LUẬN VĂN: Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá tại công ty Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán – AASC - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp nhà
nước để cổ phần hoá tại công ty Tư vấn Tài chính
Kế toán và Kiểm toán – AASC Lời mở đầu

ở nước ta, ngay từ những năm 1986, khi Nhà nước thực hiên chuyển cơ chế quản lý
Nhà nước, nền kinh tế thị trường bắt đầu bung ra phát triển dần dần và mạnh mẽ. Là một
trong các yếu tố quan trong của thị trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở
nên mạnh mẽ. Lúc này, doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ rõ những điểm yếu của mình là bị
động, không tự chủ về tài chính và hoạt động kinh doanh, hoạt động không hiệu quả do được
Nhà nước tài trợ và được bù lỗ khi bị lỗ, bộ máy thì cồng kềnh trong khi việc làm không có…
Nhận ra những điểm yếu trên và các ưu điểm khác, Nhà nước đã đẩy mạnh cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nứơc nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo ra loại
hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động cho doanh
nghiệp, huy động vốn của toàn xã hội và phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động.


Chương 1: Cơ sở lý luận của xác định giá trị
Doanh nghiệp I. Cơ sở lý luận về xác định giá trị doanh nghiệp
1.1. Giá trị, giá trị hàng hoá và giá trị doanh nghiệp
1.1.1. Quan điểm của Các-Mác về giá trị, giá trị hàng hoá
Theo Các - Mác, hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng, giá trị được xác
định ở mặt chất và mặt lượng:
- Mặt chất của giá trị là hao phí lao động của con người
- Mặt lượng của giá trị được đo bằng thời gian hao phí lao động. Khi trao đổi trên thị

- Loại 1: Giá trị theo sổ kế toán còn gọi là giá lịch sử (historical cost) hay giá gốc
- Loại 2: Giá trị ước tính theo giá hiện hành – giá thị trường
- Loại 3: Giá trị ước tính theo công dụng của tài sản

1.1.2. Giá trị thời gian của tiền, chi phí cơ hội, chi phí sử dụng vốn vay
Trong nền kinh tế thị trường, luôn có sự biến động trong việc sản xuất hàng hoá, có khi
tại thời điểm này, khi mà nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm xuống thì số lượng hàng hoá
tiêu thụ sẽ bị giảm, các nhà sản xuất sẽ giảm quy mô sản xuất xuống, và ngược lại, khi nhu
cầu tiêu dùng tăng thì các DN lại mở rộng quy mô sản xuất. Cùng với sự lớn lên của giá trị
hàng hoá, nhà nước sẽ phải in thêm số lượng tiền để phù hợp với sức mua hàng hoá của người
tiêu dùng. Do đó, luôn luôn có sự khác biệt về giá trị của đồng tiền giữa các giai đoạn khác
nhau của nền kinh tế.
Nếu ta có một số lượng tiền trong tay, nếu ta dùng để đầu tư và giả sử không gặp rủi ro
về đầu tư, trong tương lai ta sẽ thu được một khoản thu nhập từ số tiền đầu tư đó với lãi suất
lớn hơn lãi suất trái phiếu Chính phủ ở thời điểm hiện hành vì hoạt động đầu tư vào trái phiếu
Chính phủ là hoạt động đầu tư ít rủi ro nhất. Nếu ta không dùng để đầu tư, thì sau đó, trong tay ta vẫn có từng ấy giá trị tiền. Như vậy, khoản chênh lệch giữa việc đầu tư và không đầu tư
chứng tỏ tiền có khả năng sinh lời, và người ta gọi đó là giá trị thời gian của tiền.
Cũng từ lý luận trên, nếu ta dùng số tiền đó cho đối tượng khác vay để hoạt động kinh
doanh thì sau một khoảng thời gian ta sẽ thu được một số tiền lãi từ việc cho vay. Khoản tiền
mà người đi vay phải trả cho người cho vay gọi là chi phí sử dụng vốn vay.
Chi phí cơ hội là chi phí lớn nhất trong các cơ hội có thể được lựa chọn đã bị bỏ qua.

1.1.3. Doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, giá trị thực tế của doanh nghiệp
a) Doanh nghiệp
DN là một thuật ngữ trong kinh doanh dùng để chỉ các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm
phân biệt nó với các hình thức kinh doanh có quy mô quá nhỏ. Một tổ chức kinh tế chỉ được
coi là DN nếu nó được sự thừa nhận về mặt pháp lý trên một số tiêu chuẩn nào đó.

DN quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của chủ sở hữu là nhà nước.
- DNNN có tư cách pháp nhân vì có đủ các điều kiện của pháp nhân theo quy định của
pháp luật.
- DNNN là DN chịu trách nhiệm hữu hạn
Có 2 loại DNNN là DNNN hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích.
- DNNN hoạt động kinh doanh là DNNN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- DNNN hoạt động công ích là DNNN hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng,
theo các chính sách của nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh…
Như vậy, DNNN là DN nắm giữ những ngành kinh tế chủ đạo có tác dụng điều hoà nền
kinh tế quốc dân.

b) Giá trị doanh nghiệp
Trước khi xem xét GTDN, ta thấy cần làm rõ một số đặc điểm của doanh nghiệp như
sau:
- DN là một đơn vị, một tổ chức kinh tế hoạt động. Thông qua sự hoạt động mà người ta
nhận ra DN. DN không phải là một tập hợp các loại tài sản. Khi mà nó chỉ đơn giản là một sự
hỗn loạn các tài sản đơn lẻ, rời rạc mà người ta có thể thanh lý, phát mãi từng thứ riêng biệt như những hàng hoá thông thường thì nó không còn đầy đủ ý nghĩa của một DN. Và do vậy,
khái niệm GTDN là một khái niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn
sàng hoạt động.
- DN là một tổ chức vừa phi vật thể, vừa là vật thể. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị
trường, DN cũng được coi là một loại hàng hoá, nó là một loại hàng hoá đặc biệt. Nó có thể
được đem rao bán trên thị trường và bị ảnh hưởng bởi quy luật giá trị và các quy luật khác
trên thị trường.
- DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần tử trong
hệ thống lớn – nền kinh tế. Do đó, sự tồn tại của DN ở mối quan hệ của nó với các phần tử
khác của hệ thống tức mối quan hệ với các đơn vị, thể nhân và pháp nhân kinh tế khác. Sự tồn
tại của DN không chỉ được quyết định bởi các yếu tố bên trong DN mà còn bởi các yếu tố bên

Trong nền kinh tế thị trường thì xu hướng CPH một bộ phận các DNNN đã diễn ra như
là một quy luật, điều này có thể được giải thích bởi 2 lý do là:
1) Các DN nhỏ nếu muốn tồn tại trên thị trường cạnh tranh gay gắt với các DN lớn
thì phải góp vốn để tạo ra DN lớn có sức cạnh tranh lớn hơn. Vì ưu thế của DN lớn là có số
lượng vốn lớn, quy mô sản xuất lớn, và có lợi thế trong việc nâng cao năng suất lao động, hạ
giá thành, đổi mới quy trình công nghệ để có sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành rẻ và có
thể tiêu thụ tốt hơn sản phẩm cùng loại.
2) Cũng do sự cạnh tranh và rủi ro trong kinh doanh, các DN lớn tồn tại một khoản
tiền vốn nhàn rỗi, không muốn gặp nhiều rủi ro nên phải phân tán số vốn của mình vào các
DN khác bằng cách góp vốn mua cổ phần ở nhiều DN khác.
Đây là xu hướng sát nhập các DN nhỏ thành DN lớn trên thế giới.
Điều này có nghĩa là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các DN dẫn đến quy luật đào
thải, các DN nhỏ sẽ bị chèn ép dẫn đến phá sản. Các DN nhỏ không muốn phá sản, thì phải
thu hút vốn thêm nhằm mở rộng thị trường, phát triển sản xuất. Cũng do tính cạnh tranh khốc
liệt của thị trường mà trong các DN lớn tồn tại một lượng vốn nhàn rỗi, để giảm rủi ro trong
đầu tư, DN lớn này sẽ phân tán nguồn vốn đầu tư của mình. DNNN với sự quản lý kém, hoạt
động thiếu hiệu quả cũng nằm trong xu thế khách quan đó.
Thực tiễn nhiều thập kỷ qua cho thấy, kinh tế quốc dân kém hiệu quả hơn kinh tế tập thể
và tư nhân. Các DNNN làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ. Nguyên nhân chính là do không thực sự có động lực để thúc đẩy làm ra nhiều lợi nhuận. Sự thua lỗ này lại được Nhà nước bao cấp, tài
trợ nhằm đảm bảo cho DNNN hoạt động tốt theo chủ trương kế hoạch KTXH của Nhà nước.
Điều này làm mất tính tự chủ của DN và tạo sự ỷ lại vào nguồn vốn Nhà nước.
Từ các thực tế trên cho thấy, xu hướng thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết của nhà
nước trong nền kinh tế thị trường, xu hướng đa dạng hoá các loại hình sở hữu. “Sở hữu nhà
nước không đồng nghĩa với hiệu quả và mục đích của sự phát triển mà chỉ là một công cụ
quan trọng và hữu hiệu cùng với công cụ tài chính và tiền tệ để nhà nước thực hành việc điều
tiết định hướng vào nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước chỉ nên thu hẹp ở những lĩnh vực có
vai trò quyết định đến sự phát triển và ổn định của nền kinh tế như giao thông vận tải, bưu

thực hiện khác xa so với thực tế, GTDN qua kiểm kê cho thấy có nhiều chênh lệch và thường
không chính xác.

1.2.2. Cổ phần hoá là giải pháp cơ bản để tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước trong
giai đoạn hiện nay ở nước ta.
CPH là một trong nhiều cách để tư nhân hoá tài sản của DN. Tư nhân hoá là quá trình
chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân. CPH có tác dụng:
- Đa dạng hoá quyền sở hữu và cụ thể hoá chủ sở hữu.
- Thương mại hoá mọi hoạt động của DN (chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính,
cắt bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt động DN).
- Luật pháp hoá các tổ chức quản lý (theo luật Công ty và luật khác ).
- Nâng cao hiệu quả SXKD của DN.
Xét về mặt hình thức, CPH là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần
của mình trong xí nghiệp cho các đối tượng, tổ chức hoặc tư nhân trong và ngoài nước hoặc
cho cán bộ quản lý, công nhân trong xí nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị
trường chứng khoán để hình thành các công ty TNHH hoặc công ty cổ phần.
Xét về mặt thực chất, CPH là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái
kinh doanh một chủ sở hữu (Nhà nước) thành nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình DN
phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu kinh doanh hiện đại.
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp

Như vậy, qua trên ta đã có cái nhìn tổng quan về doanh nghiệp thông qua các đặc điểm
của nó. Tuy nhiên, để xác định được giá trị doanh nghiệp, người ta phải quan tâm đến các yếu
tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
GTDN được đo lường bằng khoản thu nhập mà DN mang lại cho nhà đầu tư nhưng độ
lớn của thu nhập đó là bao nhiêu thì nó lại phụ thuộc rất lớn vào sự tồn tại của doanh nghiệp
với các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó là các yếu tố vốn liếng, tài sản,

Các yếu tố của môi trường chính trị liên quan đến SXKD bao gồm
+) Tính đầy đủ, rõ ràng, chi tiết, đồng bộ của hệ thống luật pháp
+) Quan điểm của nhà nước đối với SXKD thông qua các văn bản pháp quy như bảo vệ
SXKD, bảo vệ nhà đầu tư, bảo vệ người tiêu dùng, đầu tư nước ngoài, quan điểm phân biệt
đối xử thực hiện trong luật thuế, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ
+) Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của các công dân và
các tổ chức sản xuất. Pháp luật đã được ban hành nhưng không trở thành hiện thực, tệ nạn
buôn lậu, trốn thuế, hàng giả, hàng nhái là biểu hiện của một môi trường chính trị gây bất
lợi cho sản xuất.
+) Xu hướng, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế của chính phủ với
các quốc gia khác trong tiến trình toàn cầu hoá và quan điểm cá nhân của những người đứng
đầu Chính phủ cũng tác động to lớn đến SXKD.
Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Do đó, các
chính sách kinh tế, các luật, các quan điểm kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến SXKD của DN.
Môi trường kinh tế và môi trường chính trị đóng vai trò như những điều kiện thiết yếu để DN
có thể hoạt động. Vì vậy, khi đánh giá DN bao giờ cũng phải xem xét các yếu tố này.

- Môi trường Văn hoá - Xã hội
Mỗi DN tồn tại trong một môi trường văn hoá nhất định. Môi trường văn hoá bao gồm
những hệ tư tưởng của số đông cộng đồng về lối sống, đạo đức, tác phong, quan niệm về
chân, thiện, mỹ, quan niệm về nhân cách, văn minh xã hội, thực hiện trong tập quán sản xuất
và tiêu dùng. Môi trường xã hội thể hiện ở số lượng và cơ cấu dân cư, giới tính, độ tuổi, mật độ sự gia
tăng dân số, thu nhập bình quân đầu người và hàng loạt các vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm
môi trường, tài nguyên cạn kiệt
Thói quen tiêu dùng, tâm lý tiêu dùng, cơ cấu dân cư, mật độ dân số, thu nhập bình quân
đầu người,… ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và cách thức SXKD. SXKD chỉ có thể tồn tại
khi mà nó đảm bảo các yêu cầu về Văn hoá - Xã hội như đảm bảo không bị ô nhiễm môi

cơ quan Nhà nước.

 Quan hệ doanh nghiệp với khách hàng

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, sự đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh dẫn đễn
nhu cầu đa dạng về các sản phẩm dịch vụ đầu vào. Do đó, mối quan hệ với khách hàng của
DN cũng đa dạng. Yếu tố khách hàng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN.
Khách hàng của DN có thể là các cá nhân, các DN khác hoặc Nhà nước, họ có thể là khách
hàng hiện tại nhưng cũng có thể là khách hàng tương lai.
Để đánh giá về doanh nghiệp, người ta căn cứ vào mối quan hệ bền vững của DN với
khách hàng hay mức độ uy tín thể hiện ở thời gian hợp tác với khách hàng, chất lượng khách
hàng (thể hiện ở tiếng tăm của họ), số lượng của khách hàng và khả năng phát triển mối quan
hệ lâu dài với khách hàng. Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất vẫn là thị phần hiện tại của
doanh nghiệp, thị phần tương lai, doanh số bán ra và tốc độ phát triển của chỉ tiêu này qua các
thời kỳ kinh doanh khác nhau của DN.

DN thường phải trông đợi sự cung cấp từ bên ngoài các hàng hoá, NVL, các dịch vụ
điện, nước, thông tin tư vấn Tính ổn định của nguồn cung cấp đó có ý nghĩa quan trọng đảm
bảo cho sản xuất và tiêu thụ được thực hiện theo yêu cầu mà DN đã định ra. Do tính khan
hiếm của NVL nhiều khi DN cũng gặp phải những khó khăn nếu như không có sự cung cấp
kịp thời và không có NVL thay thế. Vì vậy, để đánh giá sự ổn định trong hoạt động kinh
doanh của DN ta phải quan tâm đến khả năng đáp ứng nhu cầu của DN, mối quan hệ của DN
với các nhà cung cấp.
 Các hãng cạnh tranh.
Cạnh tranh là hoạt động tranh đua nhằm giành giật những điều kiện sản xuất và kinh
doanh có lợi nhất giữa các DN cùng sản xuất và kinh doanh cùng loại mặt hàng hoặc những
mặt hàng có thể thay thế được cho nhau.

xác định.

2.2. Các yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp
2.2.1. Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp
Tài sản trong DN là toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình nằm trong danh mục bảng cân
đối kế toán tại thời điểm đánh giá. Đây là một quan niệm cần thiết để phân biệt nó với lợi thế
thương mại.
Số lượng và cơ cấu các loại tài sản thường có sự khác nhau giữa các DN ngay cả khi
chúng ở trong cùng ngành SXKD. Khi xác định GTDN, bao giờ người ta cũng quan tâm đến
hiện trạng tài sản vì:
- Tài sản DN là biểu hiện của yếu tố vật chất cần thiết, tối thiểu đối với quá trình SXKD.
Số lượng, chất lượng, trình độ kỹ thuật và tính đồng bộ của các loại tài sản là yếu tố quyết
định đến số lượng, chất lượng sản phẩm của DN. Tức là, khả năng cạnh tranh của DN phụ
thuộc trực tiếp vào yếu tố này.
- Giá trị tài sản của DN được coi là một căn cứ và là một sự bảo đảm rõ ràng nhất về
GTDN. Vì thay cho việc dự báo các khoản thu nhập tiềm năng thì người sở hữu có thể bán
chúng bất cứ lúc nào để nhận được thu nhập từ tài sản đó.
Do đó, trong thực tế, người ta thường vận dụng phương pháp có liên quan trực tiếp đến
việc xác định giá trị tài sản của DN.

2.2.2. Vị trí kinh doanh
Vị trí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với SXKD. Vị trí kinh doanh bao gồm các
yếu tố như địa điểm, diện tích của DN và các chi nhánh của DN, yếu tố địa hình, thời tiết, môi
trường sinh thái, an ninh khu vực, thu nhập dân cư trong vùng, tốc độ phát triển kinh tế và khả
năng cung cấp các dịch vụ cho sản xuất của khu vực đó. DN hoạt động thương mại có vị trí thuận lợi là DN hoạt động ở khu vực đông dân cư,
trung tâm buôn bán, các đầu mối giao thông quan trọng. Với vị trí thuận lợi, DN có thể giảm
được chi phí vận chuyển, bảo quản, lưu kho, giao dịch… đồng thời DN có những thuận lợi

Một trong những yếu tố quyết định sự thắng lợi trong cạnh tranh là chất lượng sản phẩm
sản xuất ra phải được thị trường đánh giá cao. Chất lượng sản phẩm DN một mặt phụ thuộc
vào trình độ của máy móc thiết bị, một mặt phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và tay nghề của
nhân viên.
Trình độ kỹ thuật và sự lành nghề của người lao động không chỉ có ý nghĩa quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn có thể làm giảm chi phí SXKD do việc sử
dụng hợp lý NVL, trong quá trình sản xuất, giảm được chi phí đào tạo, bồi dưỡng từ đó góp
phần nâng cao thu nhập cho DN.
Để đánh giá về trình độ kỹ thuật tay nghề của người lao động ta không chỉ xem ở bằng
cấp, bậc thợ, số lượng lao động đạt được các chuẩn mực đó mà quan trọng hơn, trong điều
kiện hiện nay, còn phải xem xét hàm lượng tri thức có trong mỗi sản phẩm mà DN sản xuất.
Khi đánh giá khả năng tồn tại và phát triển, khả năng sáng tạo ra lợi nhuận của DN, cần thiết
phải xem xét đến trình độ kỹ thuật và tay nghề của người lao động, coi chúng như một yếu tố
nội tại quyết định đến GTDN.

2.2.5. Năng lực quản trị kinh doanh
Một trong những yếu tố quyết định đến hoạt động SXKD, chất lượng sản phẩm, khả
năng cạnh tranh… là khả năng quản lý. Cách tổ chức tốt trong việc sử dụng các nguồn lực sản
xuất, tận dụng, nắm bắt các cơ hội nảy sinh, ứng phó năng động với sự biến động của môi
trường,… là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của DN trên thị trường.
Do đó, năng lực quản trị kinh doanh là một yếu tố quan trọng đặc biệt trong GTDN.
Năng lực quản trị kinh doanh của một DN cần được xem xét về khả năng hoạch định
chiến lược, chiến thuật, trình độ tổ chức bộ máy quản lý, năng lực quản trị các yếu tố đầu vào
và đầu ra của quá trình sản xuất, khả năng quản trị nguồn nhân lực.
Năng lực quản trị kinh doanh là một yếu tố định tính nhiều hơn là yếu tố định lượng. Vì
vậy, khi đánh giá cần phải xem xét chúng dưới sự tác động của môi trường. Ngoài ra, năng
lực quản trị kinh doanh còn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu tài chính của DN. Do đó, thực hiện phân tích một cách toàn diện tình hình tài chính trong những năm gần đây với thời

Như vậy, xác định GTDN hay còn gọi là định giá DN thực chất là việc lượng hoá các
khoản thu nhập mà DN có thể tạo ra trong quá trình SXKD làm cơ sở cho các hoạt động giao
dịch thông thường thuộc thị trường.
3.2. Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp
Cùng với sự đa dạng về cách nhìn nhận, đánh giá GTDN ở các góc độ khác nhau dẫn
đến tồn tại nhiều phương pháp xác định GTDN.

3.2.1. Phương pháp giá trị tài sản thuần
a)Cơ sở lý luận
Phương pháp này dựa trên quan điểm : “giá trị của một DN được tính bằng tổng giá thị
trường của số tài sản mà DN hiện đang sử dụng vào SXKD”.
DN có hoạt động được là nhờ vào số vốn và tài sản hiện có trong DN, trong quá trình
hoạt động DN có thể phát triển số tài sản hoặc thâm hụt số tài sản của mình
b) Phương pháp xác định
Trong số tài sản của DN trên Bảng cân đối kế toán, có những tài sản thuộc sở hữu của
DN nhưng có nhiều tài sản không thuộc quyền sở hữu của DN như các khoản phải trả (công
nhân viên, người bán, nhà nước ). Do vậy, khi xác định GTDN ta phải loại bỏ các khoản này,
có nghĩa là, ta phải xác định giá trị tài sản thuần.
V0=Vt-Vn

Vo: Giá trị tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu DN
Vt: Tổng giá trị tài sản mà DN sử dụng vào SXKD
Vn: Giá trị các khoản nợ
Do đó, theo cách này, người ta có thể :
1) Xác định GTDN bằng cách dựa vào Bảng cân đối kế toán

Giá trị doanh
nghiệp thuần

=

trường có bán những tài sản như vậy.
Nếu trên thị trường, không tồn tại loại TSCĐ đã cũ, đã qua sử dụng. Khi đó, người ta xác định
giá trị tài sản dựa theo công dụng hay khả năng phục vụ sản xuất của tài sản để áp dụng một
tỷ lệ khấu trừ trên giá trị của một TSCĐ mới.
- Đối với những TSCĐ không còn tồn tại trên thị trường thì người ta áp dụng một hệ số
quy đổi so với các TSCĐ khác loại có tính năng tương đương.
- Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm quỹ, đối chiếu số dư trên tài
khoản. Nếu là ngoại tệ sẽ được quy đổi về đồng nội tệ theo tỷ giá thị trường tại thời điểm
đánh giá. Vàng, bạc, kim đá quý cũng được xác định tương tự như vậy. - Các khoản phải thu: Do khả năng đòi nợ các khoản này ở nhiều mức độ khác nhau nên
bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ, xác minh tính pháp lý, đánh giá độ
tin cậy của từng khoản phải thu nhằm loại ra những khoản mà DN không có khả năng đòi
được hoặc khả năng đòi được là thấp.
- Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài DN : Về mặt nguyên tắc phải thực hiện đánh
giá một cách toàn diện về giá trị đối với các DN hiện đang sử dụng khoản đầu tư đó. Tuy
nhiên, nếu các khoản đầu tư này không lớn, người ta thường trực tiếp dựa vào giá thị trường
của chúng dưới hình thức chứng khoán hoặc căn cứ vào số liệu của bên đối tác liên doanh để
xác định theo cách thứ nhất
- Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản : Tính theo chiết khấu dòng
thu nhập tương lai.
- Các tài sản vô hình theo phương pháp này người ta chỉ thừa nhận giá trị của các tài sản
vô hình đã được xác định trên sổ kế toán và thường không tính đến lợi thế thương mại của
DN.
Ta có công thức sau:
Giá tr
ị tài
sản DN
thuần

DN. Phương pháp này rất phù hợp với những DN có quy mô nhỏ.

3.2.2. Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính trong tương lai
Phương pháp này nhìn nhận xác định GTDN dưới góc độ đánh giá độ lớn các khoản thu
nhập mà DN có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong tương lai.

Vo =




nt
t
ti
Ft
1
)1(Vo: GTDN
Ft: Thu nhập đem lại cho nhà đầu tư ở năm thứ t
i: tỷ suất hiện tại hoá (tỷ suất chiết khấu)
N: thời gian nhận được thu nhập (năm)

Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai bao gồm:
- Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận
- Phương pháp định giá chiết khấu
- Phương pháp hiện tại hoá các dòng thu nhập của DN trong tương lai

3.2.3. Phương pháp định lượng Goodwill (lợi thế thương mại)

)1(
*

Bt: lợi nhuận năm t (t=1,n)
At: giá trị tài sản đưa vào kinh doanh
r: Tỉ suất lợi nhuận bình thường của tài sản đưa vào kinh doanh
r*At: lợi nhuận bình thường của tài sản năm t
Bt-r*At: siêu lợi nhuận ở năm t.
3.2.4. Phương pháp định giá dựa vào PER (Price Earning Ratio)
PER được xác định dựa trên các nhận định cơ bản :
- Giá cả chứng khoán phụ thuộc vào cung cầu chứng khoán, đầu cơ, Do đó, giá cả
chứng khoán thường không phản ánh đúng giá trị chứng khoán của DN đã phát hành.
- Thị trường chứng khoán hoàn hảo. Khi đó:
PER=
P
Vo
=
i
1

Vo: giá trị của DN
P: lợi nhuận thuần hàng năm
i: tỷ suất hiện tại hoá

Trích đoạn Phương pháp tính Thực hiện kiểm toán xác định gía trị doanh nghiệp Báo cáo xác định giá trị doanh nghiệp Tính tất yếu phải hoàn thiện công tác xác định giá trị doanh nghiệp ở AASC Đối với AASC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status