Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà mía và TP3 nuôi tại trung tâm nghiên cứu gia cầm thụy phương - Pdf 23



BỘ GIÁO DỤC VÀ ðẠO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

LÊ XUÂN SƠN

KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA TỔ HỢP LAI GIỮA
GÀ MÍA VỚI TP3 NUÔI TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU
GIA CẦM THỤY PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Hà Nội - 2013

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp ñỡ
của tập thể trong và ngoài cơ quan.
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách
nhiệm về những số liệu trong bản luận văn này.

Học viên Lê Xuân Sơn

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii

LỜI CẢM ƠN

Có ñược công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính
trọng sâu sắc tới Ban giám ñốc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ
Phương, Viện Chăn Nuôi, Bộ Nông Nghiệp & PTNT, Ban ñào tạo sau ñại
học, Trường ðại học Nông Nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ và tạo mọi ñiều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện ñề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phùng ðức Tiến, PGS.TS. ðinh

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 2
1.4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài 2
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu 3
2.1.1 Cơ sở lý luận về ñặc ñiểm ngoại hình của gia cầm 3
2.1.2 Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất 4
2.1.3 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo 20
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài và trong nước 28
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi gia cầm lai thế giới 28
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG, ðỊA ðIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 36
3.1 Vật liệu và ñịa ñiểm nghiên cứu 36
3.2 Nội dung nghiên cứu 36
3.2.1 ðánh giá khả năng sinh sản của ñàn sinh sản ghép giữa gà Mía với gà TP3 36
3.2.2 ðánh giá khả năng sản xuất của con lai 36
3.3 Phương pháp nghiên cứu 37
3.3.1 Sơ ñồ tạo con lai: 37
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 37
3.3.3 Chế ñộ dinh dưỡng 38
3.3.4 Phương pháp xác ñịnh các chỉ tiêu nghiên cứu 39

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv

3.4. Phương pháp xử lý số liệu 44
Phần IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
4.1. Kết quả nghiên cứu trên ñàn gà sinh sản 45
4.1.1. ðặc ñiểm ngoại hình 45
4.1.2. Tỷ lệ nuôi sống 47

DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 3.1 Chế ñộ dinh dưỡng cho gà sinh sản gà Mía và gà TP3 38
Bảng 3.2 Chế ñộ dinh dưỡng cho gà ñàn gà nuôi thịt thí nghiệm Mía –
MP – PM - TP3 39
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm giai ñoạn 0- 6 TT 47
Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà sinh sản giai ñoạn 7- 20 TT 48
Bảng 4.3 Khối lượng cơ thể gà mái sinh sản thí nghiệm qua các tuần tuổi 50
Bảng 4.4: Lượng thức ăn tiêu thụ giai ñoạn 1 – 20 tuần tuổi 51
Bảng 4.5 Tuổi ñẻ, khối lượng cơ thể, khối lượng trứng của gà mái khi tỷ
lệ ñẻ ñạt 5%; 30%; 50% và ở 38 tuần tuổi 53
Bảng 4.6: Tỷ lệ ñẻ và năng suất trứng của ñàn gà thí nghiệm 55
Bảng 4.7 Hiệu quả sử dụng thức ăn cho10 trứng 57
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà Mía và gà TP3 ở 38 TT …… …
58
Bảng 4.9 Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở 59
Bảng 4.10 Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi 62
Bảng 4.11 Khối lượng cơ thể từ mới nở ñến 12 TT 64
Bảng 4.12 Sinh trưởng tuyệt ñối 66
Bảng 4.13 Sinh trưởng tương ñối 68
Bảng 4.14 Hiệu quả sử dụng thức ăn cho tăng khối lượng cơ thể 69
Bảng 4.15 Chỉ số sản xuất 71
Bảng 4.16 Chỉ số kinh tế 72
Bảng 4.17 Năng suất thịt của gà thí nghiệm lúc 12 TT 73
Bảng 4.18 Thành phần hóa học của thịt gà thí nghiệm lúc 12 TT 74
Bảng 4.19 Năng suất thịt/mái sinh sản/68 TT 76
Bảng 4.20 Hiệu quả kinh tế nuôi gà lai thương phẩm 77

nam do Trung tâm NCGC Thụy Phương nuôi giữ
TP3 Là dòng mái của bộ giống gà lông màu hướng thịt ñược tạo
chọn thành công tại TTNC Gia cầm Thụy Phương năm
2010
PM Con lai giữa gà trống TP3 và con mái Mía
MP Con lai giữa gà trống Mía và con mái TP3
TT Tuần tuổi
TTTA Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
ƯTL Ưu thế lai Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1

Phần I
ðẶT VẤN ðỀ

1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Ngành chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người,
trong ñó sản phẩm thịt từ chăn nuôi gia cầm ñóng góp một số lượng lớn chiếm
ñến 17-18% tổng số thịt các loại, chăn nuôi gia cầm có lợi thế là khả năng sinh
trưởng nhanh trong thời gian nuôi ngắn. Theo số liệu của tổng cục thống kê năm
2012, tổng số gia cầm trong cả nước là 308,5 triệu con, cung cấp 729,4 nghìn tấn
thịt gia cầm và 7.299,9 triệu quả trứng.

Các tổ hợp lai làm tăng sản phẩm thịt, nâng cao chất lượng thịt, làm phong
phú các tập ñoàn giống gà lông màu phù hợp với nhiều ñịa phương tạo ñiều kiện
cho nhiều nông hộ tiến tới làm giàu.
1.4 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu của ñề tài
- Gà Mía với TP3 sinh sản và con lai của chúng.
- ðề tài ñược tiến hành tại Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thụy phương–
Từ Liêm – Hà Nội.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3

Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4

có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Khi mới nở, gia cầm con ñược lông tơ
che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần ñược thay thế bằng lông cố ñịnh.
Tốc ñộ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có thể
có quan hệ mật thiết với cường ñộ sinh trưởng của gia cầm. Theo Brandsch và
Biilchel (Nguyễn Chí Bảo dịch, 1978), những gia cầm có tốc ñộ sinh trưởng
nhanh thì có tốc ñộ mọc lông nhanh. Hayer và Carthy (1970), cho biết gà mái
mọc lông ñều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormon có tác
dụng ngược với gen liên kết qui ñịnh tốc ñộ mọc lông. Màu lông do một số gen
qui ñịnh, phụ thuộc và sắc tố chứa trong bào tương của tế bào. Lông gia cầm có
màu sắc khác nhau là do mức ñộ oxy hoá các chất tiền sắc tố melanin
(melanogene) trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom
(carotinoit) thì lông có màu vàng họăc màu ñỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông
có màu trắng.
Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn, nhưng không thô. Gà có
chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm
giống. ðặc ñiểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục
chậm (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch, 1978).
2.1.2 Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất
2.1.2.1 Tính trạng sinh sản
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, ñược nuôi
trong ñiều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các ñặc ñiểm di truyền số lượng
và ảnh hưởng của những tác ñộng môi trường lên các tính trạng ñó. Hầu hết các
tính trạng về năng suất của gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, tăng trưởng, ñẻ
trứng ñều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng
là do các gen qui ñịnh. Theo Nguyễn Ân và CTV (1983), các tính trạng sản xuất
là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng ño lường như KL, kích thước

Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của môi trường. Có
hai loại môi trường chính:
- Môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác ñộng lên
toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại yếu tố này có tính chất thường
xuyên như: thức ăn, khí hậu, ñiều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6

- Môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác ñộng riêng
rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai ñoạn nhất ñịnh trong
cuộc ñời con vật. Loại này có tính chất không thường xuyên. Nếu bỏ qua mối
tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G)
và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:
P = A + D + I + Eg + Es
Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật
khác, con cái ñều nhận ñược ở bố mẹ một số gen quy ñịnh tính trạng số lượng
nào ñó. Tính trạng ñó ñược xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền,
nhưng khả năng ñó phát huy ñược hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống
như: chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,
Người ta có thể xác ñịnh các tính trạng số lượng qua mức ñộ tập trung (Χg),
mức ñộ biến dị (CV%), hệ số di truyền của các tính trạng (h
2
), hệ số lặp lại của
các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng, v.v
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà
Tỷ lệ nuôi sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu ñể ñánh giá sức sống
của gia cầm. Ở giai ñoạn hậu phôi, sự giảm sức sống ñược thể hiện ở tỷ lệ chết cao
qua các giai ñoạn sinh trưởng (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch, 1978).
Khavecman (1972) cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ sống, ưu thế lai làm tăng tỷ

Cường ñộ ñẻ trứng là sức ñẻ trứng trong thời gian ngắn, có liên quan chặt
chẽ với sức ñẻ trứng trong cả năm của gia cầm. Sự xuất hiện bản năng ñòi ấp phụ
thuộc vào yếu tố di truyền, thể hiện ở các giống khác nhau với mức ñộ khác
nhau. Sự khác nhau ñó thể hiện ở thời ñiểm ấp và thời gian ấp kéo dài. Phần lớn
các dòng gà ham ấp ñều có sức ñẻ trứng kém.
Thời gian nghỉ ñẻ của gia cầm: giữa các chu kỳ ñẻ trứng gà thường có thời
gian nghỉ ñẻ, ñiều này ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng trứng, yếu tố này bị ảnh
hưởng từ tính mùa vụ, sự thay ñổi thức ăn, di truyền,… Thời gian ñẻ kéo dài ñược
tính từ khi ñẻ quả trứng ñầu tiên tới khi thay lông hoàn toàn. Giữa thời gian ñẻ trứng
kéo dài với sự thành thục có tương quan nghịch rõ rệt, với sức ñẻ trứng có tương
quan dương rất cao (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch, 1978).
Năng suất trứng
Trứng của gia cầm nói chung và của gà nói riêng là một tế bào sinh sản
khổng lồ. Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng ñỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ. Buồng
trứng có chức năng tạo thành lòng ñỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng,

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
8

màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên. Nhiều tài liệu nghiên cứu ñều xác ñịnh
ở gà mái, trong quá trình phát triển từ phôi hai bên phải, trái ñều có buồng trứng,
nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất ñi, còn lại buồng trứng bên trái
(Vương ðống, 1968).
Số lượng tế bào trứng của gà mái ở thời kỳ ñẻ trứng có thể ñếm ñược
khoảng 3.600 trứng, nhưng chỉ có 1 số lượng rất hạn chế ñược chín và rụng
(Phùng ðức Tiến, 1996).
Trong thời gian phát triển ban ñầu, các tế bào trứng ñược bao bọc bởi một
tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh. Tầng tế bào này trở thành
nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là
follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa ñầy một chất dịch. Bề ngoài

, cho nên trong ñiều kiện bình thường gà ñẻ ñầu tù của quả
trứng ra trước.
Sự di truyền về sinh sản của gia cầm rất phức tạp, việc sản xuất trứng của
gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền:
Tuổi thành thục về sinh dục: người ta cho rằng ít nhất có hai cặp gen chính
tham gia vào yếu tố này: gen E (gen liên kết giới tính) và e; còn cặp thứ hai là E’
và e’. Gen trội E chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục.
Cường ñộ ñẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ ñiều hành.
Bản năng ñòi ấp: do 2 gen A và C phối hợp với nhau ñiều khiển.
Thời gian nghỉ ñẻ (ñặc biệt là nghỉ ñẻ vào mùa ñông): do các gen M và m
ñiều khiển. Gia cầm có gen mm thì về mùa ñông vẫn tiếp tục ñẻ ñều.
Thời gian kéo dài của chu kỳ ñẻ: do cặp gen P và p ñiều hành.
Hai yếu tố 1 và 5 kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee
có phối hợp với nhau. Tất nhiên, ngoài các gen chính tham gia vào việc ñiều
khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào.
Tuổi ñẻ quả trứng ñầu là một chỉ tiêu ñánh giá sự thành thục sinh dục, cũng
ñược coi là 1 yếu tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972). Tuổi ñẻ quả
trứng ñầu ñược xác ñịnh bằng số ngày tuổi của gà mái kể từ khi nở ra ñến khi ñẻ
quả trứng ñầu.
Một số tác giả cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc thể giới tính cùng tham
gia hình thành tính trạng này (Khavecman, 1972). Theo Trần ðình Miên và
Nguyễn Kim ðường, (1992), có ít nhất hai cặp gen cùng qui ñịnh về tuổi ñẻ quả
trứng ñầu, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai gen E’ và e’.
Có mối tương quan nghịch giữa tuổi ñẻ và năng suất trứng (NST), tương quan
thuận giữa tuổi ñẻ và KL trứng.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
10

Tuổi ñẻ quả trứng ñầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế ñộ nuôi dưỡng,

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11

ấp bóng, tuổi thành thục sinh dục.
Tuổi thành thục sinh dục: Thường tuổi thành thục sinh dục của gà dao
ñộng trong khoảng 19 – 24 tuần tuổi. Tuổi thành thục sinh dục càng sớm thì thời
gian gian ñẻ trứng càng dài, NST càng cao. Tuy nhiên, nếu tuổi thành thục sinh
dục sớm, tuổi thành thục về thể vóc thì sức bền ñẻ trứng không cao vì cơ thể gà
mái chưa thành thục về thể vóc, vẫn ñang sinh trưởng phát dục ñể hoàn thiện cấu
chúc chức năng cơ thể, nhưng chất dinh dưỡng không thể tập trung cho hoàn
thiện cấu trúc cơ thể ñược mà phải cung cấp cho quá trình tạo trứng nên ảnh
hưởng ñến sức sản xuất trứng về sau.
Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới
tính, thời gian nở trong năm… Cụ thể, giống gà hướng trứng có tuổi thành thục
sinh dục sớm hơn giống gà hướng thịt, gà thành thục sinh dục sớm hơn vịt và
ngỗng. Gà con nở vào mùa thu thường có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn các
mùa khác trong năm.
Cường ñộ ñẻ: cường ñộ ñẻ trong 3-4 tháng ñầu có tương quan rất chặt chẽ
với sản lượng trứng của gia cầm. Nếu cường ñộ ñẻ trứng càng cao thì sản lượng
trứng cao và ngược lại.
Thời gian kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học: chu kỳ ñẻ trứng sinh học ñược
tính từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu tiên ñến khi gia cầm nghỉ ñẻ ñể thay lông,
ñó là chu kỳ thứ nhất và lại tiếp tục chu kỳ thứ hai. SLT phụ thuộc vào thời gian
kéo dài chu kỳ ñẻ trứng sinh học, thời gian này càng dài càng tốt. Chỉ tiêu này có
tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục, sức bền ñẻ trứng, chu kỳ ñẻ
trứng khác nhau tuỳ từng cá thể. Những gia cầm ñẻ tốt có chu kỳ ñẻ trứng dài,
nhịp ñộ ñẻ trứng ñều và thời gian nghỉ ñẻ ngắn, còn những gia cầm ñẻ kém có
dấu hiệu ngược lại.
Tính nghỉ ñẻ mùa ñông: vào mùa ñông, nhiệt ñộ thấp nên cơ thể phải huy
ñộng năng lượng ñể chống rét. Tuy nhiên, với những giống gà tốt thì thời gian

2
. Ở nước ta, cường ñộ ñẻ cao nhất vào khoảng 8-12 giờ,
chiếm hơn 60-70% (Nguyễn Mạnh Hùng và CTV, 1994).
Thay lông cũng biểu thị sự ảnh hưởng ñến NST vì sau mỗi chu kỳ ñẻ
trứng sinh học gia cầm nghỉ ñẻ và thay lông. Trong ñiều kiện bình thường, lúc
thay lông lần ñầu tiên là thời ñiểm quan trọng ñể ñánh giá gia cầm ñẻ tốt hay xấu.
Những ñàn gà thay lông sớm, thời gian thay lông bắt ñầu từ tháng 6-7 và quá
trình thay lông diễn ra chậm kéo dài 3-4 tháng là những ñàn gà ñẻ kém. Ngược
lại, có những ñàn gà thay lông muộn thời gian thay lông bắt ñầu từ tháng 10-11,
quá trình thay lông lại diễn ra nhanh là những ñàn gà ñẻ tốt. ðặc biệt ở một số
ñàn cao sản, thời gian nghỉ ñẻ chỉ 4-5 tuần và ñẻ lại ngay khi chưa hình thành

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13

xong bộ lông mới, có những con ñẻ ngay trong thời gian thay lông. Như vậy, thay
lông liên quan mật thiết ñến SLT của gia cầm.
Khối lượng trứng
Roberts (dẫn theo Phan Cự Nhân, 1998), cho rằng giá trị trung bình về KLT
ñẻ ra trong một chu kỳ là một tính trạng do nhiều gen có tác ñộng cộng gộp qui
ñịnh, nhưng hiện còn chưa xác ñịnh rõ số lượng gen qui ñịnh tính trạng này. Sau
SLT, KLT là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của ñàn gà bố mẹ. Khi cho
lai hai dòng gia cầm có KLT lớn và bé, trứng của con lai thường có KL trung
gian (Khavecman, 1972).
Tính trạng KLT có hệ số di truyền cao, do ñó có thể ñạt ñược nhanh chóng
thông qua con ñường chọn lọc (Kushner, 1974). Ngoài các yếu tố về di truyền,
KLT còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa
vụ, tuổi gia cầm. Trứng của gia cầm mới bắt ñầu ñẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng
thành 20-30%. KLT mang tính ñặc trưng của từng loài và mang tính di truyền cao.
Hệ số di truyền của KLT là 48-80% (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch,

năng của các bộ phận cơ thể. Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ thai, qua các giai
ñoạn khác nhau ñến khi trưởng thành. Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức
tạp, từ khi thụ tinh ñến khi trưởng thành. ðể xác ñịnh chính xác toàn bộ quá trình
sinh trưởng không ñơn giản.
Một số yếu tố ảnh hưởng ñến sinh trưởng
Có rất nhiều yếu tố về di truyền và ngoại cảnh ảnh hưởng ñến sinh trưởng
của gà như: giống, tính biệt, tốc ñộ mọc lông, ngoại hình và sự phát triển của cơ
lưỡi hái, KL bộ xương, dinh dưỡng, ñiều kiện chăn nuôi
Ảnh hưởng của giống ñến sinh trưởng: giống có ảnh hưởng lớn tới quá
trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm. Nhiều công trình nghiên cứu ñã khẳng
ñịnh sự sinh trưởng của từng cá thể giữa các giống có sự khác nhau, gà thịt có tốc
ñộ sinh trưởng nhanh hơn gà kiêm dụng và gà hướng trứng, giữa các dòng của
một số giống cũng có sự khác nhau về sinh trưởng.
Theo tài liệu tổng hợp của Chambers (1990) có rất nhiều gen ảnh hưởng
tới sự sinh trưởng và phát triển cơ thể gà. Ảnh hưởng của giống ñến tốc ñộ sinh
trưởng, thể hiện qua sự di truyền các ñặc ñiểm của chúng qua ñời sau, ñược ñặc
trưng bởi hệ số di truyền. ðã có nhiều tác giả nghiên cứu hệ số di truyền về tốc
ñộ sinh trưởng và KL. Marco (1982) cho biết hệ số di truyền của tốc ñộ sinh
trưởng từ 0,4 ñến 0,5. Theo tài liệu của Chambers (1990) ñã tổng kết một cách
hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc ñộ sinh trưởng, kết quả qua phân tích phương

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15

sai dựa theo con bố ñã công bố từ 0,4 ñến 0,6.
Dòng/giống. Letner và Asmundsen (1938) ñã so sánh tốc ñộ sinh trưởng của
các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi và cho rằng gà
Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn ở 2-6 tuần tuổi và sau ñó không
có sự khác nhau. Nguyễn Mạnh Hùng và CTV (1994)cho biết sự khác nhau về KL
giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng

trưởng, phát triển tốt hơn. Theo Brandsch và Bilchel (Nguyễn Chí Bảo dịch,
1978) tốc ñộ mọc lông là tính trạng di truyền có liên quan ñến ñặc ñiểm trao ñổi
chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm.
Gia cầm có tốc ñộ mọc lông nhanh thì sự thành thục về KL sớm hơn, chất
lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm. Song, dù có tốc ñộ mọc lông chậm thì
8-12 tuần tuổi cũng mọc lông ñủ (Warren, 1994, dẫn theo Trần Long, 1994).
Hayer và Carthy (1970) ñã xác ñịnh trong cùng một giống, gà mái mọc lông ñều
hơn gà trống và ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết
giới tính qui ñịnh tốc ñộ mọc lông.
Ảnh hưởng của chế ñộ dinh dưỡng: Dinh dưỡng có mối liên quan chặt chẽ
với sự duy trì sự sống, khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm. Sinh trưởng là
tổng sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da. Tỷ lệ sinh trưởng các
phần này khác nhau ở ñộ tuổi và phụ thuộc vào mức dinh dưỡng. Theo Chambers
(1990), chế ñộ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận
khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô. Hơn nữa,
dinh dưỡng còn ảnh hưởng ñến biến ñộng di truyền về sinh trưởng.
Những kết quả của của Bùi ðức Lũng và Trần Long (1994) chỉ ra rằng ñể
phát huy ñược tốc ñộ sinh trưởng tối ña cần cung cấp thức ăn tối ưu với ñầy ñủ
chất dinh dưỡng dược cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với
năng lượng. Ngoài ra, trong thức ăn hỗn hợp còn ñược bổ sung hàng loạt các chế
phẩm hoá sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh
trưởng làm tăng năng suất và chất lượng thịt.
Mùa vụ: Ở nước ta, ñiều kiện khí hậu ở hai vụ ðông-Xuân và Hè-Thu cũng
gây ảnh hưởng tới tốc ñộ sinh trưởng , sinh sản của gia cầm. ðặc biệt khí hậu
nóng ẩm nhiệt ñới gió mùa của nước ta tác ñộng khá rõ rệt tới gia cầm.
Vụ Hè thu, nhiệt ñộ, ñộ ẩm cao gây streess tới gia cầm làm cho khả năng
thu nhận thức ăn giảm dẫn ñến việc tăng khối lượng cơ thể kém nhưng thời gian
chiếu sáng dài và cường ñộ sáng mạnh lại có tác ñộng tích cực lên khả năng sinh
sản của gia cầm.
Ở chiều ngược lại về vụ ðông – Xuân, nhiệt ñộ thấp, khô hanh, thời gian chiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status