân, do dân
và vì dân", Nhà nước của đại đa số nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Nó có đủ bản lĩnh, khả năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ
vững định hướng XHCN trong việc phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại ở nước

không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung, tự cấp, mà phải
mở cửa, hội nhập với kinh tế thế giới. Sự mở cửa, hội nhập được thực hiện trên ba
nội dung chính là: thương mại; đầu tư và chuyển giao khoa học - công nghệ. Tuy

nhiên, sự mở cửa, hội nhập không có nghĩa là sự hoà tan, đánh mất mình, mà phải
trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
6. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội
Phát triển trong công bằng và phát triển bền vững là những thuật ngữ phổ biến
và là xu thế của thời đại hiện nay. Phát triển trong công bằng được hiểu là những
chính sách phát triển phải bảo đảm sự công bằng xã hội, là tạo cho mọi tầng lớp nhân
dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và được hưởng những thành quả
tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ của họ bỏ ra, là giảm khoảng cách chênh
lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư và gữa các vùng. Khác với nhiều nước,
chúng ta phát triển kinh tế thị trường nhưng chủ trương bảo đảm công bằng xã hội,
thực hiện sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong tất cả các
giai đoạn phát triển kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, sự bảo
đảm công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hoàn toàn
xa lạ và khác hẳn về chất với chủ nghĩa bình quân, cao bằng thu nhập và "chia đều
sự đói nghèo" cho mọi người. Mức độ bảo đảm sự công bằng xã hội phụ thuộc rất lớn
vào sự phát triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia. Vì vậy, nếu quá nhấn
mạnh tới sự công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, ngân sách
còn eo hẹp, thì chắc chắn sẽ làm triệu tiêu động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
7. Giải quyết mối quan hệ lao động và tư bản thông qua phân phối thu
nhập trong kinh tế thị trường định hướng XHCN
Việc giải quyết mối quan hệ trên được thực hiện theo kết quả lao động là chủ
yếu kết hợp với một phần theo vốn và tài sản. Đây là điểm khác biệt giữa nền kinh tế
thị trường trong CNTB với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Trong mối quan hệ giữa lao động và tư bản (vốn), giữa lao động sống và lao động

hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục đích tăng cường cao và bền vững trên
một số lĩnh vực sau đây:
Một là, quan hệ giữa các định hướng phát triển dựa vào việc xuất khẩu tài
nguyên thô hoặc sơ chế, dựa vào các nguồn lực bên trong, tự lực cánh sinh và thay
thế nhập khẩu với yếu tố bên ngoài.

Hai là, quan hệ giữa tập trung vào những ngành và vùng trọng điểm đồng thời
phát triển các vùng trong cả nước, trong giai đoạn trước mắt cần ưu tiên ngành và
vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả đầu tư cao và thu hồi vốn nhanh.
Ba là, quan hệ giữa xây dựng các công trình quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ
trong điều kiện tổng số vốn có hạn.
Bốn là, quan hệ giữa phát triển công nghệ tiên tiến và công nghệ trung gian,
xử lý thoả đáng những vấn đề sở hữu trí tuệ, vai trò của thông tin quản lý và chất xám
trong nền kinh tế hiện đại.
Năm là, trong chiến lược phát triển ngành cần tập trung chú ý đến nông
nghiệp trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Sáu là, đi đôi với việc xác định chiến lược lâu dài Nhà nước phải xây dựng
các chương trình, kế hoạch cho từng thời kỳ.
2. Tăng trưởng kinh tế và điều kiện đảm bảo tăng trưởng cao, bền vững.
Hiện nay ở nước ta, GDP bình quân đầu người so với các nước trong khu vực
và trên thế giới rất thấp. Yêu cầu chống tụt hậu đang đặt ra cho Việt Nam phải giải
quyết vấn đề khó khăn phức tạp này. Phải có một chiến lược tăng trưởng đúng đắn,
đảm bảo tăng trưởng cao và ổn định trong một thời gian dài.
Vấn đề có ý nghĩa quyết định để có thể tăng trưởng kinh tế cao và ổn định là
phải đảm bảo các điều kiện về giải quyết các mối liên hệ trong quá trình tăng trưởng.
Những điều kiện và các mối quan hệ này là:
a. Về vốn:
Muốn có tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện nước ta đòi hỏi phải có một
nguồn vón lớn, để có vốn đầu tư trong nước cần phải:
- Có chính sách tiết kiệm trong cả nước, coi tiết kiệm là quốc sách thực hiện

định cụ thể các ngành, các lĩnh vực doanh nghiệp Nhà nước cần tập trung vốn đầu tư
phát triển.
- Về cơ chế quản lý và chính sách, trước hết cần xác định các quyền đại diện
sở hữu hợp pháp và địa lý của các doanh nghiệp Nhà nước, làm rõ các quan hệ giữa
doanh nghiệp với Nhà nước, giữa doanh nghiệp với các đối tác trong hoạt động kinh
doanh.
- Tổ chức lại cơ cấu quản lý nội bộ doanh nghiệp Nhà nước, hình thành các
hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, hội đồng giám sát, ban giám đốc điều hành.

4. Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ
Nước ta phấn đấu trong vài năm tới có đủ các đạo luật để điều chỉnh các lĩnh
vực về hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế, về quản lý hành chính Nhà nước. Chúng
ta cần bổ xung và hoàn thiện các lĩnh vực sau:
- Trong việc sử dụng chuyển nhượng, cho thuê đất, thị trường bất động sản, thị
trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Bổ sung điều chỉnh bộ luật thuế tránh trồng chéo phân tán theo hướng mở
rộng diện thu thuế nhưng giảm mức thu nhằm khuyến khích tích cực, tự giác đóng
góp của người sản xuất kinh doanh.
- Khuyến khích đầu tư trong nước. Sửa đổi bổ xung luật công lý, luật doanh
nghiệp tư nhân, luật kiểm soát độc quyền và cạnh tranh.
Xây dựng bộ luật thương mại, luật ngân sách, luật hành chính Nhà nước, các
hiệp định đa phương và song phương.
- Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, hoàn thiện hệ thống các cơ quan thi
hành pháp luật. Xây dưnạg Nhà nước pháp quyền và quản lý bằng pháp luật.
- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân nhất là người lãnh đạo chủ
chốt trong mỗi cơ quan, tổ chức đối với việc thực hiện pháp luật trong phạm vi cơ
quan, tổ chức của mình.
5. Cải cách hành chính gắn liền với đổi mới kinh tế
Đây là một nhân tố quyết định đảm bảo kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định và
bền vững ở nước ta.

trên thế giới. Thế mà bước đầu đã gặt hái được những thành công đáng khích lệ. Do
đó chúng ta hy vọng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước nền kinh tế
thị trường sơ khai định hướng XHCN sẽ trở thành nền kinh tế thị trường văn minh
định hướng XHCN ưu việt hơn rất nhiều nền kinh tế thị trường văn minh ở một số
nước phát triển hiện nay. Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 7,8 - 1991. Chính trị Quốc gia
2. Phạm Xuân Nam (Chủ biên) - Tác giả đổi mới kinh tế xã hội, thành tự vấn
đề và giải pháp - NXB Khoa học xã hội năm 1991
3. Trần Du Lịch: Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi NXB TP. Hồ
Chí Minh 1996
4. Ngân hàng thế giới: Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường - NXB Chính
trị Quốc gia 1994
5. Tạp chí Cộng sản số4 tháng 2/2000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status