Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm - Pdf 89

LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới diễn ra ngày
càng mạnh mẽ, mỗi quốc gia cần phải tích cực và chủ động tham gia để đạt đựơc vị
trí thuận lợi trong sự phân công lao động quốc tế và trao đổi thương mại quốc tế.
Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia cần phải phát triển mạnh mẽ lĩnh vực kinh tế đối
ngoại.
Đối với nước ta phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan nhằm
phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xây dựng đất nước theo định hướng XHCN.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta vẫn đang trong qúa trình tiến hành sự
nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Chỉ có thông qua hoạt động kinh tế
đối ngoại chúng ta mới tạo đựơc nguồn ngoại tệ cần thiết để phục vụ nhập khẩu kỹ
thuật hiện đại, công nghệ thiết bị, đồng thời phát huy tiềm năng của đất nước, tận
dụng nguồn vốn và công nghệ nước ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước
từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế đối ngoại,
hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan
trong, nó được xem là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ
kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới.
Hoạt động thanh toán quốc tế là một trong những mặt hoạt động quan trọng
của Ngân hàng, nó có liên quan đến nhiều mặt hoạt động khác của Ngân hàng.
Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm mới tham gia hoạt động thanh toán nhưng
đã đạt được một số thành quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động thanh toán quốc tế
của Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm với quy mô nhỏ và còn gặp nhiều khó
khăn. Việc tìm ra giải pháp để phát triển là hết sức cần thiết và cấp bách, nó không
những tạo điều kiện cho phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động kinh tế đối
ngoại, góp phần vào việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước mà
còn là một tất yếu quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
Trang 1
trong cơ chế thị trường, giúp cho Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm sớm hội nhập
với hệ thồng Ngân hàng trong nước và thế giới.

đổi hàng hoá giữa các nước. Về cơ bản thanh toán quốc tế phát sinh dựa trên cơ sở
hoạt động ngoại thương. Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của một quá trình
sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậy, nếu công tác thanh toán quốc tế được tổ
chức tốt thì giá trị của hàng hoá xuất khẩu mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy
ngoại thương phát triển. Thanh toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để
đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh tế đối ngoại.
Nhưng trong hoạt động mua bán luôn gắn liền với lợi ích của các bên tham
gia. Công tác thanh toán trong nội địa từng nước đã khó khăn phức tạp nhưng thanh
toán quốc tế càng khó khăn phức tạp hơn nhiều (các bên tham gia hợp đồng khác
nhau ở nhiều lĩnh vực: Chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, …). Trong mối quan hệ này
mỗi bên tham gia ngoài việc chấp hành luật pháp trong nước còn phải tuân thủ các
hiệp định, hiệp ước cũng như các tập quán thương mại khác.
Trong mua bán quyền lợi của các bên tham gia thường mâu thuẫn với nhau,
bên nào cũng muốn dành về mình phần thuận lợi hơn. Để giải quyết mâu thuẫn này
Trang 3
cần có sự tham gia của Ngân hàng, lúc này Ngân hàng đóng vai trò trung gian, tạo
sự tin tưởng, thuận lợi cho cả hai bên.
Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại hiện đại đã góp phần thúc
đẩy hoạt động thanh toán quốc tế giữa các nước diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
chính xác và đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia thanh toán quốc tế.
Ngân hàng là một tổ chúc trung gian tài chính, có bề dày kinh nghiệm hoạt động
trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đồng thời Ngân hàng có mạng lưới và quan hệ đại lý
với các Ngân hàng khác rất rộng. Ngoài ra, Ngân hàng là tổ chức tiếp cận và ứng
dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến bậc nhất nên có thể sử dụng vào các hoạt dộng
thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác. Chính những điều trên mà hầu hết mọi
hoạt động thanh toán quốc tế đều diễn ra cần có sự tham gia của các Ngân hàng.
3.Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế mà đặc biệt là đối với hoạt động kinh tế đối ngoại:
Thanh toán quốc tế có vị trí quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh tế đối
ngoại nói chung và trong hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, đặc biệt trong bối

hàng, trên cơ sở đó Ngân hàng tăng được quy mô hoạt động của mình, giúp cho
Ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo được niền tin cho
khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác được nguồn vốn
tài trợ của Ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng phát triển được nghiệp vụ
bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ khác. Nếu hoạt động thanh toán quốc
tế được đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động do tạm thời quản lý được nguồn
vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế qua Ngân hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng tăng thu nhập và tăng
cường khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời nó
giúp cho hoạt động Ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với hệ
thống Ngân hàng thế giới.
Trang 5
II- Các phương thức thanh toán quốc tế.
Phương thức chuyển tiền.
“ Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người trả
tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác
(người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương thức chuyển tiền do khách
hàng yêu cầu”.
Phương thức này có thể mô tả khái quát theo sơ đồ sau:
(1) (3)

(2)

(1). Người chuyển tiền yêu cầu Ngân hàng nước mình chuyển một số tiền nhất
định cho người được hưởng ở nước ngoài.
(2). Ngân hàng phục vụ người chuyển tiền nhận thực hiện yêu cầu của người
chuyển tiền, làm thủ tục chuyển tiền ra nứơc ngoài.

Đặc điểm của phương thức này là một phương thức thanh toán không có sự
tham gia của Ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh
toán. Chỉ mở tài khoản đặc biệt, không mở tài khoản song biên. Nếu người mua mở
tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị quyết
toán giữa hai bên, chỉ có hai bên tham gia thanh toán: người bán và người mua.
Trình tự tiến hành:
(1). Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá.
(2). Báo nợ trực tiếp.
(3). Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ
thanh toán.

(3)
Trang 7
Ngân hàng bên bán
Ngân hàng bên mua
Người bán
Người mua
(3) (3)
(2)
(1)

Phương thức này thường được dùng cho thanh toán nội địa, hai bên mua bán
phải thực sự tin cậy lẫn nhau. Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài,
hay dùng trong thanh toán phi mậu dịch như: tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo
hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho vay và đầu tư.
Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần thường xuyên trong một thời kỳ
nhất định. Phương thức này chỉ có lợi cho người mua.
Phương thức thanh toán nhờ thu( Collection of payment).
“ Phương thức thanh toán nhờ thu là một phương thức thanh toán quốc tế trong
đó người xuất khẩu (người bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc

(2) (7) (4) (5)

(3)
(6)
Trong thanh toán uỷ thác thu, nếu người xuất khẩu không thực hiện trọn vẹn
và đầy đủ các cam kết với người nhập khẩu trong hợp đồng mua bán ngoại thương
Trang 9
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu
Ngân hàng nước
xuất khẩu
Ngân hàng nước nhập
khẩu
thì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán (một phần hay toàn bộ) số tiền trên
giấy đòi tiền của người xuất khẩu.
Trong thanh toán uỷ thác thu, người xuất khẩu thông qua Ngân hàng chỉ khống
chế được quyền định đoạt hàng hoá, mà chưa khống chế được việc trả tiền của
người nhập khẩu. Người nhập khẩu có thể bằng cách chưa nhận bộ chứng từ hàng
hoá, để kéo dài việc trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc có thể không trả tiền khi tình
hình thị trường bất lợi cho họ.
Đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, Ngân hàng chỉ là người trung gian
thu hộ tiền cho người xuất khẩu, còn không có trách nhiệm với việc trả tiền của
người nhập khẩu. Hình thức này tuy về thủ tục có phần đơn giản song việc trả tiền
còn chậm.
Trong thanh toán ngoại thương, nhờ thu được chia làm hai loại:
a. Nhờ thu phiếu trơn (nhờ thu không kèm chứng từ – Clean collection): Khi
việc đòi tiền chỉ dựa trên chứng từ đòi tiền là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát,
mà không kèm theo các chứng từ hàng hoá, thì được gọi là nhờ thu phiếu trơn.
Loại này thường được dùng trong thanh toán tiền chi trả về dịch vụ, cước phí
bảo hiểm, tiền phạt, tiền bồi thường,…

khẩu (Người mua).
- Người hưởng thư tín dụng (The benifitciary) là người xuất khẩu (Người bán).
Các ngân hàng liên quan: ít nhất có hai Ngân hàng tham gia: Ngân hàng mở L/
C còn gọi là Ngân hàng phát hành L/C (The issuing bank), Ngân hàng này có trách
nhiệm trích trả tiền cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với
L/C; Ngân hàng thông báo L/C (Advising Bank) là Chi nhánh Ngân hàng hoặc đại
lý của Ngân hàng phát hành L/C hoặc Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu.
Tuỳ theo từng L/C cụ thể, mà còn có các Ngân hàng khác tham gia như:
- Ngân hàng thanh toán, chiết khấu (The Negotiating Bank) : Ngân hàng này
trực tiếp trả tiền cho L/C. Trên thực tế Ngân hàng thanh toán L/C chính là Ngân
Trang 11
hàng L/C hoặc Ngân hành thông báo, hoặc một ngân hàng nào đó do Ngân hàng
phát hành L/C chỉ định.
- Ngân hàng xác nhận L/C (The confirming Bank). Theo yêu cầu của người
hưởng lợi, một Ngân hàng đứng ra xác nhân L/C sẽ cùng với Ngân hàng phát hành
L/C có trách nhiệm trả tiền đối với L/C.
* Qui trình thanh toán L/C:
(1). Người nhập khẩu dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thương ký với người
xuất khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình, yêu cầu Ngân hàng này
mở L/C cho người xuất khẩu hưởng.
(2). Theo đơn xin mở L/C, Ngân hàng phục vụ người nhập khẩu mở một L/C
(phát hành L/C) cho người xuất khẩu hưởng. Ngân hàng này chuyển bản chính L/C
cho người xuất khẩu (Ngân hàng thông báo).
(3). Ngân hàng xuất khẩu xác nhận L/C bằng văn bản và gửi bản chính L/C
cho người xuất khẩu.
(4). Căn cứ vào nội dung của L/C, Người xuất khẩu thực hiện giao hàng cho
người nhập khẩu.
(5). Sau khi hoàn tất việc giao hàng, người xuất khẩu phải hoàn chỉnh ngay bộ
các chứng từ hàng hoá và hối phiếu gửi về ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu ngân
hàng này trả tiền cho bộ chứng từ đó.

mở, thì nội dung của L/C có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào,
không cần có sự đồng ý của người được hưởng và người yêu cầu mở L/C.
Như vậy, thư tín dụng này chưa phải là văn bản cam kết trả tiền thực sự, mà
mới chỉ là một thư hẹn sẽ trả tiền. Do vậy, loại L/C này ít được sử dụng.
Trang 13
Ngân hàng xuất
khẩu(Ngân hàng thông
báo L/C)
Ngân hàng nhập khẩu
(Ngân hàng mở L/C)
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable L/C): Khi loại L/C này được mở
thì người yêu cầu mở L/C sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ những
nội dung của nó, nếu không có sự đồng ý của người được hưởng L/C. Như vậy, tính
đảm bảo của L/C này rất cao, nên nó được dùng khá phổ biến trong thanh toán
thương mại quốc tế. Loại L/C này là cơ sở của các loại L/C khác.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Irevocable confirmed L/C): Đây
là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, đồng thời lại có sự xác nhận trả tiền của một
Ngân hàng nhất định. Dùng thư tín dụng loại này thì việc nhận tiền của người xuất
khẩu là vô cùng chắc chắn.
Đối với người nhập khẩu khi phải mở loại L/C này thì ngoài việc phải ký vốn
mở L/C tại Ngân hàng, trả thủ tục phí mở L/C, còn phải chịu thêm phí xác nhận và
đặt cọc tiền xác nhận cho Ngân hàng xác nhận L/C. Đó là những bất lợi cho người
nhập khẩu.
- Thư tín dụng không thể huỷ bỏ miễn truy đòi (Irrevocable without recuorse
L/C): Khi sử dụng loại L/C này, thì người xuất khẩu (người hưởng lợi L/C) phải
phát hành một hối phiếu ghi “ không được truy đòi người phát phiếu”. Như vậy, sau
khi đã thanh toán cho người huởng, Ngân hàng mở L/C mất quyền truy đòi lại số
tiền của L/C bất kỳ trong trường hợp nào. Loại L/C này được dùng rất phổ biến

Ngân hàng thương mại là đối với bản thân Ngân hàng phải có tiềm lực, phải có khả
năng để phát triển hoạt động thanh toán quốc tế.
Chất lượng thanh toán quốc tế phụ thuộc vào trình độ, khả năng xử lý công
việc của cán bộ thanh toán, phụ thuộc vào trang thiết bị máy móc phục vụ cho việc
trao đổi thông tin, phụ thuộc vào nguồn ngoại tệ của Ngân hàng có đủ đáp ứng kịp
thời cho việc thanh toán và một điều quan trọng là phải có sự lãnh đạo, phương
hướng hoạt động đúng đắn của ban lanh đạo.
Trang 15
Để hoạt động thanh toán quốc tế của một Ngân hàng thương mại ngày càng
phát triển thì phải không ngừng chú trọng nâng cao trình độ của cán bộ Ngân hàng
nói chung và cán bộ thanh toán nói riêng, đầu tư và nâng cao trang thiết bị máy móc
cho các phòng nghiệp vụ. Ngân hàng phải tạo được uy tín, nâng cao được chất
lượng của các dịch vụ Ngân hàng để thu hút đựơc nhiều khách hàng về giao dịch từ
đó có thể khai thác được nguồn ngoại tệ cần thiết phục vụ cho nghiệp vụ cho vay
ngoại tệ tạo điều kiện mở L/C.
Bên cạnh đấy cũng phải thấy rằng kiến thức của khách hàng về lĩnh vực ngoại
thương nói chung cũng như hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng sẽ ảnh hưởng tới
chất lượng của quá trình thanh toán. Thiện chí của các bên tham gia trong khi mua
bán cũng ảnh hưởng tới quá trình thanh toán. Và một điều quan trọng là khách hàng
của Ngân hàng phải có khă năng thanh toán. Chính vì vây mà cán bộ thanh toán cần
phải tư vấn kỹ cho khách hàng, xem xét khả năng tài chính của khách hàng và Ngân
hàng phải có các biện pháp thu hút được nhiều khách hàng hơn.
2. Nhân tố khách quan.
Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán quốc tế của các
Ngân hàng thương mại như: Tình hình kinh tế xã hội của đất nước nói chung và
hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu. Các
chính sách kinh tế đối ngoai, chính sách tài chính quốc gia của đất nước tạo bước
phát triển về hoạt động kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu,
khuyến khích vốn đầu tư nước ngoài, cải tổ lại hệ thống Ngân hàng .v.v.. từ đó thúc
đẩy hoạt động thanh toán quốc tế phát triển.

Trang 17
Đến nay tổng cán bộ công nhân viên của Ngân hàng hơn 230 người, trong đó
có một giám đốc và ba phó giám đốc. Là một đơn vị trực thuộc Ngân hàng công
thương Việt Nam. Hiện nay ngân hàng có 10 phòng ban, mỗi phòng ban thực hiện
các chức năng và mảng công việc riêng, cụ thể có: Phòng nguồn vốn, Phòng kinh
doanh, Phòng kế toán, Phòng kinh doanh đối ngoại, Phòng ngân quỹ, Phòng vi tính,
Phòng kiểm soát, Phòng thu nợ, Phòng tổ chức hành chính nhân sự, Phòng giao dịch
Đồng Xuân, Phòng dịch vụ chuyển tiền cá nhân, Tổ dịch vụ Sài Đồng. Riêng phòng
nguồn vốn có 11 quỹ tiết kiệm nằm rải rác trên địa bàn quận.
Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng được phát triển thêm, hiện
nay Ngân hàng sẵn sàng đáp ứng các dịch vụ ngân hàng – tài chính như: Mở tài
khoản tiền gửi doanh nghiệp và cá nhân, nhận tiền gửi tài khoản bằng đồng VNĐ và
ngoại tệ, tín dụng, bảo lãnh, thanh toán trong nước và quốc tế, chuyển kiều hối,
thanh toán thẻ tín dụng quốc tế - séc du lịch, mua bán ngoại tệ, dịch vụ chuyển tiền
nhanh, dich vụ chi trả tiền lương, dịch vụ kho quỹ.
Đặc biệt, phục vụ tận doanh nghiệp: Dịch vụ Bảo hiểm, dịch vụ thẻ ATM,
dịch vụ tư vấn quản lý tài chính,.v.v...
2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh mấy năm gần đây.
Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế và của ngành ngân hàng,
nhưng Ngân hàng công thương Hoàn kiếm đã cố gắng vưon lên về nhiều mặt và đã
đạt được những kết quả tốt đẹp, đáng khích lệ. Kết quả đó củng cố được vị thế của
Ngân hàng, cải thiện một bước đời sống cán bộ công nhân viên, đồng thời góp phần
vào sự nghiệp phát triển của nền kinh tế.
Với phương châm “ổn định - an toàn - hiệu quả và phát triển” ngay từ đầu năm
1998, Chi nhánh đã xác định cho mình một hướng đi đúng đắn. Cùng với mục tiêu
tăng trưởng dư nợ đối với khách hàng chiến lược Chi nhánh đã đa dạng hoá sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng, phát triển các hình thức cho vay nội tệ, ngoại tệ, trung và
dài hạn, nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế và chuyển tiền nhanh qua
mang vi tính, dich vụ thẻ ATM.
Trang 18

cách phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình chu đáo, mà còn khẳng định về uy tín và vị
thế của Chi nhánh trên thương trường. Với tổng nguồn vốn lớn và ổn định, Chi
nhánh có đủ khả nằng để đáp ứng mọi nhu cầu về vốn đối với khách hàng, đồng
thời chuyển vốn về Ngân hàng công thương Việt Nam, góp phần điều hoà toàn bộ
hệ thống và tham gia thị trường vốn.
2. Hoạt động tín dụng:
Là hoạt động cơ bản, quan trọng của Chi nhánh. Vì vậy đây không chỉ là
nhiệm vụ của ngành cán bộ kinh doanh, mà là lĩnh vực lôi cuốn tất cả các phòng
ban, các hoạt động hướng về phục vụ một cách tốt nhất đối với khách hàng.
Mục tiêu cơ bản được đặt ra là nâng cao chất lượng tín dụng, hoạt động tín
dụng chủ yếu đi vào chiều sâu. Chính vì vậy Chi nhánh đã liên tục rà soát, đáng giá
chất lượng tín dụng sàng lọc và nâng cao chất lượng dư nợ đối với những khách
hàng truyền thống, đồng thời không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm và tiếp thị các
khách hàng mới là các tổng công ty 90, 91 và các doanh nghịêp có vốn đầu tư nước
ngoài có uy tín và khả năng tài chính lành mạnh, tiếp cận các dự án có tính khả thi
cao, đặt nền móng cho việc mở rộng công tác tín dụng một cách vững chãi. Vốn tín
dụng được đầu tư an toàn, hiêu quả cho các ngành kinh tế trọng điểm như: Than,
Điện, Dầu khí, Lương thực, Lắp máy, chế biến nông sản xuất khẩu, Xây dựng v.v…
Các doanh nghiệp dân doanh và hộ gia đình có nhu cầu cũng được chú ý nhiều
hơn.
Doanh số cho vay năm 2000 đạt 1690 tỷ đồng tăng 18% so với năm 1999.
Doanh số thu nợ đạt 1713 tỷ tăng 13% so với năm 1999.
Dư nợ cho vay bình quân đạt 330 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay nội tệ
chiếm 82%, dư nợ cho vay ngoại tệ chiếm 18%, dư nợ ngắn hạn chiếm 72%, dư nợ
trung dài hạn chiếm 28% tổng dư nợ.
Năm 2001 dư nợ đạt 641 tỷ đồng, tằng 17,3% so với năm 2000. Trong năm
không phát sinh nợ quá hạn. Dư nợ ngắn hạn chiếm 62%, dư nợ trung dài hạn chiếm
Trang 20
38%. Doanh số cho vay đạt 1933 tỷ đồng, tăng so với năm 2000 là 14%, trong đó
doanh số cho vay xuất nhập khẩu đạt 1291 tỷ đồng.

thanh toán xuất nhập khẩu đạt 170 triệu USD, tăng 4% so với năm 2000, trong đó
doanh số xuất khẩu đạt 55 triệu USD. Tổng thu phí dich vụ kinh doanh đối ngoại và
thanh toán quốc tế đạt 3,5 tỷ đồng, tăng 46% so với năm 2000, trong đó thu phí từ
kinh doanh ngoại tệ là 1,1 tỷ đồng.
Năm 2002, tổng thu phí hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế
đạt 3,3 tỷ đồng, trong đó thu từ kinh doanh ngoại tệ là 1 tỷ đồng tăng 27% so với
năm 2001.
4. Công tác kế toán và lợi nhuận.
Cùng với các phòng ban khác, phòng kế toán đã có nhiều cố gắng nâng cao
chất lượng dich vụ, củng cố thêm nguồn tiền gửi kỳ hạn ổn định, tăng khối lượng
thanh toán qua ngân hàng, chuyển tiền điện tử, tạo ra nguồn thu nhập không nhỏ từ
thu phí dich vụ.
Công tác kế toán đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp lệnh kế toán thống kê của
Nhà nước, đảm bảo chính xác, trung thực, hợp lệ, hợp pháp.
Đặt biệt từ tháng 8/2000 Ngân hàng đã thành lập thêm Tổ dich vụ chuyển tiền
và tài khoản cá nhân ở 39 Hàng Bồ và Tổ dịch vụ thanh toán khu công nghiệp Sài
Đồng tạo nên một bứơc đột phá, nhằm đa dạng hoá hoạt động dich vụ để phục vụ
khách hàng đựơc tốt hơn.
Năm 2000, Chi nhánh đã có đựơc gần 22 tỷ đồng lợi nhuận hạch toán. Năm
2001 vẫn đạt 17,5 tỷ đồng, vượt 16% so với kế hoạch Ngân hàng công thưong Việt
Nam giao.
Đặc biệt, năm 2002 Chi nhánh đa tham gia mạng thanh toán điện tử liên ngân
hàng và phát triển thêm dịch vu thẻ ATM. Trong năm, tổng thu dich vụ là 6865 triệu
đồng, tăng 65% so với năm 2001, chiếm 11% lợi nhuận hạch toán.
5. Công tác đào tạo, tổ chức nhân sự và các công tác khác:
- Công tác đào tạo luôn được quan tâm và coi trọng. Trong năm 2002, Chi
nhánh đã liên tục cử cán bộ tham gia các khoá học bồi dưỡng nghiệp vụ của Ngân
Trang 22
hàng công thương Việt Nam. Đặt biệt đã tổ chức lớp học kỹ năng bán hàng cho 30
cán bộ thuộc các phòng ban khác nhau nhằm cung cấp kỹ năng thuyết trình, kỹ năng

nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu. Trước tình hình đó, nếu
vẫn để một mình Ngân hàng ngoại thương độc quyền trong thanh toán quốc tế thì
chắc chắn Ngân hàng ngoại thương không thể kham nổi. Chính vì vậy, ngày
24-5-1992 Hội đồng Nhà nước đã ký pháp lệnh số 38/CCT - HĐNN cho phép các
Ngân hàng thương mại tham gia vào các quan hệ tín dụng và thanh toán quốc tế.
Kể từ đó, Chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm đã được phép tham
gia vào nghiệp vụ thanh toán quốc tế, song tự xét thấy chưa đủ khả năng cũng như
chưa có nhu cầu từ phía khách hàng nên Chi Nhánh vẫn chưa thực sự tham gia vào
hoạt động này.
Nhưng cùng với quá trình đi lên của nền kinh tế, đứng trước thực trạng là
khách hàng có quan hệ tín dụng với Chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm,
có tài khoản ở Chi nhánh song nếu có quan hệ thanh toán quốc tế lại phải thực hiện
thông qua Ngân hàng ngoại thương, điều đó kéo theo nhiều thủ tục rườm rà. Tại sao
trong khi Chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm được phép tham gia vào
hoạt động thanh toán quốc tế mà khách hàng của mình lại phải thông qua Ngân hàng
Ngoại thương. Để giải quyết vấn đề này, năm 1996 Tổ thanh toán quốc tế và kinh
doanh đối ngoại được nâng cấp lên thành phòng Kinh doanh đối ngoại.
Ban đầu Chi nhánh gặp rất nhiều khó khăn do chưa có kinh nghiệm trong
nghiệp vụ này, nhưng được sự chỉ đạo của Ngân hàng công thương Việt Nam, cùng
với trình độ chuyên môn và sức sáng tạo của đội ngũ nhân viên làm công tác kinh
doanh đối ngoại, Chi nhánh đã đạt được nhiều kết quả khả quan trong hoạt động
kinh doanh hết sức mới mẻ này. Nghiệp vụ bắt đầu phát triển mạnh từ cuối năm
1997 và đến năm 1998 đã trở thành hoạt động quan trọng đóng góp lớn vào kết quả
của Chi nhánh Ngân hàng công thương Hoàn Kiếm.
Phòng kinh doanh đối ngoại hiện nay có 15 người, các nghiệp vụ chính của
phòng như: Mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu, thanh toán L/C xuất khẩu, thanh
Trang 24
toán chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, dich vụ thẻ ATM, ngoài ra còn có các dịch vụ
như chi trả kiều hối, thanh toán séc du lịch,.v.v..
2. Quy trình một số nghiệp vụ thanh toán quốc tế chủ yếu ở Ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status