LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới diễn ra
ngày càng mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để
đạt đựơc vị trí thuận lợi trong sự phân công lao động quốc tế và trao đổi
thương mại quốc tế. Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển
mạnh mẽ lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Đối với nước ta phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan
nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định
hướng XHCN. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta vẫn đang trong
qúa trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Chỉ có
thông qua hoạt động kinh tế đối ngoại chúng ta mới tạo đựơc nguồn ngoại tệ
cần thiết để phục vụ nhập khẩu kỹ thuật hiện đại, công nghệ thiết bị, đồng
thời phát huy tiềm năng của đất nước, tận dụng nguồn vốn và công nghệ nước
ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, rút
ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước từng bước hội nhập với
nền kinh tế khu vực và thế giới.
Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế đối
ngoại, hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và
vai trò quan trong, nó được xem là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế
đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế là một trong những mặt hoạt động quan
trọng của Ngân hàng, nó có liên quan đến nhiều mặt hoạt động khác của Ngân
hàng.
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm mới tham gia hoạt động thanh toán
nhưng đã đạt được một số thành quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động thanh
toán quốc tế của Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm với quy mô nhỏ và còn
gặp nhiều khó khăn. Việc tìm ra giải pháp để phát triển là hết sức cần thiết và
cấp bách, nó không những tạo điều kiện cho phục vụ hoạt động xuất nhập
2
khẩu, hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần vào việc thực hiện đường lối đổi
4
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
I- Sự cần thiết của hoạt động thanh toán quốc tế qua Ngân hàng.
1. Khái niệm về thanh toán quốc tế.
“ Thanh toán quốc tế là việc chi trả các nghiệp vụ và yêu cầu về tiền tệ,
phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ
chức tài chính quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau
để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các
hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại Ngân hàng”.
2. Sự cần thiết của thanh toán quốc tế qua Ngân hàng thương mại.
Khi đề cập đến hoạt động ngoại thương là đề cập đến quan hệ buôn bán
trao đổi hàng hoá giữa các nước. Về cơ bản thanh toán quốc tế phát sinh dựa
trên cơ sở hoạt động ngoại thương. Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của
một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậy, nếu công tác thanh toán
quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị của hàng hoá xuất khẩu mới được thực
hiện, góp phần thúc đẩy ngoại thương phát triển. Thanh toán quốc tế trở thành
một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại.
Nhưng trong hoạt động mua bán luôn gắn liền với lợi ích của các bên
tham gia. Công tác thanh toán trong nội địa từng nước đã khó khăn phức tạp
nhưng thanh toán quốc tế càng khó khăn phức tạp hơn nhiều (các bên tham
gia hợp đồng khác nhau ở nhiều lĩnh vực: Chế độ chính trị, kinh tế, xã hội,
…). Trong mối quan hệ này mỗi bên tham gia ngoài việc chấp hành luật pháp
tế đối ngoại. Khi thiết lập mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ thương mại
6
với các nước thì điều kiện quan trọng không thể thiếu đựơc là phải thiết lập
quan hệ thanh toán quốc tế.
Thanh toan quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, nếu
việc tổ chức thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn chính
xác sẽ làm cho các nhà sản xuất kinh doanh sẽ yên tâm và đẩy mạnh hoạt
động xuất nhập khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại
phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.
Thanh toán quốc tế hạn chế rủi ro trong qúa trình thực hiện hợp đồng
kinh tế đối ngoại: Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của bạn
hàng cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng
thanh toán của người mua, của con nợ, đồng thời trong điều kiện tiền tệ
thường xuyên biến động, khả năng thanh toán của con nợ là rất bấp bênh, hơn
nữa trong cơ chế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng nhiều vì vậy rủi
trong việc thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại ngày càng lớn. Nếu tổ chức
tốt hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhờ đó thúc đẩy
hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
- Đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Việc hoàn thiện để phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế có một ý nghĩa hết sức thiết thực, hoạt
động thanh toán quốc tế là một dịch vụ thuần tuý làm tăng khả năng cạnh
tranh của Ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của Ngân
hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng thu hút thêm nhiều
khách hàng, trên cơ sở đó Ngân hàng tăng được quy mô hoạt động của mình,
giúp cho Ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo
được niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể
khai thác được nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn
Người nhận chuyển
tiền
Ngân hàng nước nhận
chuyển tiền
Ngân hàng nước
người chuyển
tiền
8
(1). Người chuyển tiền yêu cầu Ngân hàng nước mình chuyển một số
tiền nhất định cho người được hưởng ở nước ngoài.
(2). Ngân hàng phục vụ người chuyển tiền nhận thực hiện yêu cầu của
người chuyển tiền, làm thủ tục chuyển tiền ra nứơc ngoài.
(3). Ngân hàng nước ngoài nhận đựơc chuyển tiền sau khi đã nhận tiền
chuyển đến, thực hiện trả tiền cho người nhận.
Thanh toán chuyển tiền bao gồm các loại:
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T).
Chuyển tiền bằng điện tốc độ nhanh, nhưng chi phí cao. Ngày nay khi
tham gia mạng SWITF thì hầu hết chuyển tiền được thực hiện trên mạng
SWITF.
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T).
Chuyển tiền bằng thư chi phí thấp hơn chuyển tiền bằng điện, song tốc
độ lại chậm hơn. Chuyển tiền bằng điện thì người chuyển tiền không bị động
vốn lâu ngày, nhưng tỷ giá ngoại tệ áp dụng trong điện hối cao hơn tỷ giá
ngoại tệ trong thư hối.
Chuyển tiền là một phương thức thanh toán trực tiếp giữa hai bên.
Phương thức này rất đơn giản, ở đây Ngân hàng chỉ là người trung gian thực
hiện việc thanh toán theo uỷ nhiệm hưởng hoa hồng, không bị ràng buộc gì về
tránh nhiệm. Khi áp dụng phương thức này thì giữa hai bên mua bán phải có
tín nhiệm rất cao, việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Vì
nước ngoài, hay dùng trong thanh toán phi mậu dịch như: tiền cước phí vận
tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi
cho vay và đầu tư. Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần thường
xuyên trong một thời kỳ nhất định. Phương thức này chỉ có lợi cho người
mua.
Ngân hàng bên
bán
Ngân hàng bên
mua
Người bán
Người mua
10
Phương thức thanh toán nhờ thu( Collection of payment).
“ Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán quốc tế
trong đó người xuất khẩu (người bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao
hàng, hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu (người mua), uỷ thác cho
Ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu nước ngoài, trên
cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu ký phát”.
Trong thanh toán quốc tế, khi sử dụng phương thức này các nước thường
vận dụng “ Bản quy tắc thông nhất về nhờ thu chứng từ thương mại – ICC
522” do phòng thương mại quốc tế Paris ban hành, bản sửa đổi năm 1995.
* Quy trình thanh toán uỷ thác thu:
Khi việc chi trả được tiến hành theo phương thức uỷ thác thu, thì có thể
mô tả khái quát quy trình đó như sau:
(1). Căn cứ vào hợp đông mua bán ngoại thương, người xuất khẩu tiến
hành gửi hàng cho người nhập.
(2). Ngay sau khi đã gửi hàng ra nước ngoài, người xuất khẩu lập bộ
chứng từ, phát hành hối phiếu và gửi cho Ngân hàng phục vụ mình để nhờ
Ngân hàng thu hộ tiền.
tiền của người nhập khẩu. Người nhập khẩu có thể bằng cách chưa nhận bộ
chứng từ hàng hoá, để kéo dài việc trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc có thể
không trả tiền khi tình hình thị trường bất lợi cho họ.
Đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, Ngân hàng chỉ là người trung
gian thu hộ tiền cho người xuất khẩu, còn không có trách nhiệm với việc trả
tiền của người nhập khẩu. Hình thức này tuy về thủ tục có phần đơn giản song
việc trả tiền còn chậm.
Trong thanh toán ngoại thương, nhờ thu được chia làm hai loại:
Người xuất
khẩu
Người nhập
khẩu
Ngân hàng
nước xuất
Ngân hàng nước
nhập khẩu
12
a. Nhờ thu phiếu trơn (nhờ thu không kèm chứng từ – Clean collection):
Khi việc đòi tiền chỉ dựa trên chứng từ đòi tiền là hối phiếu do người xuất
khẩu ký phát, mà không kèm theo các chứng từ hàng hoá, thì được gọi là nhờ
thu phiếu trơn.
Loại này thường được dùng trong thanh toán tiền chi trả về dịch vụ, cước
phí bảo hiểm, tiền phạt, tiền bồi thường,…
b. Uỷ thác thu kèm chứng từ (Documentary collectttion). Khi việc đòi
tiền, ngoài hối phiếu do người xuất khẩu ký phát, còn phải kèm theo các
chứng từ về hàng hoá, gọi là uỷ thác thu kèm chứng từ.
Tuỳ theo cách thức trả tiền của người nhập khẩu, mà uỷ thác thu kèm
chứng từ có thể là chấp nhận trả tiền trao chứng từ (Documents against
acceptance – D/A) hoặc trả tiền trao chứng từ (Documents against payment –
Các ngân hàng liên quan: ít nhất có hai Ngân hàng tham gia: Ngân hàng
mở L/C còn gọi là Ngân hàng phát hành L/C (The issuing bank), Ngân hàng
này có trách nhiệm trích trả tiền cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ
chứng từ phù hợp với L/C; Ngân hàng thông báo L/C (Advising Bank) là Chi
nhánh Ngân hàng hoặc đại lý của Ngân hàng phát hành L/C hoặc Ngân hàng
phục vụ người xuất khẩu.
Tuỳ theo từng L/C cụ thể, mà còn có các Ngân hàng khác tham gia như:
- Ngân hàng thanh toán, chiết khấu (The Negotiating Bank) : Ngân hàng
này trực tiếp trả tiền cho L/C. Trên thực tế Ngân hàng thanh toán L/C chính là
Ngân hàng L/C hoặc Ngân hành thông báo, hoặc một ngân hàng nào đó do
Ngân hàng phát hành L/C chỉ định.
- Ngân hàng xác nhận L/C (The confirming Bank). Theo yêu cầu của
người hưởng lợi, một Ngân hàng đứng ra xác nhân L/C sẽ cùng với Ngân
hàng phát hành L/C có trách nhiệm trả tiền đối với L/C.
* Qui trình thanh toán L/C:
14
(1). Người nhập khẩu dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thương ký với
người xuất khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình, yêu cầu
Ngân hàng này mở L/C cho người xuất khẩu hưởng.
(2). Theo đơn xin mở L/C, Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu mở một
L/C (phát hành L/C) cho người xuất khẩu hưởng. Ngân hàng này chuyển bản
chính L/C cho người xuất khẩu (Ngân hàng thông báo).
(3). Ngân hàng xuất khẩu xác nhận L/C bằng văn bản và gửi bản chính
L/C cho người xuất khẩu.
(4). Căn cứ vào nội dung của L/C, Người xuất khẩu thực hiện giao hàng
cho người nhập khẩu.
(5). Sau khi hoàn tất việc giao hàng, người xuất khẩu phải hoàn chỉnh
ngay bộ các chứng từ hàng hoá và hối phiếu gửi về ngân hàng phục vụ mình,
yêu cầu ngân hàng này trả tiền cho bộ chứng từ đó.
Thanh toán bằng L/C tuy có phức tạp về mặt thủ tục, song các nguyên
tắc thanh toán rất chặt chẽ, rõ ràng, nên việc nhận hàng và trả tiền luôn luôn
được đảm bảo. Vì thế, hình thức này được sử dụng rất rộng rãi trong thương
mại quốc tế.
Hiện nay trong thanh toán quốc tế có nhiều loại thư tín dụng được sử
dụng:
- Thư tín dụng có thể huỷ bỏ (Revocable L/C): Với loại này, sau khi L/C
được mở, thì nội dung của L/C có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất
cứ lúc nào, không cần có sự đồng ý của người được hưởng và người yêu cầu
mở L/C.
Như vậy, thư tín dụng này chưa phải là văn bản cam kết trả tiền thực sự,
mà mới chỉ là một thư hẹn sẽ trả tiền. Do vậy, loại L/C này ít được sử dụng.
Ngân hàng xuất
khẩu(Ngân hàng thông
báo L/C)
Ngân hàng nhập
khẩu (Ngân hàng mở
L/C)
Người xuất
khẩu
Người nhập
khẩu
16
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable L/C): Khi loại L/C này
được mở thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hay
huỷ bỏ những nội dung của nó, nếu không có sự đồng ý của người được
hưởng L/C. Như vậy, tính đảm bảo của L/C này rất cao, nên nó được dùng
khá phổ biến trong thanh toán thương mại quốc tế. Loại L/C này là cơ sở của
các loại L/C khác.
quốc tế. Thư tín dụng đối ứng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi một thư tín dụng đối
ứng nới nó đã được mở.
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C): Là loại thư tín dụng được
dùng để trả tiền nhiều lần, trong khuôn khổ thời hạn do hợp đồng mua bán
ngoại thương quy định. Sau khi thư tín dụng truớc đã được trả tiền song, thì
thư tín dụng kế tiếp tự động có hiệu lực. Khi khối lượng hàng hoá lớn được
giao đều đặn làm nhiều lần thì dùng loại L/C này sẽ rất thuận tiện.
- Thư tín dụng dự phòng (Stand-by L/C): Đây là loại thư tín dụng mà
Ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm trước người nhập khẩu về mặt tài chính
khi L/C tuy đã được mở, nhưng người xuất khẩu không thực hiện được nghĩa
vụ của mình đối với L/C. Loại L/C này được dùng phổ biến ở Mỹ.
III- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc của
Ngân hàng thương mại.
1. Nhân tố chủ quan.
Một trong những nhân tố để phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của
một Ngân hàng thương mại là đối với bản thân Ngân hàng phải có tiềm lực,
phải có khả năng để phát triển hoạt động thanh toán quốc tế.
Chất lượng thanh toán quốc tế phụ thuộc vào trình độ, khả năng xử lý
công việc của cán bộ thanh toán, phụ thuộc vào trang thiết bị máy móc phục
vụ cho việc trao đổi thông tin, phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ của Ngân hàng
có đủ đáp ứng kịp thời cho việc thanh toán và một điều quan trọng là phải có
sự lãnh đạo, phương hướng hoạt động đúng đắn của ban lanh đạo.
18
Để hoạt động thanh toán quốc tế của một Ngân hàng thương mại ngày
càng phát triển thì phải không ngừng chú trọng nâng cao trình độ của cán bộ
Ngân hàng nói chung và cán bộ thanh toán nói riêng, đầu tư và nâng cao trang
thiết bị máy móc cho các phòng nghiệp vụ. Ngân hàng phải tạo được uy tín,
nâng cao được chất lượng của các dịch vụ Ngân hàng để thu hút đựơc nhiều
khách hàng về giao dịch từ đó có thể khai thác được nguồn ngoại tệ cần thiết
I- Khái quát chung về chi nhánh Ngân Hàng Công thương Hoàn
Kiếm.
1. Giới thiệu khái quát về Chi nhánh.
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm có trụ sở tại 37 Hàng Bồ – Hà Nội.
Là một doanh nghiệp nhà nước, được hình thành trên cở sở cũ là Ngân hàng
Nhà nước chi nhánh quận Hoàn Kiếm vào thời kỳ hệ thống ngân hàng một
cấp. Lúc đó Ngân hàng chủ yếu phục vụ cho sự phát triển kinh tế quận Hoàn
Kiếm, doanh thu hoạt động của Ngân hàng lúc đó chỉ hơn 1 tỷ.
Năm 1985 thay đổi cơ chế quy mô hoạt động của ngân hàng, từ hệ thống
ngân hàng một cấp chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp cho nên vào
ngày 1/7/1988 Ngân hàng Nhà nước Hoàn Kiếm trở thành Ngân hàng Công
Thương khu vực Hoàn Kiếm, trực thuộc Ngân hàng thành phố Hà Nội.
Năm 1985 - 1986 dư nợ của ngân hàng hơn 200 tỷ, nguồn vốn chủ yếu là
các quỹ tiết kiệm, các luồng tiền gửi của dân cư. Do đặc thù hoạt động phục
vụ kinh tế quận cho nên doanh thu không lớn, mức độ rủi ro tiềm ẩn là rất
cao. Cho nên năm 1997 Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm quyết định
chuyển hướng, thay thế đội ngũ khách hàng, mở rộng cơ cấu nguồn vốn, hoạt
động phục vụ chủ yếu các doanh nghiệp lớn có tình hình tài chính lành mạnh,
có thị phần hàng hoá và biết sử dụng vốn của ngân hàng một cách có hiệu
quả. Nguồn vốn khoảng từ 300 tỷ đă lên 1600 tỷ vào cuối năm 1988 và dư nợ
từ 170 tỷ lên từ 600 tỷ dến 700 tỷ.
Doanh số cho vay năm 2000 đạt 1690 tỷ đồng, tăng 18% so với năm
1999. Năm 2001 dự nợ tăng 17% so với năm 2000, trong năm không có phát
21
sinh nợ quá hạn. Năm 2002, tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh đạt 808 tỷ
đồng, tăng 26% so với năm 2001.
Đến nay tổng cán bộ công nhân viên của Ngân hàng hơn 230 người,
trong đó có một giám đốc và ba phó giám đốc. Là một đơn vị trực thuộc Ngân
hàng công thương Việt Nam. Hiện nay ngân hàng có 10 phòng ban, mỗi
quỹ tiết kiệm, trong đó VNĐ chiếm gần 100% với lãi suất đầu vào rất lớn.
Việc cho vay tập trung chủ yếu ở các hợp tác xã, hợp tác tiểu thủ công nghiệp
thuộc kinh tế quận cùng các khách hàng tư nhân, cá thể. Từ đầu năm 1997 với
một tập thể ban lãnh đạo và lãnh đạo các phòng ban mới kiện toàn, có tâm
huyết, nhiệt tình, tận tâm với nghề, đoàn kết một lòng với sự chỉ đạo của
Ngân hàng công thương Viêt Nam và xu thế phát triển kinh tế của đất nứơc.
Khởi đầu là sự thay đổi trong cách đánh giá, nhìn nhận về cơ cấu chiến lược
khách hàng, chi nhánh đã tìm hiểu, tiếp cận thuyết phục được để đầu tư cho
những khách hàng có tiềm lực kinh tế dồi dào, có thế mạnh trong cạnh tranh,
hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Với nền kinh tế đang ngày càng tiến gần ngữơng cửa hội nhập : Mở cửa
và hội nhập đang tạo ra cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp Việt
Nam và những người bạn đồng hành với nó - các ngân hàng.
Nhận thức rõ cơ hội và thách thức, bám sát chỉ đạo của Ngân hàng công
thương Việt Nam, cấp uỷ chính quyền, tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của bạn
hàng, Chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm đã nỗ lực phấn đấu
vươn lên phát triển kinh doanh và đã đạt được:
1. Công tác huy động vốn:
Mạng lưới quỹ tiết kiệm của Chi nhánh nằm rải rác khắp địa bàn quận,
tận thu nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, tốc độ nguồn vốn huy động tăng
trưởng cao trong bối cảnh hầu hết các Ngân hàng thương mại đều tăng lãi suất
huy động để thu hút nguồn vốn.
23
Năm 2000 thu được 530 tỷ đồng tăng 12% so với năm 1999 đưa tổng
nguồn vốn của Chi nhánh lên đến hơn 2182 tỷ đồng, tăng 14% so với năm
1999.
Năm 2001, tổng nguồn vốn huy động là 4200 tỷ đồng, tăng 2027 tỷ
đồng, vượt 93% so với năm 2000.
Năm 2002, đạt 4700 tỷ đồng (tăng 12,6% và vượt 5,2 % so với kế hoạch
dư nợ trung dài hạn chiếm 28% tổng dư nợ.
Năm 2001 dư nợ đạt 641 tỷ đồng, tằng 17,3% so với năm 2000. Trong
năm không phát sinh nợ quá hạn. Dư nợ ngắn hạn chiếm 62%, dư nợ trung
dài hạn chiếm 38%. Doanh số cho vay đạt 1933 tỷ đồng, tăng so với năm
2000 là 14%, trong đó doanh số cho vay xuất nhập khẩu đạt 1291 tỷ đồng.
Năm 2002 tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh đạt 808 tỷ đồng tăng 26%
so với năm 2001, ngắn hạn chiếm 44%, trung dài hạn chiếm 56%, dư nợ cho
vay ngoài quốc doanh chiếm 29%, tập trug chủ yếu vào các công ty có vốn
đầu tư nước ngoài, sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong
nước và trên thế giới.
Sở dĩ dư nợ ngày càng tăng vì Ngân hàng đã xác định qui mô dư nợ phù
hợp với trình độ, khả năng và kinh nghiệm quản lý của cán bộ, lấy an toàn,
hịêu quả làm mục tiêu hàng đầu, phát triển đúng hướng, phù hợp chủ trương
của Ngân hàng công thương Việt Nam.
3. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế .
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của Chi nhánh bắt
đầu phát triển mạnh từ cuối năm 1997 và đến năm 1998 trở thành hiện tượng
quan trọng đóng góp lớn vào hiệu quả của Ngân hàng công thương Hoàn
Kiếm. Năm 2000 đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong hoạt động kinh
doanh đối ngoại của Chi nhánh. Với tinh thần cố gắng làm việc phấn đấu
vươn lên, với nghiệp vụ vững vàng và phong cách giao dịch được hoàn thiện
một cách rõ nét của từng cán bộ kinh doanh đối ngoại, sự phối hợp nhuần
25
nhuyễn giữa các phòng ban nên dù gặp muôn vàn khó khăn do sự khan hiếm
ngoại tệ mang lại…. Nhưng với thời gian hoạt động chưa bằng một nửa các
chi nhánh khác, Chi nhánh đựơc đánh giá là 1 trong 6 đơn vị có hoạt động
thanh toán quốc tế phát triển nhất trong hệ thống Ngân hàng công thương Việt
Nam.
Năm 2000 Chi nhánh đă đạt được doanh số thanh toán hàng xuất là 60