TẠ THỊ BÍCH DUYÊN – Giá trị giống và khuynh hướng di truyền của đàn lợn giống Landrace và 1
GIÁ TRỊ GIỐNG VÀ KHUYNH HƯỚNG DI TRUYỀN CỦA ĐÀN LỢN GIỐNG
LANDRACE VÀ YORKSHIRE NUÔI TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU
LỢN THỤY PHƯƠNG
Tạ Thị Bích Duyên
1*
; Nguyễn Quế Côi
2
; Trần Thị Minh Hoàng
1
và Lê Thị Kim Ngọc
3
1
Viện Chăn nuôi;
2
Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương;
3
Cục Chăn nuôi
*Địa chỉ liên hệ: TạThị Bích Duyên, Bộ môn Tiểu gia súc, Viện Chăn nuôi.
Tel: (04) 38.385.292 / 0903.429.556; Email:
ABSTRACT
Estimated breeding value (EBV) and genetic trends of some traits: average daily gain (ADG), back fat
thickness (BF) and number of born alive (NBA) in Yorkshire and Landrace breeds at Thuy Phuong pig
research Center
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009
2
Để giúp người làm công tác giống có khả năng so sánh tất cả các lợn giống có trong trại về giá
trị di truyền đạt được, và đánh giá tiến bộ di truyền đạt được trong toàn đàn qua mỗi năm. Từ
việc sử dụng giá trị giống và khuynh hướng di truyền người làm công tác giống sẽ quản lý
chương trình nhân giống của trại họ tốt hơn và làm tăng tốc độ cải tiến lên nhanh hơn, chúng
tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đánh giá giá trị giống, khuynh hướng di truyền của một số
tính trạng sản xuất ở đàn lợn giống Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn
Thuỵ Phương".
Mục tiêu của đề tài
Ước tính giá trị giống (GTG), khuynh hướng di truyền ở một số tính trạng kinh tế quan trọng:
Tăng khối lượng/ngày (TKL/ngày); Dày mỡ lưng (DML); Số con sơ sinh sống/lứa (Nsss/l)
của đàn lợn giống Landrace và Yorkshire nuôi tại Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương,
góp phần đánh giá chất lượng giống, phục vụ công tác chọn tạo dòng cao sản có định hướng.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 163 nái và 752 lứa đẻ của giống Yorkshire; 221 nái và 729 lứa đẻ của
giống Landrace. Nuôi trong thời gian 2000 - 2007 tại TTNC Lợn Thuỵ Phương. Từ đàn lợn
nói trên đã chọn được 50 nái/mỗi giống (Số lượng đực đảm bảo tỷ lệ 1đực/ 6-10 nái.) đưa vào
chọn lọc, ghép đôi giao phối xây dựng đàn hạt nhân.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2007. Sử dụng số liệu năng suất của đàn
lợn từ năm 2000 - 2007 để phân tích.
Nội dung nghiên cứu
Ước tính giá trị giống bằng phương pháp BLUP đối với tính trạng tăng khối lượng/ngày; Dày
mỡ lưng và Nsss/lứa. Đánh giá khuynh hướng di truyền đạt được qua mỗi đơn vị thời gian.
Phương pháp nghiên cứu.
Hệ thống sổ sách ghi chép và theo dõi công tác giống: Cập nhật theo biểu mẫu quy định được
nhất đối với tính trạng này đưa vào đàn hạt nhân và loại thải không đưa những cá thể có GTG
dương cao nhất về tính trạng DML trong đàn. Cụ thể, đối với cơ sở I chúng ta cần đưa vào
chương trình chọn lọc các cá thể đầu đàn: Các nái 2401/123 và 8438/114 của giống Landrace,
2702 và 4351/39 của giống Yorkshire là những nái có giá trị giống về tính trạng DML âm
thấp nhất (-8 và -7, -2,2 và -1,8 mm, tương ứng).
Các đực 60-2 và 923 của giống Landrace, 498 và 5A68 là những đực có giá trị giống âm thấp
nhất về tính trạng nói trên (-0,6 và -0,4, -1,1 và -1,0 mm, tương ứng). Kết quả phân tích cũng
đã chỉ ra những cá thể nái và đực có GTG dương cao nhất đối với tính trạng DML đó là các
nái 32K và 5443/135, đực 1147 và 8-81-2; nái 3732 và 7320/30, đực 265 và 35-1 cho 2 giống
Landrace và Yorkshire, tương ứng.
GTG của tính trạng Nsss/l
Các nái 5443/135, 32K của giống Landrace; Nái 2664, 6A57 của giống Yorkshire là những
nái có GTG cao nhất đối với tính trạng này (+0,87 và +0,64, +0,75 và +0,74, tương ứng cho
mỗi giống nói trên). Các nái 5103, 5A của giống Landrace và 6A151, 5A4 của giống
Yorkshire là những nái có GTG thấp nhất về tính trạng này (-0,54, -0,65 và -0,80, -1,15,
tương ứng).
Mặc dù các con đực không có số liệu trực tiếp của bản thân về tính trạng Nsss/l nhưng vẫn
được ước tính giá trị giống, vì phương pháp BLUP đã sử dụng các thông tin từ đời con, từ tổ
tiên và từ các quan hệ họ hàng khác để ước tính GTG cho con đực.
Các đực 8-81-2, 643 của giống Landrace, 4398 và 106 của giống Yorkshire là những đực có
giá trị giống cao nhất (0, 0,44 và 0,21, 0,31 và 0,24 con/lứa, tương ứng). Các đực 60-2 và 25
của giống Landrace, 307 và 23 của giống Yorkshire là những đực có GTG thấp nhất (-0,25 và
-0,31, -0,30 và -0,61, tương ứng). Các đực 8-81-2 và 4398 không có ngày tháng năm sinh
chúng được sử dụng như là những đực nguồn nhưng vẫn được ước tính GTG về tính trạng này
vì phương pháp BLUP đã sử dụng các thông tin từ các đời sau, trong lý lịch khai báo các đực
8-81-2 và 4398 có số liệu về Nsss/l ở đời sau cao nên GTG ước tính của các đực này cho kết
quả cao.
Từ kết quả trên, nếu cho đực 8-81-2 phối với nái 5443/135, đực 4398 phối với nái 2664 là
những đực và nái có GTG cao nhất về Nsss/l (0,44 và 0,87, 0,31và 0,75 con/lứa của các cặp
đực/nái tương ứng), thì giá trị giống dự đoán ở đời con sẽ là 0,655 và 0,53 con/lứa cho mỗi
Đối với tính trạng Nsss/l
Nhìn một cách tổng thể thì GTG trung bình trên cả 2 giống đều có khuynh hướng tăng trong 7
năm qua. Điều này chứng tỏ rằng công tác chọn lọc đối với tính trạng Nss/l đã đạt được hiệu
quả nhất định. Tuy nhiên, việc tăng này không phải là đều đặn qua mỗi năm mà lên xuống thất
thường, tốc độ cải thiện nhanh hơn trong vài năm gần đây.
Điều này có thể được giải thích như sau: Mặc dù Trung tâm rất quan tâm đến việc chọn lọc
nâng cao khả năng sinh sản, nhưng do tính trạng Nsss/l là tính trạng có hệ số di truyền thấp
việc chọn lọc ghép đôi giao phối trước đây chủ yếu là dựa vào giá trị kiểu hình nên tiến bộ di
truyền đạt được chưa cao và không ổn định, sau khi có áp dụng chương trình BLUP bóc tách
yếu tố di truyền riêng nên hiệu quả đạt tốc độ nhanh hơn, nhờ thế đã nâng tiến bộ di truyền
của tính trạng này nhanh hơn. Sau 3 năm áp dụng chương trình chọn giống lợn dựa vào các
GTG ước tính, tiến bộ di truyền bước đầu đạt được một số kết quả nhất định:
Tính trạng TKL/ngày: đạt 5,389 và 7,429 g/ngày; DML đạt -0,281 và -0,309 mm; Nsss/l đạt
0,461 và 0,054 con/lứa, tương ứng cho 2 giống Landrace và Yorkshire. Việc ứng dụng
phương pháp BLUP trong công tác chọn lọc đã mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, GTG
trung bình đạt được vẫn còn thấp, đây mới chỉ là kết quả ban đầu cần có sự theo dõi và thực
hiện nghiêm túc trong những năm tiếp theo để có được khẳng định chính xác hơn. TẠ THỊ BÍCH DUYÊN – Giá trị giống và khuynh hướng di truyền của đàn lợn giống Landrace và 5Biểu đồ 1. Khuynh hướng di truyền tính trạng
TKL/ngày giống Landrace
-6.000
-4.000
-2.000
-0.350
-0.300
-0.250
-0.200
-0.150
-0.100
-0.050
0.000
0.050
mm
00 01 02 03 04 05 06 07
Year
Genetic Trend (I): BF (LL)
Biểu đồ 4. Khuynh hướng di truyền tính trạng DML
giống Yorkshire
-0.600
-0.500
-0.400
-0.300
-0.200
-0.100
0.000
0.100
0.200
0.300
0.400
mm
00 01 02 03 04 05 06 07
Year
n
00 01 02 03 04 05 06
Year
Genetic Trend (I): NBA (YY)
VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 16-Tháng 2-2009
6
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận : Giá trị giống : GTG tốt nhất với tính trạng TKL/ngày là +17 và +6 g/ngày; Tính
trạng DML là -0,8 và -2,2 mm; Tính trạng Nsss/l là +0,87 và +0,75con/lứa, tương ứng cho cả
2 giống Landrace và Yorkshire.
GTG kém nhất: Tính trạng TKL/ngày là -15 và -7g/ngày; Tính trạng DML là + 2,3 và +2,4
mm; Tính trạng Nsss/l là - 0,65 và -1,15 con/lứa, tương ứng cho cả 2 giống Landrace và
Yorkshire.
Khuynh hướng di truyền của các tính trạng: Sau 3 năm áp dụng chương trình chọn giống
lợn dựa vào các GTG ước tính, tiến bộ di truyền bước đầu đạt được một số kết quả nhất định:
Tính trạng TKL/ngày đạt 5,389 và 7,429g/ngày; DML đạt -0,281 và -0,309 mm; Nsss/l đạt
0,461 và 0,054 con/lứa, tương ứng cho cả 2 giống Landrace và Yorkshire.
Đề nghị: Áp dụng phương pháp BLUP để ước tính giá trị giống phục vụ công tác chọn và
nhân giống phù hợp với điều kiện chăn nuôi Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng các mô hình
ghép đôi giao phối dựa vào giá trị giống và hệ số cận huyết nhằm chọn tạo các dòng lợn cao
sản có định hướng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Falconer D.S, (1993). Response to selection Introduce to Quantative Genetics. Third edition Longman Scientific
Technical. Copublished in the United State with John Wiley and Sows, In. NewYork. p.188 -201
Hamond K. PIGBLUP clinic- Hanbook, (1991). AGBU, UNE, NSW, Australia.
Hans - Ulrich Graser, (1993). Modern Genetics Evaluation Procedures, Why BLUP. PIGBLUP clinic, Ani. Gen.
and Breed. Unit, UNE, Australia. p.14-20.