ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA DÊ BEETAL THẾ HỆ THỨ 5 VÀ 6 NUÔI TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU DÊ VÀ THỎ SƠN - Pdf 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ THU HÀ

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA DÊ BEETAL
THẾ HỆ THỨ 5 VÀ 6 NUÔI TẠI TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU DÊ VÀ THỎ SƠN Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60 - 62 - 40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hà

Tác giả
Lê Thị Thu Hà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục biểu đồ, đồ thị vii
Danh mục các chữ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất 4
1.1.1. Yếu tố di truyền 4
1.1.2. Yếu tố giống 5
1.2. Khả năng sinh trƣởng của dê 5
1.2.1. Khả năng về sinh trưởng và phát dục của dê 5
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của dê 7
1.2.3. Khả năng sản xuất thịt của dê 8
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của dê 9

3.3. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trƣởng của dê Beetal 60
3.3.1. Khối lượng của dê đực và dê cái Beetal ở một số thời điểm
sinh trưởng 60
3.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của dê đực và dê cái Beetal qua các giai
đoạn tuổi 64

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
3.3.3. Kích thước một số chiếu đo cơ thể của dê Beetal 67
3.3.4. Khả năng cho thịt và chất lượng thịt của dê đực Beetal 70
3.3.4.1. Khả năng cho thịt của dê đực Beetal 70
3.3.4.2. Chất lượng thịt của dê đực Beetal 71
3.4. Tình hình bệnh tật của đàn dê Beetal 72
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 74
1. Kết luận 74
2. Đề nghị 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Bảng 3.18: Tình hình bệnh tật của đàn dê Beetal qua các năm 73

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

STT TÊN ĐỒ THỊ TRANG

Đồ thị 3.1: Đặc điểm chu kỳ sữa của dê Beetal 54
Đồ thị 3.2: Sinh trưởng tích luỹ của dê qua các tháng tuổi 63
Đồ thị 3.3 : Sinh trưởng tuyệt đối của dê Beetal 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

A Hoạt lực tinh trùng
Al Dê Alpine
Ba Dê Barbari
Be Dê Beetal
Bo Dê Boer
Bt Dê Bách Thảo
C Nồng độ tinh trùng
CV Cao vây
ĐDLĐ Động dục lần đầu
ĐLĐ Đẻ lứa đầu
DTC Dài thân chéo

thước của hạt mỡ trong sữa trâu và bò, nên khả năng tiêu hoá và hấp thu của
sữa rất tốt.
Ấn Độ là nước nuôi nhiều dê trên thế giới với 20 giống dê khác nhau C.
Devendra (1982)[34]. Các giống dê được nuôi nhiều nhất ở Ấn Độ hiện nay là
Jumnapari, Barbari, Beetal, Mawari, Black-Bengal (N.K. Bhattacharyya,
1989)[31]. Nhiều nhà khoa học ở Ấn Độ, Pakistan và đặc biệt là C.Devendra
và Marca Burns (1983) [35] cho rằng: Beetal là giống dê sữa tốt với sản lượng
trung bình của một chu kỳ tiết sữa là 195 kg, thời gian cho sữa là 224 ngày; số
con sơ sinh/lứa là 1,7con.
Ở Việt Nam, trước năm 1994 chỉ có 2 giống dê chính là dê Cỏ và dê
Bách Thảo được nuôi chủ yếu để lấy thịt. Năm 1994, Chính phủ Ấn Độ tặng
cho Việt Nam 500 con dê giống, trong đó có 80 con dê Beetal, được giao cho
Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, thuộc Viện Chăn Nuôi nuôi giữ và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
phát triển, từ đó các giống dê Ấn Độ đã được nhân thuần, lai tạo với các giống
dê nội địa và phát triển rộng rãi ở Việt Nam.
Các giống dê Ấn Độ này nuôi ở Việt Nam đến nay đã được 5 - 6 thế
hệ, kết quả cho thấy: dê Beetal có khả năng cho sữa tốt và được người chăn
nuôi ưa thích. Theo Đinh Văn Bình và cộng sự (1998) [2], sản lượng sữa
của dê Beetal nuôi tại Việt Nam là 166 - 201,4 kg với thời gian cho sữa là
167 - 183 ngày.
Do số lượng dê Beetal nhập ban đầu năm 1994 không nhiều, nhất là dê
đực chỉ có 4 con nên đến nay ở thế hệ 5 - 6 đã phải ghép phối trở lại trong
huyết thống. Do đó, việc đánh giá khả năng sản xuất của giống dê này để có
biện pháp sử dụng và nuôi giữ lâu dài dê Beetal thế hệ 5 - 6 tại Trung tâm
nghiên cứu Dê và Thỏ là cấp thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng
tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sản xuất của dê Beetal thế hệ 5 và

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất
Phần lớn các đặc tính quý có giá trị kinh tế của vật nuôi đều thuộc tính
trạng số lượng, các tính trạng số lượng có đặc trưng là biến dị liên tục, chịu
ảnh hưởng của kiểu di truyền là kiểu gen G (Genotype) và ngoại cảnh E
(Environment) theo công thức sau:
Giá trị kiểu hình của các tính trạng P (Phenotype) = G + E
Tuỳ theo điều kiện môi trường ngoại cảnh E mà giá trị di truyền G thể
hiện ra kiểu hình P nhiều hay ít. Vì vậy, giữa kiểu di truyền và ngoại cảnh còn
có mối quan hệ tương tác, mối quan hệ này cũng tham gia vào sự thể hiện ra
kiểu hình P theo công thức:
P = G + E + I
GE
1.1.1. Yếu tố di truyền
Kiểu di truyền hay giá trị kiểu di truyền G lại bao gồm: Giá trị di truyền
cộng gộp A (Additive) còn gọi là giá trị giống cá thể, thành phần này sẽ
truyền lại cho cá thể đời sau một nửa (1/2 A); sai lệch D (Dominant) là thành
phần di truyền tạo ra do quan hệ trội giữa 2 alen trong cùng một gen và hiệu
ứng tương tác gen I (Interaction) giữa các alen không cùng gen trong một
nhiễm sắc thể, hai thành phần di truyền này không truyền lại cho đời sau mà
được hình thành do sự tái tổ hợp.
G = A + D + I
Sai lệch môi trường chung Eg (General enviromental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một cách lâu
dài. Các yếu tố đó là: Thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng... tác động
lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [22]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

6
Phát dục là quá trình thay đổi tăng thêm hoặc hoàn thiện thêm tính chất,
chức năng của các cơ quan bộ phận trong cơ thể vật nuôi.
Mỗi cơ thể sinh vật sinh ra và lớn lên đều có quá trình hình thành và
phát triển. Sự hình thành, phát triển này không phải xảy ra hoàn toàn trong tế
bào sinh dục, cũng không phải hoàn chỉnh đầy đủ trong quá trình hình thành
phôi thai. Mà nó được hình thành, phát triển hoàn thiện trong quá trình phát
triển cơ thể của con vật. Đặc điểm của sinh vật là hấp thu, sử dụng năng lượng
của môi trường xung quanh làm thành chất cấu tạo cơ thể của mình để lớn lên
và phát triển. Quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào các đặc tính di
truyền của bố mẹ, tổ tiên, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi của môi trường
sống. Quá trình phát triển đó gồm hai mặt sinh trưởng và phát dục.
Đối với sự phát triển chung của một cơ thể sống, quá trình sinh trưởng
và phát dục có mối liên quan chặt chẽ với nhau, hai quá trình này không có
ranh giới. Sinh trưởng là sự thay đổi về số lượng, phát dục thay đổi về chất
lượng. Tại một thời điểm nào đó có thể hai quá trình này diễn ra song song
với nhau nhưng cũng có thể quá trình sinh trưởng diễn ra yếu và quá trình
phát dục lại mạnh và ngược lại.
Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, sự phát triển của cơ thể động vật
có tính giai đoạn. Mỗi giai đoạn khác nhau thì sự sinh trưởng và phát dục
khác nhau. Giai đoạn đầu của thời kì bào thai, quá trình phát dục mạnh và
nhanh để hình thành nên các tổ chức, bộ phận của cơ thể nhưng đồng thời quá
trình sinh trưởng diễn ra cũng rất khẩn trương. Đến cuối giai đoạn bào thai thì
quá trình phát dục chậm lại và quá trình sinh trưởng lại nhanh hơn để tăng
khối lượng, kích thước cho cơ thể, như vậy hai quá trình này có một mối liên
hệ chặt chẽ. Nếu phát dục không đầy đủ sẽ trở nên dị tật và ngược lại, nếu
sinh trưởng không đầy đủ cơ thể sẽ còi cọc, chậm lớn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Công thức tính:
A =
12
21
TT
VV



A: Độ sinh trưởng tuyệt đối, đơn vị tính gram/ ngày
V
2
: Thể tích, kích thước, khối lượng tích lũy được ở thời điểm T
2

V
1
: Thể tích, kích thước, khối lượng tích lũy được ở thời điểm T
1

- Độ sinh trưởng tương đối: là sự tăng thêm về thể tích, kích thước, khối
lượng của cơ thể hoặc từng bộ phận của cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau
so với thời điểm sinh trưởng trước và được tính theo phần trăm.
Công thức tính:
R (%) = {V
2
- V
1
/ 0,5(V
2

cung cấp một khối lượng cơ vân cùng một số mô khác như mô mỡ, mô chống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
đỡ, như mô liên kết gồm: gân, dây chằng, nội mạc cơ... Ngoài sản phẩm thịt
ra chúng ta còn thu được một số sản phẩm như: nội tạng, máu, xương, lưỡi,
lông, da… có được những sản phẩm này là do quá trình dinh dưỡng của các
bộ phận khác nhau của thịt và các sản phẩm phụ không đồng đều nhau. Mỗi
loại gia súc, gia cầm khác nhau đều cho sản phẩm thịt khác nhau, khả năng
cho thịt của gia súc chính là mức độ tích tụ các vật chất dinh dưỡng cho tế bào
cơ, hệ thống cơ này khi gia súc còn sống nó thực hiện hàng loạt chức năng
sinh lý như vận động, tuần hoàn, tiêu hoá, hấp thu…
Các thành phần lý học, hoá học và đặc điểm cấu tạo của cơ phụ thuộc
vào đặc tính di truyền, trao đổi chất và khả năng vận động cùng với những tác
động khác của điều kiện ngoại cảnh. Con người đã dù ng các biện pháp kỹ
thuật, kết hợp với những khă năng sẵn có của gia súc để nâng cao khả năng
cho thịt, đáp ứng nhu cầu của con người. Trong chăn nuôi gia súc người ta
đánh giá khả năng cho thịt theo các chỉ tiêu sau:
- Khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ.
- Khối lượng và tỷ lệ thịt tinh.
- Khối lượng và tỷ lệ xương, da…
Thịt dê con 8-12 tuần tuổi khi khối lượng đạt 6-8 kg rất được ưa thích ở
các nước châu Mỹ la tinh, và một số vùng Châu Phi, Trung Cận Đông và
Nam Á. Thịt dê non từ 1 - 2 tuổi là loại thịt quan trọng nhất trong sản xuất thịt
dê. Khối lượng lúc 1 năm tuổi khác nhau theo từng giống, vùng nuôi và ở
trong khoảng 12,9 - 24,7 kg (con đực); 11,2 - 19,7 kg (con cái).
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
Mỗi cơ thể khác nhau, mỗi loài khác nhau hay trong điều kiện môi
trường khác nhau cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng. Các yếu tố chính

bệnh. Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ thức ăn và cân đối về thành phần dinh
dưỡng, có như vậy mức độ tiêu tốn đơn vị thức ăn cho 1 kg tăng trọng sẽ
giảm và đảm bảo cho con vật sinh trưởng tốt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
d- Loại hình thức ăn
Thức ăn, dinh dưỡng là tiền đề tạo nên năng suất vật nuôi, tuỳ theo
mục đích sử dụng khác nhau mà số lượng và chất lượng thức ăn cũng khác
nhau để đạt được mức độ dinh dưỡng thích hợp. Mặt khác, con vật có bản
tính di truyền khác nhau về nhu cầu dinh dưỡng và khả năng chống chịu sự
thiếu hụt một số yếu tố dinh dưỡng nào đó, nếu coi sự thiếu hụt một chất
dinh dưỡng nào đó là yếu tố không thuận lợi của môi trường ngoại cảnh thì
những cá thể có kiểu di truyền có sức chống chịu cao với sự thiếu hụt đó khi
phải sống trong môi trường khó khăn sẽ có sức chống chịu tốt hơn so với
những cá thể khác.
Nếu cho dê con tập ăn thức ăn thực vật sớm sẽ kích thích sự phát triển
của bộ máy tiêu hóa, dạ cỏ hoạt động kích thích sự hoàn thiện hệ vi sinh vật
nhanh chóng, có lợi cho tiêu hóa. Khi trưởng thành dê sẽ tiêu hóa các loại
thức ăn tốt hơn.
e- Chăm sóc:
Các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng chuồng nuôi, không khí, sự vận động
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của gia súc. Nếu điều kiện chăm sóc
kém sẽ làm giảm sức đề kháng của con vật, con vật chậm lớn, dễ mắc bệnh.
Theo một số tác giả nghiên cứu trên gia súc nhai lại cho thấy nhiệt độ môi
trường có ảnh hưởng tới sự chuyển hóa năng lượng và năng lượng thu nhận
thức ăn ở giới hạn nhiệt độ thấp. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng của dê con.
Dê con rất cần ánh sáng, đặc biệt là tia tử ngoại để phát triển. Thiếu ánh

tiếp xúc với môi trường ngoài. Khi ở môi trường ngoài, cơ thể gia súc non sẽ
dần dần thích nghi và phát triển với tốc độ chậm hơn. Đến một giai đoạn
nhất định, con vật sẽ có biểu hiện về tính dục và sản sinh ra các giao tử hoạt
động. Như vậy, sự thành thục về tính dục của gia súc phải có đủ điều kiện:
con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản. Theo Devandra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
và G.B Mcleroy (1987)[32], tuổi thành thục tính dục trung bình của dê là 4 -
12 tháng tuổi. Gia súc có sự thành thục về tính trước, sau đó mới thành thục
về thể vóc. Mỗi loài gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về thể vóc
khác nhau. Ở trâu đối với con cái là 30 - 36 tháng tuổi, con đực là 36 - 42
tháng, bò sữa là 18 tháng tuổi, ở dê là 12-18 tháng. Thời kỳ sinh sản của dê là
7 - 10 năm (Đinh Văn Bình, 1994 [1]). Trong thời kì động dục con vật có hoạt
động sinh dục. Đối với con đực thì hoạt động sinh dục thường xuyên nhưng
với con cái lại hoạt động theo chu kì gọi là chu kì động dục. Chu kì động dục,
thời gian động dục cũng như các biểu hiện của hành vi sinh dục ở các loài có
sự khác nhau, ngoài ra còn có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chu kì động dục
như chế độ chiếu sáng, nhiệt độ, pheremon, tiếng kêu của con đực, sự tiếp xúc
giữa cá thể đực và cái, mùa vụ, đặc biệt là dinh dưỡng. Chu kì động dục của
dê là 19 - 21 ngày, chia làm 4 giai đoạn. Biểu hiện của các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn trước động dục: là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu hủy tới lần
động dục tiếp theo, chuẩn bị điều kiện cho đường sinh dục cái và buồng trứng
để tiếp nhận tinh trùng, đón trứng rụng và thụ tinh. Màng nhầy tử cung, âm
đạo tăng sinh, mạch quản tăng cung cấp nhiều máu. Tử cung, âm đạo, âm hộ
bắt đầu xung huyết, các tuyến sinh dục phụ tiết dịch nhầy, âm đạo tiết ra dịch
nhầy loãng làm trơn đường sinh dục.
- Giai đoạn động dục: gồm 3 thời kì liên tiếp là: hưng phấn, chịu đực và
hết chịu đực. Biểu hiện: âm hộ xung huyết, tấy sưng lên, chuyển từ màu hồng

trưng cho loài, nhưng nếu lượng enzim quá ít sẽ không đủ để phá vỡ màng
phóng xạ, nếu nhiều quá sẽ phá hủy tế bào trứng.
- Giai đoạn 2: Sau khi phá vỡ được màng phóng xạ, đầu tinh trùng tiết
enzim Zonalizin phân hủy màng trong suốt. Enzim này đặc trưng cho loài, vì
vậy chỉ có những tinh trùng cùng loài mới phát huy tác dụng và tiếp cận
trứng. Sau đó, những tinh trùng nào có sức sống cao nhất mới có thể qua
màng trong suốt tiếp cận với màng noãn hoàng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
- Giai đoạn 3: Ở giai đoạn này, đầu tinh trùng tiết enzim muraminidaza,
chỉ có 1 tinh trùng có sức sống cao nhất xuyên qua màng noãn hoàng, đầu
tinh trùng tự tách khỏi thân, cổ để vào gặp tế bào trứng. Tại đây diễn ra quá
trình đồng hóa lẫn nhau giữa tinh trùng và nhân của tế bào trứng, sau đó nhân
của tinh trùng và nhân của trứng đồng hóa lẫn nhau tạo thành hợp tử lưỡng
bội 2n, hợp tử làm tổ ở 2 sừng tử cung và sau khi bám chắc vào niêm mạc tử
cung sẽ phát triển thành phôi. Sau khi giao phối, thụ tinh có kết quả, con cái
chuyển sang giai đoạn mang thai. Giai đoạn này được tính từ khi trứng được
thụ tinh đến khi đẻ. Thời gian mang thai của dê trong khoảng 143 - 154 ngày
(Đinh Văn Bình, 1994) [1]).
Khi gia súc mang thai sẽ có những biến đổi ở cơ quan sinh dục và cơ
thể xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau. Toàn bộ những biến đổi đó
rất cần thiết cho bào thai hình thành và phát triển, quá trình sinh đẻ diễn ra
bình thường.
Sau 1 thời gian mang thai, ở gia súc sẽ xảy ra quá trình đẻ. Để chuẩn bị
cho lần mang thai tiếp theo, gia súc phải cần 1 thời gian nhất định để hồi phục
lại cơ quan sinh dục. Thời gian động dục trở lại sau đẻ phụ thuộc vào quá
trình hồi phục của buồng trứng. Đồng thời, tỉ lệ thụ thai lần sau phụ thuộc rất
lớn vào bản thân con vật, sự hồi phục đường sinh dục và hoạt động chu kì sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status