BÁO CÁO KHOA HỌC : ẢNH HƯỞNG CỦA TẦN SUÂT SIÊU ÂM ĐẾN KẾT QUẢ THU TẾ BÀO TRỨNG TỪ BÒ SỐNG ĐỂ TẠO PHÔI IN VITRO - Pdf 15


PHAN LÊ SƠN – Ảnh hưởng của tần suất siêu âm 53

ẢNH HƯỞNG CỦA TẦN SUÂT SIÊU ÂM ĐẾN KẾT QUẢ THU TẾ BÀO TRỨNG
TỪ BÒ SỐNG ĐỂ TẠO PHÔI IN VITRO
(Kết quả bước đầu thực hiện năm 2006 )
Phan Lê Sơn
1*
, Nguyễn Văn Lý
2
, Nguyễn Thị Thoa
2
,
Nguyễn Khánh Vân
2
Vũ Ngọc Hiệu
1
và Lưu Thị Ngọc Anh
2

1
Bộ môn Sinh lý Sinh hóa và Tập tính vật nuôi
2
Phòng Thí nghiệm trọng điểm Tế bào động vật
*Tác giả liên hệ: Phan Lê Sơn - Bộ môn Sinh lý Sinh hóa và Tập tính vật nuôi
Viện Chăn nuôi - Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội
Tel: (04) 38.385.940 /0914.551.149; Email:
ABSTRACT

Tinh cọng rạ HF nhập từ Mỹ có hoạt lực trên 40%, có năng suất sữa trên 10.000 lít/chu kỳ.
Loại tinh này đã được kiểm tra năng suất qua đời sau. Bò nhận phôi là bò Lai Sind và bò lai

VIỆN CHĂN NUÔI - Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi - Số 21-Tháng 12-2009 54

hướng sữa (F2, F3) có thể trọng >250kg, có chu kỳ sinh lý sinh sản bình thường và không
mắc các bệnh về đường sinh dục.
Nội dung nghiên cứu
Xác định ảnh hưởng của tần suất siêu âm đến số lượng tế bào trứng thu được
Xác định ảnh hưởng của tần suất siêu âm đến kết quả tạo phôi in vitro.
Phương pháp nghiên cứu
Những con bò tốt đã được chọn lựa về mặt di truyền sẽ được sử dụng máy siêu âm hoặc khám
qua trực tràng để xác định khả năng cho tế bào trứng, từ đó tiến hành thu tế bào trứng. Hút tế
bào trứng được thực hiện mỗi tuần một lần và 2 lần.
Quá trình hút tế bào trứng được tiến hành như sau:
Cho bò vào giá cố định, lấy hết phân ra, rửa sạch, sát khuẩn âm hộ và khu vực xung quanh.
Chuẩn bị hệ thống máy siêu âm, nối đầu dò âm đạo vào máy siêu âm. Nối kim hút tế bào
trứng (kim 16G dài 55 cm), đặt máy tạo áp suất ở 120 mmHg, tương đương tốc độ dòng chảy
25 ml/phút. Chuẩn bị môi trường hút tế bào trứng (mDPBS của Sigma) có bổ sung 50 iu/ml
heparin và 5% huyết thanh bê và kháng sinh (100.000 UI penicilin/ml + 100mg
streptomycin/ml) duy trì ở nhiệt độ 37
0
C bằng máy ổn nhiệt.
Nhẹ nhàng cho đầu dò siêu âm có gắn hệ thống dẫn kim vào âm đạo, cho tay qua trực tràng
xác định vị trí của buồng trứng, vị trí các nang trứng rồi đưa buồng trứng về phía đầu quét của
đầu dò, quan sát các nang trứng trên màn hình máy siêu âm, đếm số nang trứng có mặt trên
buồng trứng, Trước khi hút dịch nang trứng, hút một ít môi trường hút trứng để làm trơn hệ


KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thu tế bào trứng từ bò sống
Trong tổng số 276 lượt buồng trứng bò sống được thu tế bào trứng bằng phương pháp siêu
âm, số tế bào trứng thu được là 1112, trung bình thu được 4,03 tế bào trứng/buồng trứng/lần
(Bảng 1).
Bảng 1. Thu tế bào trứng từ bò sống
Chỉ tiêu Kết quả
Số lượt buồng trứng siêu âm 276
Tổng số tế bào trứng thu được 1112
Tế bào trứng thu được/buồng trứng (Mean ± SE)/lần 4,03±1,41
Số nang trứng trung bình/buồng trứng/lần trong thí nghiệm của chúng tôi thấp hơn so với số
liệu của Rizos và cs. (2005) ở cả bò hậu bị và bò cái sau đẻ (10,4 và 7,8 nang trứng/buồng
trứng tương ứng). Tuy nhiên, số tế bào trứng bình quân thu được/buồng trứng/lần trong thí
nghiệm của chúng tôi không sai khác nhiều so với kết quả các tác giả này (3,98 so với 4,7 ở
bò hậu bị và 2,8 ở bò sau đẻ).
Ảnh hưởng của khoảng cách thu tế bào trứng lặp lại
Không có sự khác biệt về số lượng tế bào trứng thu được/buồng trứng bò cái/tuần giữa
phương pháp siêu âm một lần một tuần so với hai lần một tuần. Với khoảng cách siêu âm một
lần/tuần, số lượng tế bào trứng trung bình thu được/buồng trứng là 5,1. Trong khi đó, ở quy
trình siêu âm 2 lần/tuần, số lượng tế bào trứng trung bình thu được là 5,28 (Bảng 2).
Bảng 2. Ảnh hưởng của khoảng cách lặp lại đến kết quả thu tế bào trứng
Tế bào trứng thu được/tuần Khoảng cách
siêu âm
Số lượt buồng trứng
Được siêu âm
n Mean
1 lần/tuần 156 795 5,10
2 lần/tuần 120 317 5,28
Kết quả siêu âm thu tế bào trứng lặp lại của chúng tôi còn thấp hơn kết quả của một số tác giả

Loại D 290 26,06
Loại sử dụng (A,B) 768 69,06
Chung 1112 100,0
Bảng 3 cho thấy, có sự khác nhau về tỷ lệ tế bào trứng thu được. Chất lượng tế bào trứng loại
A là cao nhất, chiếm tỷ lệ 35,97%%, tiếp theo là tế bào trứng loại B và D (33,09% và 26,06%
tương ứng); tỷ lệ tế bào trứng loại C thu được là thấp nhất, đạt 4,86%. Như vậy, tế bào trứng
có thể sử dụng được đạt 69,06% (768/1112). Tỷ lệ tế bào trứng loại A và B của chúng tôi cao
hơn so với kết quả của một số tác giả khác đã báo cáo.
Tỷ lệ tế bào trứng loại A và B của chúng tôi (60,39%; 154/255) cao hơn tỷ lệ tế bào trứng loại
I và II của các tác giả Viana và cs. (2004) khi sử dụng quy trình siêu âm mỗi tuần một lần
(29,0%) và 2 lần một tuần (35%). Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi còn thấp hơn so với kết
quả của Reis và cs. (2002) đã báo cáo. Theo các tác giả này, tỷ lệ tế bào trứng loại I và II thu
được ở lần siêu âm 1 và 2 tương ứng là 54,9% và 46,8%.
Ảnh hưởng của khoảng cách siêu âm đến chất lượng tế bào trứng thu được
Tỷ lệ tế bào trứng loại A và B ở tần suất 2 lần và 1 tuần/ lần không có sự khác nhau đáng
kể(35,3%; 35,65% so với 35,0%; 32,07%, tương ứng). Ngược lại, tế bào trứng loại D ở
phương pháp thu tế bào trứng 2 lần một tuần thấp hơn so với một lần một tuần (20,88% so với
28,14%) (Bảng 4).
Bảng 4. Ảnh hưởng của khoảng cách siêu âm đến chất lượng tế bào trứng thu được
Chất lượng tế bào trứng
Loại A Loại B Loại C Loại D
Khoảng cách
siêu âm
n. % n % n. % n %
1 lần/tuần 278 35,0 255 32,07 39 4,90 224 28,14
2 lần/tuần 122 35,3 113 35,65 15 4,75 66 20,88
Chung 400 35,16 368 33,85 54 4,85 290 26,28
Kết quả thu tế bào trứng loại loại A, B của chúng ở phương pháp thu tế bào trứng 1 lần một
tuần (66,9%) và hai lần một tuần (74,3) cao hơn tỷ lệ tế bào trứng loại I và II của các tác giả
Viana và cs. (2004) khi các tác giả này sử dụng quy trình siêu âm hút tế bào trứng một tuần

Từ 768 tế bào trứng loại A, B và C thu được từ bò sống bằng kỹ thuật siêu âm, đã có 547
(71,2%) tế bào trứng thành thục, 366 (66,91%) tế bào trứng thụ tinh, 295 (53,93%) hợp tử
phân chia và 218 (39,95%) phôi dâu/phôi nang loại A, B và C thu được. Trong 20 phôi
dâu/phôi nang loại A và B cấy cho bò nhận động dục đồng pha, có 6 trường hợp có chửa, đạt
30,0% và có 5 bê ra đời (Bảng 6).
Bảng 6. Kết quả tạo phôi và cấy phôi tạo ra từ tế bào trứng thu từ bò sống
Kết quả Chỉ tiêu
n
%
Tế bào trứng được nuôi thành thục in vitro 768
Tế bào trứng thành thục in vitro 547 71,2
Tế bào trứng thụ tinh/tế bào trứng thành thục 366 66,91
Hợp tử phân chia/tế bàa trứng thành thục 295 53,93
Hợp tử phát triển/tế bàa trứng thành thục 218 39,85
Cấy cho bò nhận động dục đồng pha (n) 20
Bò có chửa 6 30,33
Bê sinh ra 5 25,0
Kết quả hợp tử phân chia trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp hơn so với kết quả của một
số tác giả khác đã báo cáo khi sử dụng tế bào trứng thu từ bò sống (Galli và cs. 2001: 64,4%;
Reis và cs. 2002: 81,1%; Rizos và cs. 2005: 80,8%). Tuy nhiên, Tỷ lệ hợp tử phát triển trong
nghiên cứu của chúng tôi (39,85%) cao hơn tỷ lệ của của Galli và cs. (2001) (25,39% ) đã
công bố. Tỷ lệ có chửa (30,0%) trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp hơn so tỷ lệ của Galli
và cs. (2001) đã báo cáo (55,4%).
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
Không có sự khác biệt về số lượng tế bào trứng trung bình thu được/bò/tuần giữa phương
pháp siêu âm thu tế bào trứng lần một tuần so với hai lần một tuần (5,10 so với 5,28). Tuy
nhiên, có sự khác nhau về tỷ lệ hợp tử phát triển đến giai đoạn phôi dâu, phôi nang giữa
phương pháp siêu âm thu tế bào trứng lần một tuần so với hai lần một tuần (38,83% so với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status