Luận văn: Thực trạng và một số giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh NHCT Hoàn Kiếm - Pdf 15


Luận văn

Thực trạng và một số giải
pháp phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế tại Chi
nhánh NHCT Hoàn Kiếm
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới diễn ra
ngày càng mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để
đạt đựơc vị trí thuận lợi trong sự phân công lao động quốc tế và trao đổi
thương mại quốc tế. Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển
mạnh mẽ lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Đối với nước ta phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan
nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định
hướng XHCN. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta vẫn đang trong
qúa trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Chỉ có
thông qua hoạt động kinh tế đối ngoại chúng ta mới tạo đựơc nguồn ngoại tệ
cần thiết để phục vụ nhập khẩu kỹ thuật hiện đại, công nghệ thiết bị, đồng
thời phát huy tiềm năng của đất nước, tận dụng nguồn vốn và công nghệ nước
ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, rút
ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước từng bước hội nhập với
nền kinh tế khu vực và thế giới.
Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế đối
ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và
vai trò quan trong, nó được xem là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế
đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế là một trong những mặt hoạt động quan
trọng của Ngân hàng, nó có liên quan đến nhiều mặt hoạt động khác của Ngân
hàng.
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm mới tham gia hoạt động thanh toán


Hoàng Đức Vinh. 3

4

CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
I- Sự cần thiết của hoạt động thanh toán quốc tế qua Ngân hàng.
1. Khái niệm về thanh toán quốc tế.
“ Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghiệp vụ và yêu cầu về tiền tệ,
phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ
chức tài chính quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau
để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các
hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại Ngân hàng”.
2. Sự cần thiết của thanh toán quốc tế qua Ngân hàng thương mại.
Khi đề cập đến hoạt động ngoại thương là đề cập đến quan hệ buôn bán
trao đổi hàng hoá giữa các nước. Về cơ bản thanh toán quốc tế phát sinh dựa

- Đối với nền kinh tế mà đặc biệt là đối với hoạt động kinh tế đối ngoại:
Thanh toán quốc tế có vị trí quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh tế
đối ngoại nói chung và trong hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên vị trí
hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến
lược phát triển kinh tế của mình.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi
hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.
Nếu không có hoạt động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế
đối ngoại.
Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia quan hệ kinh
tế đối ngoại. Khi thiết lập mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ thương mại

6

với các nước thì điều kiện quan trọng không thể thiếu đựơc là phải thiết lập
quan hệ thanh toán quốc tế.
Thanh toan quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, nếu
việc tổ chức thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn chính
xác sẽ làm cho các nhà sản xuất kinh doanh sẽ yên tâm và đẩy mạnh hoạt
động xuất nhập khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại
phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.
Thanh toán quốc tế hạn chế rủi ro trong qúa trình thực hiện hợp đồng
kinh tế đối ngoại: Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của bạn
hàng cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng
thanh toán của người mua, của con nợ, đồng thời trong điều kiện tiền tệ
thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của con nợ là rất bấp bênh, hơn
nữa trong cơ chế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng nhiều vì vậy rủi
trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại ngày càng lớn. Nếu tổ chức
tốt hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập

cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương
thức chuyển tiền do khách hàng yêu cầu”.
Phương thức này có thể mô tả khái quát theo sơ đồ sau:
(1) (3)

(2) Người chuyển
ti

n

Người nhận chuyển
ti

n

Ngân hàng nước nhận
chuyển tiền
Ngân hàng nước
người chuyển tiền

8

(1). Người chuyển tiền yêu cầu Ngân hàng nước mình chuyển một số
tiền nhất định cho người được hưởng ở nước ngoài.

Đặc điểm của phương thức này là một phương thức thanh toán không có
sự tham gia của Ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi
thanh toán. Chỉ mở tài khoản đặc biệt, không mở tài khoản song biên. Nếu
người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi,
không có giá trị quyết toán giữa hai bên, chỉ có hai bên tham gia thanh toán:
người bán và người mua. Trình tự tiến hành:
(1). Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá.
(2). Báo nợ trực tiếp.
(3). Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định
kỳ thanh toán.

(3) (3) (3)
(2)
(1)

Phương thức này thường được dùng cho thanh toán nội địa, hai bên mua
bán phải thực sự tin cậy lẫn nhau. Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở
nước ngoài, hay dùng trong thanh toán phi mậu dịch như: tiền cước phí vận
tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi
cho vay và đầu tư. Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần thường
xuyên trong một thời kỳ nhất định. Phương thức này chỉ có lợi cho người
mua.
Ngân hàng bên bán
Ngân hàng bên
mua

Người bán


11

(6). Sau khi đã được người nhập khẩu trả tiền, Ngân hàng nhập khẩu làm
thủ tục chuyển trả số tiền ấy cho người xuất khẩu thông qua Ngân hàng xuất
khẩu.
(7). Khi đã nhận được tiền do Ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền đến,
Ngân hàng xuất khẩu trả số tiền đó cho người xuất khẩu.

(1) (2) (7) (4) (5)

(3)
(6)
Trong thanh toán uỷ thác thu, nếu người xuất khẩu không thực hiện trọn
vẹn và đầy đủ các cam kết với người nhập khẩu trong hợp đồng mua bán
ngoại thương thì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán (một phần hay
toàn bộ) số tiền trên giấy đòi tiền của người xuất khẩu.
Trong thanh toán uỷ thác thu, người xuất khẩu thông qua Ngân hàng chỉ
khống chế được quyền định đoạt hàng hoá, mà chưa khống chế được việc trả
tiền của người nhập khẩu. Người nhập khẩu có thể bằng cách chưa nhận bộ
chứng từ hàng hoá, để kéo dài việc trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc có thể
không trả tiền khi tình hình thị trường bất lợi cho họ.
Đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, Ngân hàng chỉ là người trung
gian thu hộ tiền cho người xuất khẩu, còn không có trách nhiệm với việc trả
tiền của người nhập khẩu. Hình thức này tuy về thủ tục có phần đơn giản song
việc trả tiền còn chậm.
Trong thanh toán ngoại thương, nhờ thu được chia làm hai loại:

D/P).
Nếu là D/A thì người nhập khẩu phải ký tên chấp nhận trả tiền trên hối
phiếu do người xuất khẩu ký phát, thì mới được nhận hàng trao cho bộ chứng
từ hàng hoá.
Nếu là D/P thì người nhập khẩu phải trả ngay số tiền theo tờ phiếu trả
tiền ngay do người xuất khẩu lập, thì mới đuợc quyền lấy bộ chứng từ hàng
hoá từ Ngân hàng.
Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of credit – L/C).
Trong thanh toán quốc tế nói chung, đặc biệt trong thanh toán ngoại
thương hình thức thanh toán bằng L/C được sử dụng rất phổ biến. Khi vận
dụng vào hình thức thanh toán này, các nước dựa vào “ Bản điều lệ và cách
thức thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ – UCP 500” do phòng thương
mại quốc tế Paris ban hành năm 1993.
Theo “ Bản điều lệ và cách thức thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ” thì tín dụng chứng từ được hiểu như sau:

13

“ Thư tín dụng (L/C) là một bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đó
một Ngân hàng (Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu) theo yêu cầu của
người nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến chi nhánh hay đại lý của ngân
hàng này ở nước ngoài (Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) một L/C cho
người được hưởng (Người xuất khẩu) một số tiền nhất định trong thời hạn qui
định, với điều kiện người được hưởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù
hợp với những nội dung, điều kiện ghi trong thư tín dụng “.
Tham gia nghịệp vụ thanh toán bằng thư tín dụng có thể gồm nhiều bên,
thông thường có các bên sau:
- Người yêu cầu mở thư tín dụng (The applicant for the credit) là người
nhập khẩu (Người mua).
- Người hưởng thư tín dụng (The benifitciary) là người xuất khẩu (Người

ngay bộ các chứng từ hàng hoá và hối phiếu gửi về ngân hàng phục vụ mình,
yêu cầu ngân hàng này trả tiền cho bộ chứng từ đó.
(6). Ngân hàng thông báo nhận được bộ chứng từ. Kiểm tra kỹ nội dung
các chứng từ đó nếu thấy phù hợp thì ngân hàng thanh toán (hoặc chấp nhận
chiết khấu theo những điều khoản của L/C).
(7). Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng
phục vụ người nhập khẩu.
(8). Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu (Ngân hàng phát hành L/C) sau
khi nhận đựơc bộ các chứng từ từ Ngân hàng thông báo chuyển đến, tiến hành
kiểm tra kỹ các chứng từ này, nếu thấy đáp ứng được những yêu cầu của L/C,
thì chuyển tiền trả cho Ngân hàng thông báo.
(9). Ngân hàng phát hành L/C thông báo cho người nhập khẩu biết đã trả
tiền cho người xuất khẩu, đồng thời yêu cầu người nhập khẩu hoàn lại số tiền
này, sau đó Ngân hàng phát hành L/C trao người nhập khẩu bộ chứng từ để
làm căn cứ nhận hàng. 15

(2)
(7)
(8)
(3) (5) (6) (1) (9)

(4) Nét đặc thù trong thanh toán L/C là việc trả tiền của Ngân hàng chỉ căn
cứ vào sự phù hợp của các chứng từ hàng hoá với những điều kiện nêu trong
thư tín dụng mà không trực tiếp dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thương. Do

- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable L/C): Khi loại L/C này
được mở thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hay
huỷ bỏ những nội dung của nó, nếu không có sự đồng ý của người được
hưởng L/C. Như vậy, tính đảm bảo của L/C này rất cao, nên nó được dùng
khá phổ biến trong thanh toán thương mại quốc tế. Loại L/C này là cơ sở của
các loại L/C khác.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Irevocable confirmed
L/C): Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, đồng thời lại có sự xác nhận
trả tiền của một Ngân hàng nhất định. Dùng thư tín dụng loại này thì việc
nhận tiền của người xuất khẩu là vô cùng chắc chắn.
Đối với người nhập khẩu khi phải mở loại L/C này thì ngoài việc phải ký
vốn mở L/C tại Ngân hàng, trả thủ tục phí mở L/C, còn phải chịu thêm phí
xác nhận và đặt cọc tiền xác nhận cho Ngân hàng xác nhận L/C. Đó là những
bất lợi cho người nhập khẩu.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ miễn truy đòi (Irrevocable without
recuorse L/C): Khi sử dụng loại L/C này, thì người xuất khẩu (người hưởng
lợi L/C) phải phát hành một hối phiếu ghi “ không được truy đòi người phát
phiếu”. Như vậy, sau khi đã thanh toán cho người huởng, Ngân hàng mở L/C
mất quyền truy đòi lại số tiền của L/C bất kỳ trong trường hợp nào. Loại L/C
này được dùng rất phổ biến trong các hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có thể chuyển nhượng đựơc
(Irrevocable Transferable L/C): Đây là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ,
trong đó quy định quyền của Ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một
phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người khác, theo lệnh của người được
hưởng lợi đầu tiên. Loại L/C này chỉ được chuyển nhượng một lần, chi phí
cho việc chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên chịu.
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C): Thông thường khi tiến
hành mua bán qua trung gian thì người ta dùng loại thư tín dụng này.

17

18

Để hoạt động thanh toán quốc tế của một Ngân hàng thương mại ngày
càng phát triển thì phải không ngừng chú trọng nâng cao trình độ của cán bộ
Ngân hàng nói chung và cán bộ thanh toán nói riêng, đầu tư và nâng cao trang
thiết bị máy móc cho các phòng nghiệp vụ. Ngân hàng phải tạo được uy tín,
nâng cao được chất lượng của các dịch vụ Ngân hàng để thu hút đựơc nhiều
khách hàng về giao dịch từ đó có thể khai thác được nguồn ngoại tệ cần thiết
phục vụ cho nghiệp vụ cho vay ngoại tệ tạo điều kiện mở L/C.
Bên cạnh đấy cũng phải thấy rằng kiến thức của khách hàng về lĩnh vực
ngoại thương nói chung cũng như hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng sẽ
ảnh hưởng tới chất lượng của quá trình thanh toán. Thiện chí của các bên
tham gia trong khi mua bán cũng ảnh hưởng tới quá trình thanh toán. Và một
điều quan trọng là khách hàng của Ngân hàng phải có khă năng thanh toán.
Chính vì vây mà cán bộ thanh toán cần phải tư vấn kỹ cho khách hàng, xem
xét khả năng tài chính của khách hàng và Ngân hàng phải có các biện pháp
thu hút được nhiều khách hàng hơn.
2. Nhân tố khách quan.
Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế của
các Ngân hàng thương mại như: Tình hình kinh tế xã hội của đất nước nói
chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng, đặc biệt là hoạt động xuất
nhập khẩu. Các chính sách kinh tế đối ngoai, chính sách tài chính quốc gia
của đất nước tạo bước phát triển về hoạt động kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh
hoạt động xuất nhập khẩu, khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài, cải tổ lại hệ
thống Ngân hàng .v.v từ đó thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế phát triển.
Bên cạnh đấy hệ thống thanh toán của hệ thông Ngân hàng, quy trình các
nghiệp vụ thanh toán cần phải được hoàn thiện để thúc đẩy hoạt động thanh
toán quốc tế được nhanh chóng hơn, chính xác hơn.
từ 170 tỷ lên từ 600 tỷ dến 700 tỷ.
Doanh số cho vay năm 2000 đạt 1690 tỷ đồng, tăng 18% so với năm
1999. Năm 2001 dự nợ tăng 17% so với năm 2000, trong năm không có phát

21

sinh nợ quá hạn. Năm 2002, tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh đạt 808 tỷ
đồng, tăng 26% so với năm 2001.
Đến nay tổng cán bộ công nhân viên của Ngân hàng hơn 230 người,
trong đó có một giám đốc và ba phó giám đốc. Là một đơn vị trực thuộc Ngân
hàng công thương Việt Nam. Hiện nay ngân hàng có 10 phòng ban, mỗi
phòng ban thực hiện các chức năng và mảng công việc riêng, cụ thể có:
Phòng nguồn vốn, Phòng kinh doanh, Phòng kế toán, Phòng kinh doanh đối
ngoại, Phòng ngân quỹ, Phòng vi tính, Phòng kiểm soát, Phòng thu nợ, Phòng
tổ chức hành chính nhân sự, Phòng giao dịch Đồng Xuân, Phòng dịch vụ
chuyển tiền cá nhân, Tổ dịch vụ Sài Đồng. Riêng phòng nguồn vốn có 11 quỹ
tiết kiệm nằm rải rác trên địa bàn quận.
Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng được phát triển thêm,
hiện nay Ngân hàng sẵn sàng đáp ứng các dịch vụ ngân hàng – tài chính như:
Mở tài khoản tiền gửi doanh nghiệp và cá nhân, nhận tiền gửi tài khoản bằng
đồng VNĐ và ngoại tệ, tín dụng, bảo lãnh, thanh toán trong nước và quốc tế,
chuyển kiều hối, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế - séc du lịch, mua bán ngoại
tệ, dịch vụ chuyển tiền nhanh, dich vụ chi trả tiền lương, dịch vụ kho quỹ.
Đặc biệt, phục vụ tận doanh nghiệp: Dịch vụ Bảo hiểm, dịch vụ thẻ
ATM, dịch vụ tư vấn quản lý tài chính,.v.v
2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh mấy năm gần
đây.
Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và của ngành ngân hàng,
nhưng Ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã cố gắng vưon lên về nhiều mặt
và đã đạt được những kết quả tốt đẹp, đáng khích lệ. Kết quả đó củng cố được

Mạng lưới quỹ tiết kiệm của Chi nhánh nằm rải rác khắp địa bàn quận,
tận thu nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, tốc độ nguồn vốn huy động tăng
trưởng cao trong bối cảnh hầu hết các Ngân hàng thương mại đều tăng lãi suất
huy động để thu hút nguồn vốn.

23

Năm 2000 thu được 530 tỷ đồng tăng 12% so với năm 1999 đưa tổng
nguồn vốn của Chi nhánh lên đến hơn 2182 tỷ đồng, tăng 14% so với năm
1999.
Năm 2001, tổng nguồn vốn huy động là 4200 tỷ đồng, tăng 2027 tỷ
đồng, vượt 93% so với năm 2000.
Năm 2002, đạt 4700 tỷ đồng (tăng 12,6% và vượt 5,2 % so với kế hoạch
đặt ra).
Có thể nói, sự tăng trưởng lớn về nguồn vốn không chỉ là kết quả của
phong cách phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình chu đáo, mà còn khẳng định
về uy tín và vị thế của Chi nhánh trên thương trường. Với tổng nguồn vốn lớn
và ổn định, Chi nhánh có đủ khả nằng để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn đối với
khách hàng, đồng thời chuyển vốn về Ngân hàng công thương Việt Nam, góp
phần điều hoà toàn bộ hệ thống và tham gia thị trường vốn.
2. Hoạt động tín dụng:
Là hoạt động cơ bản, quan trọng của Chi nhánh. Vì vậy đây không chỉ là
nhiệm vụ của ngành cán bộ kinh doanh, mà là lĩnh vực lôi cuốn tất cả các
phòng ban, các hoạt động hướng về phục vụ một cách tốt nhất đối với khách
hàng.
Mục tiêu cơ bản được đặt ra là nâng cao chất lượng tín dụng, hoạt động
tín dụng chủ yếu đi vào chiều sâu. Chính vì vậy Chi nhánh đã liên tục rà soát,
đáng giá chất lượng tín dụng sàng lọc và nâng cao chất lượng dư nợ đối với
những khách hàng truyền thống, đồng thời không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm
và tiếp thị các khách hàng mới là các tổng công ty 90, 91 và các doanh nghịêp

đầu phát triển mạnh từ cuối năm 1997 và đến năm 1998 trở thành hiện tượng
quan trọng đóng góp lớn vào hiệu quả của Ngân hàng công thương Hoàn
Kiếm. Năm 2000 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong hoạt động kinh
doanh đối ngoại của Chi nhánh. Với tinh thần cố gắng làm việc phấn đấu
vươn lên, với nghiệp vụ vững vàng và phong cách giao dịch được hoàn thiện
một cách rõ nét của từng cán bộ kinh doanh đối ngoại, sự phối hợp nhuần

Trích đoạn Nâng cao năng lực thực hiện thanh toán của đội ngũ cán bộ nhân viên Giải pháp thu hút khách hàng Tư vấn cho khách hàng trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế Đảm bảo an toàn trong hoạt động thanh toán quốc tế Đối với Ngân hàng công thương Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status