h LUẬN VĂN:
Những biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của xí nghiệp Điện Tử Truyền Hình
trong thời gian tới h
Lời nói đầu
Sau khi nền kinh tế thị trường chính thức được xác lập ở Việt Nam các doanh
nghiệp đều gặp những khó khăn gay gắt chưa từng có, làm giảm sút lợi nhuận và có nguy
cơ phá sản "hoạt động kém hiệu quả" là cụm từ quen thuộc đối với các doanh nghiệp.
Đâu là nguyên nhân của vấn đề và biện pháp nào cần được thực thi nhằm đưa các doanh
nghiệp tồn tại và phát triển. Mục đích của bài viết là áp dụng những lý thiết đã được trang
bị để thực tập giải quyết và Xí nghiệp Điện tử Truyền Hình- Công Ty Đầu Tư và Phát
Triển Công Nghệ Truyền Hình - VTC được lấy làm cơ sở cho việc phân tích. Kết quả của
việc phân tích là thực trạng hiệu quả hoạt động của xí nghiệp và sau đó là các biện pháp
quả về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó, bởi vậy cần có khái niệm bao quát hơn.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát
triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác của nguồn lực đó trong quá trình
sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan
trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu
kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Cụ thể ra hiệu quả sản xuất kinh doanh là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định là tối đa hoá lợi
nhuận và tối thiểu hoá chi phí.
h
2. Bản chất hiệu qủa kinh tế.
Bản chất của hiệu qủa sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội
và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả
kinh tế. Chính việc khan hiếm các nguồn lực sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm
thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt
để các nguồn lực. Để đạt được các mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú
trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiện có của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm
chi phí.
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả
tối đa với chi phí tối thiểu hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi
phí ở đây hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực,
đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt
nhất đã bị bỏ qua, hay là giá trị của việc hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện
nhiệm vụ kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán để thấy
rõ lợi ích kinh tế thật sự. Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn
phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
II. Những quan điểm về hiệu quả kinh tế
- Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem
xét. Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hiệu số giữa kết quả thu về
Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trong các
trường hợp sau:
* Kết quả tăng, chi phí giảm.
* Kết quả tăng, chi phí tăng, nhưng tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ tăng
của kết quả sản xuất kinh doanh. Trường hợp thứ hai diễn ra chậm hơn và trong sản xuất
kinh doanh có lúc chúng ta phải chấp nhận: thời gian đầu tốc độ tăng của chi phí lớn hơn
tốc độ tăng của kết quả sản xuất kinh doanh, nếu không thì doanh nghiệp không thể tồn tại
và phát triển được. Trường hợp này diễn ra vào thời điểm khi chúng ta đổi mới công nghệ,
đổi mới mặt hàng hoặc phát triển thị trường mới Đây chính là bài toán cân nhắc giữa kết
hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.
Thông thường thì mục tiêu tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện tối thiểu nhất là
các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải tạo ra thu nhập và tiêu thụ hàng
hoá, cung cấp dịch vụ, để bù đắp chi phí bỏ ra sản xuất hàng hoá và dịch vụ ấy. Còn mục
tiêu phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi quá trình sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo bù đắp
chi phí bỏ ra vừa có tích luỹ để tiếp tục quá trình tái sản xuất mở rộng. Sự phát triển tất yếu
h
đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất. Đây là mục tiêu cơ
bản của doanh nghiệp.
III. Những nguyên tắc để xem xét hiệu quả kinh tế
Trong thực tiễn không phải ai cũng hiểu biết và quan niệm giống nhau về hiệu quả
kinh tế và chính điều này đã làm triệt tiêu những cố gắng nỗ lực của họ mặc dù ai cũng
muốn làm tăng hiệu quả kinh tế. Như vậy khi đề cập đến hiệu qủa kinh tế chúng ta phải
xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu
quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội.
1.Về mặt thời gian
Sự toàn diện của hiệu quả đạt được trong từng giai đoạn không được làm giảm hiệu
quả khi xem xét trong thời kỳ dài hoặc hiệu quả của chu kỳ sản xuất trước không được
làm hạ thấp hiệu quả chu kỳ sau. Trong thực tế không ít các trường hợp chỉ thấy lợi ích
4. Về mặt định tính
Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp đạt được
phải gắn chặt với hiệu quả toàn xã hội. Dành được hiệu quả cao cho doanh nghiệp chưa
phải là đủ mà còn đòi hỏi mang lại hiệu quả cho xã hội. Trong những trường hợp, hiệu quả
toàn xã hội là mặt có tính quyết định khi lựa chọn một giải pháp kinh tế, dù xét về mặt
kinh tế nó chưa hoàn toàn được thoả mãn.
Theo đánh gia của các chuyên gia, việc đặt nhà máy lọc dầu tại Dung Quất - Quảng
Ngãi là không khả thi khi xét về tính kinh tế của nó nhưng hiệu quả của toàn xã hội rất cao
thể hiện qua nâng cao dân trí, tạo việc làm thu nhập, đời sống cho dân và cân bằng phát
triển giữa ba miền Bắc - Trung - Nam. Như vậy trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh
doanh nào, khi đánh giá hiệu quả của hoạt động ấy không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết
quả được mà còn đánh giá chất lượng của kết quả đạt được. Có như vậy thì hiệu quả của
hoạt động sản xuất kinh doanh mới được đánh giá một cách toàn diện.
Kết quả đạt được trong sản xuất mới đảm bảo được yêu cầu tiêu dùng của mỗi cá
nhân và toàn xã hội. Nhưng kết quả tạo ra ở mức nào, với giá trị nào, đó chính là vấn đề
cần xem xét vì nó là chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả. Vì thế đánh giá hoạt động
sản xuất không chỉ đánh giá xem xét người sản xuất tạo ra kết quả bằng phương tiện gì,
bằng cách nào với chi phí là bao nhiêu. Ngoài ra, nhu cầu tiêu dùng của con người bao
giời cũng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của họ. Do đó, vấn đề mà con người quan tâm
nhất là làm sao với khả năng hiện có tạo nhiều sản phẩm nhất, chính ở đây nảy sinh vấn đề
h
phải xem xét lựa chọn cách nào để đạt được kết qủa cao nhất. Vì vậy nhầm lẫn giữa kết
quả và hiệu quả là không thấy hết phạm trù của yêu cầu tiết kiệm
- Bản chất của hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức khái quát là kết quả của hiệu
quả kinh tế được biểu hiện quan hệ giữa kết quả sản xuất với chi phí lao động xã hội.
Như vậy, đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, việc nâng cao hiệu quả kinh tế
của doanh nghiệp phải luôn gắn chặt với hiệu quả toàn xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế
cao cho đơn vị phải bảo đảm hiệu quả kinh tế của ngành, địa phương.
IV. Mục tiêu và ý nghĩa của việc bảo đảm và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trước hết ta xem xét ý nghĩa kinh tế và xã hội của hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong phạm vi doanh nghiệp (tầm vi mô).
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở đảm bảo tồn tại và phát triển cho
doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp
trên thị trường mà hiệu quả kinh doanh lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, vì
khi hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt có nghĩa là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
có hiệu quả. Điều đó cũng đồng nghĩa với tăng lợi nhuận. Nó giúp doanh nghiệp tái đầu
tư, mở rộng quy mô sản xuất, thay đổi dây chuyền công nghệ, trang thiết bị, có điều kiện
đào tạo cán bộ quản lý và công nhân viên được nâng cao. Hơn nữa nó giải quyết được một
khối lượng công ăn việc làm cho chính lao động trong doanh nghiệp và cho xã hội.
Qua phân tích ta thấy rằng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu
khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do
yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập phải
không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như
các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng
lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Như vậy
hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ
trong kinh doanh. Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải tự tìm
tòi, đầu vào tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh. Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận
sự cạnh tranh. Trong khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là về mặt
hàng mà về chất lượng, giá cả và các yếu tố khác. Trong khi mục tiêu chung của các doanh
nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho các doanh nghiệp mạnh lên nhưng
ngược lại cũng có thể các doanh nghiệp không thể trụ vững trên thị trường. Để đạt được
h
mục tiêu trên thì doanh nghiệp phải có hàng hoá, dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt
khác hiệu quả kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng lượng hàng hoá bán
h
nghiệp. Từ đó tìm ra biện pháp khắc phục nhằm tăng hiệu quả sử dụng nguồn lao động của
doanh nghiệp.
Năng suất lao động =
Doanh thu trong kỳ
Lao động trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy một lao động tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
- Lợi nhuận bình quân/ 1lao động =
Lợi nhuận trong kỳ
Lao động trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh với mỗi lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Dựa vào chỉ tiêu này để so sánh mức tăng hiệu quả của mỗi lao động trong kỳ.
2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Đối với ngành Phát Thanh-Truyền Hình ta sử dụng hai chỉ tiêu sau:
- Sức sản xuất của vốn cố định =
Doanh thu trong kỳ
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định bình quân tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu trong kỳ.
- Sức sinh lời của vốn cố định =
Lợi nhuận ròng trong kỳ
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, chứng tỏ vòng quay của vốn lưu động tăng nhanh,
điều này thể hiện việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả và ngược lại.
Số ngày luân chuyển bình quân
một vòng quay
=
365 ngày
Số vòng quay vốn lưu động
Thời gian này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược
lại
+ Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết phải mất bao nhiêu đồng vốn lưu động để tạo ra được một
đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt.
4. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp.
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt động kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau và so sánh
h
trong các doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét các thời kỳ doanh nghiệp hoạt động có
đạt hiệu quả cao hơn hay không.
- Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =
Lơi nhuận trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng, cho biết hiệu quả của doanh nghiệp đã tạo ra
- Doanh thu trên một đồng vốn
sản xuất
=
Doanh thu trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy với một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu, chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Công thức xác định các chỉ tiêu trên được hệ thống theo biểu sau đây:
Bảng 1: Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
h
Tên chỉ tiêu Công thức xác định
1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử
dụng lao động
Hệ số sử dụng lao động Năng xuất lao động - Lợi nhuận bình quân / 1 lao động
Tổng số lao động được sử dụng
Tổng số lao động hiện có
- Số vòng quay của vốn lưu động Doanh thu trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Lợi nhuận trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu trong kỳ h
Tên chỉ tiêu Công thức xác định - Số ngày luân chuyển bình quân một
vòng quay
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
365 ngày
Số vòng quay vốn lưu động
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Lợi nhuận trong kỳ
Vốn kinh doanh trong kỳ
Lợi nhuận trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Doanh thu trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ h
5. Nhóm chuyên xét về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội.
Các doanh nghiệp ngoài việc hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhằm tồn tại và
phát triển còn phải đạt hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội. Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả
kinh tế xã hội bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Tăng thu ngân sách: mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh thì phải có nhiệm vụ nộp cho ngân sách nhà nước dưới hình thức các loại thuế
GTGT, thuế lợi tức, thuế xuất khẩu nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt. Nhà nước sử dụng
những khoản thu này đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân, lĩnh vực phi sản xuất, xây
dựng các công trình công cộng, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân.
- Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, để tạo ra nhiều công ăn việc làm
cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự tìm tòi các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng quy
mô sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm và kinh doanh tổng hợp.
+Tích cực nghiên cứu, sản xuất và nhập những công nghệ mới, tiên tiến gắn liền
với sự sắp xếp hợp lý của cán bộ công nhân viên chức trong Xí nghiệp để họ chủ động
sáng tạo sản xuất kinh doanh.
+ Phát động phong trào thi đua nhằm không ngừng nâng cao chất lượng các sản
phẩm của Xí nghiệp đồng thời cử các nhân viên có kỹ năng kỹ xảo tốt về các tỉnh mà xí
nghiệp đã, đang và sắp cung cấp sản phẩm giúp cho người sử dụng giảm thiểu được những
sai sót do họ không hiểu biết nhiều về sản phẩm. Ngoài ra trên từng sản phẩm xí nghiệp
cũng luôn ghi rõ và dễ hiểu cách sử dụng và bảo quản giúp cho chu kỳ sống của sản phẩm
không ngừng được nâng cao.
- Xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm phá vỡ hợp đồng đối với khách hàng
do thiếu tinh thần trách nhiệm như chở hàng đi phục vụ ở vùng sâu, vùng xa mà để cho
hàng giảm chất lượng, lắp ráp ẩu bởi vì hàng của xí nghiệp chiếm phần lớn là các sản
phẩm phục vụ cho sự phát triển cân đối giữa thành thị và vùng sâu vùng xa giúp cho mọi
người dân mở mang kiến thức thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
+ Giáo dục tinh thần nhiệt tình chu đáo, đáng tin cậy của các cán bộ công nhân viên
khi giao hàng cũng như nhận hàng để nâng cao uy tín cho xí nghiệp .
h
VII. Quan điểm về nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp trong cơ chế thị
trường.
. Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh không những là thước đo chất lượng phản ánh trình độ
tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp
trên thị trường, trong khi đó lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự có mặt này, đồng thời là
mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp là: Luôn tồn tại, phát triển một cách vững chắc. Do
vậy thu nhập của doanh nghiệp phải không ngừng nâng lên, nhưng trong điều kiện vốn và
các yếu tố kỹ thuật chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận bắt buộc
các doanh nghiệp phải tăng hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều
kiện hết sức quan trọng trong công việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Một cách nhìn khác sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo ra của
1. Quá trình hình thành
Xí nghiệp Điện Tử Truyền Hình là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Công Ty
Đầu Tư và Phát Triển Công Nghệ Truyền Hình Việt Nam.
Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình Việt Nam căn cứ vào:
- Nghị định số 52 /CP ngày 16/8/1993 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của tổ chức bộ máy của Đài Truyền Hình Việt Nam.
- Quyết định số 918 QĐ/TC - THVN ngày 10/12/1996 của Tổng giám đốc Đài
Truyền Hình Việt Nam quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy của
doanh nghiệp nhà nước: Công Ty Đầu Tư và Phát Triển Công Nghệ Truyền Hình Việt
Nam - VTC
- Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công Ty Đầu tư và phát triển công nghệ Truyền
Hình Việt Nam được tổng Giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam phê duyệt kèm theo quyết
định số 979 QD/TC - THVN ngày 12/12/1996.
- Căn cứ vào đề nghị của giám đốc Công Ty Đầu tư và phát triển công nghệ Truyền
Hình Việt Nam - VTC và trưởng ban tổ chức cán bộ Đào tạo.
Quyết định số 986 QĐ/TC - THVN ngày 12/12/1996 về việc thành lập Xí nghiệp
Điện Tử Truyền Hình .
- Xí nghiệp Điện Tử Truyền Hình trực thuộc Công Ty Đầu Tư và Phát Triển công
nghệ Truyền Hình Việt Nam - VTC. Xí nghiệp Điện Tử Truyền Hình là đơn vị hạch toán
phụ thuộc có con dấu riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng - Trụ sở Xí nghiệp
Điện Tử Truyền Hình đặt tại số 9 - phố Lạc Trung - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội, nay
đổi thành số 65 - phố Lạc Trung - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội.
2. Quá trình phát triển
- Giai đoạn trước 12/12/1996: Xí nghiệp chưa được thành lập
h
- Giai đoạn từ 12/12/1996 đến nay: Trước những khó khăn của cơ chế thị trường
nhưng doanh thu của Xí nghiệp vẫn liên tục tăng năm 1997 doanh thu mới có 20,5 tỷ đến
năm 2001 doanh thu của Xí nghiệp đã tăng lên đến 32,5 tỷ. Để đạt được kết qủa như thế
Xí nghiệp đã thực hiện một số vấn đề sau:
h
chuyền sản xuất, lắp ráp các loại máy thu hình, máy thu thanh, Radio Catssete và các sản
phẩm Điện Tử khác từ linh kiện rời (IKD, CKD ) Công suất từ 15.000 – 18.000 chiếc
radio/tháng; 100 - 150 chiếc ti vi màu 20''/ngày; 500 - 800 chiếc ti vi đen trắng/ngày.
Có hệ thống thiết bị chuyên dụng như: Thiết bị trung tâm gồm các loại máy phát
FM, AM, SW, máy đo độ nhạy đầu vào, máy đo mức độ tạp âm của đầu radio, máy phát
chuẩn, tròn, chấm, carô, máy phát quét, máy phát sọc màu hệ PAL, SECAM, HTSC đồng
thời có các máy đo Ô xylô và hệ thống cân chỉnh khác. Hệ thống chạy là, kiểm tra độ rung,
độ bền chắc, nhiệt độ cao, điện áp cao có máy đo kiểm tra độ nhạy (dB) và kiểm soát
được trong các tần số bang MW, SW, FM của sóng radio và tần số các băng VL,VH, UHF
của máy thu hình. Ngoài ra xí nghiệp còn có phương tiện vận tải phục vụ cho công tác
kinh doanh, sau bán hàng và bảo hành thiết bị bán ra do xí nghiệp cung ứng.
5. Về năng lực kỹ thuật
Xí nghiệp Điện Tử Truyền Hình có đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, kỹ thuật viên,
công nhân kỹ thuật lành nghề có kinh nghiệm và uy tín. Xí nghiệp đã tổ chức sản xuất lắp
ráp các loại máy thu thanh, radio catssete và các loại máy thu hình màu từ 14'' đến 29'' ở
các dạng IKD, CKD.
Do có kinh nghiệm về chuyên ngành nên trong những năm qua đã tổ chức sản xuất,
lắp ráp các loại máy có chất lượng tốt phù hợp với điều kiện của từng vùng, đồng bộ với
điều kiện phát sóng hiện tại của Đài Truyền Hình Việt Nam và đài Tiếng nói Việt Nam,
máy thu thanh, máy thu hình của Xí nghiệp lắp ráp đã được cơ quan quản lý chất lượng
của ngành chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Hà Nội và Tổng cục tiêu chuẩn đo
lường chất lượng nhà nước kiểm tra, đánh giá các thông số kỹ thuật theo tiêu chuẩn Việt
Nam.
Xí nghiệp đã xác định được đặc điểm của sản phẩm là mang tính chất xã hội cao.
Đây không chỉ là một loại hàng hoá thông thường mà hàng hoá này phải đặt trong mối
quan hệ cung ứng gắn liền với trách nhiệm lâu dài của ngành phát thanh - Truyền Hình.
Do vậy trách nhiệm trước mắt và lâu dài của Xí nghiệp là không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm kết hợp với thực hiện các biện pháp đồng bộ về trang bị, dịch vụ bảo
hành, bảo dưỡng, bảo trì.
Sơ đồ tổ chức của Xí nghiệp Điện Tử Truyền Hình
Ta biết rằng bộ máy quản trị là trung tâm đầu não chỉ huy mọi hoạt động của Xí
nghiệp và hiệu quả hoạt động của nó hoàn toàn do nó quyết định, mọi phương hướng, kế
hoạch hoạt động trong mọi hoàn cảnh, thời gian, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn Xí
nghiệp phải vượt qua. Điều quan trọng của bộ máy quản trị là biết đưa ra giải pháp đúng
ản xuất
Quản đốc
phân xư
ởng
Phó quản đốc phụ
trách CKD
Phó quản đốc phụ
trách SKD
h
đắn, kịp thời, hợp lý trước bất cứ tình huống nào. Có thể nói rằng đường lối mà bộ máy
quản trị vạch ra không đơn thuần có tác dụng tức thời mà có ảnh hưởng lâu dài tới hoạt
động và hiệu quả hoạt động của Xí nghiệp, nếu những kế hoạch định hướng đúng sẽ giúp
Xí nghiệp vượt qua những thử thách và phát triển nhanh chóng vượt bậc, ngược lại nếu sai
lầm có thể làm Xí nghiệp phá sản là đều hoàn toàn có thể xảy ra. Chẳng hạn, hiện tại Xí
nghiệp đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như cạnh tranh quá gay gắt đẩy Xí nghiệp
vào tình thế một mất một còn, thiếu vốn trong khi dây chuyền sản xuất đã quá cũ và kém
sức cạnh tranh về sản phẩm trên vào đó giả cả radio, Ti vi liên tục giảm, tăng chi phí
Nếu bộ máy quản trị không đưa ra được những biện pháp kịp thời, đúng đắn thì hậu quả
thật khó lường. Khi nhân mạnh đến tầm quan trọng của bộ máy quản trị để từ đó chúng ta
có những biện pháp thiết thực để tổ chức bộ máy quản trị đủ sức để tiều hành, quản lý Xí
nghiệp có hiệu quả nhất.
Hiệu quả của một bộ máy quản trị thể hiện qua kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, cụ thể là doanh thu, lợi nhuận, của người lao động trong Xí nghiệp và mức nộp
ngân sách.
- Phòng tài chính kế toán: Chịu sự điều hành quản lý trực tiếp của phó giám đốc phụ
trách tài chính, là phòng có chức năng phản ánh và giám đốc cả hoạt động kinh tế trong
toàn Xí nghiệp . Phòng tài chính kế toán giữ vụ trí quan trọng trong việc điều hành quản
lý kinh tế, thông tin kinh tế trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh.