LUẬN VĂN:
Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng
ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại chi
nhánh Ngân hàng ngoại thương Quảng ninh Lời nói đầu
ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt nam tháng 12
năm 1986 và nghị quyết 16/BCT ngày 15 tháng 08 năm 1988 của Bộ chính trị đã đề
ra chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
XHCN. Đây là một bước ngoặt lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
ở nước ta, sau hơn 10 năm đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu đáng
khích lệ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 8.2%/năm, đời sống nhân dân từng
bước được cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh được chấn chỉnh và đi vào nề
nếp, các nguồn tiền tệ tích tụ trong nền kinh tế đã được động viên khai thác bằng
nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển
Từ những kết quả trên cho thấy chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá
thiếu sót nhất định. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và
các bạn đồng nghiệp để bài viết được hoàn thiện hơn.
Nội dung đề tài được chia thành 3 phần chính
Chương I
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta.
Chương II
Thực trạng quan hệ tín dụng giữa chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Quảng ninh
với kinh tế ngoài quốc doanh.
Chương III
Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng
đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại chi n hánh Ngân hàng ngoại thương
Quảng ninh. Mục lục
Lời nói đầu :
Chương I:
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển KTNQD ở nước ta.
nước.
1.3.4/ Kinh tế NQD là đối tác cạnh tranh đối với thành phần kinh tế Nhà nước
giúp cho sự phát triển của nền kinh tế ngày càng sôi động.
1.3.5/ Kinh tế NQD là thị trường để Ngân hàng huy động vốn vốn tín dụng
góp phần ổn định lưu thông tiền tệ.
2/ Xu hướng phát triển của KT NQD ở Việt nam.
2.1/ Khu vực KT NQD có vốn đầu tư trong nước.
2.2/ Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
II/ Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
1/ Tín dụng Ngân hàng vàvai trò của nó đối với sự phát triển KT NQD ở
nước ta.
1.1/ Tín dụng Ngân hàng.
1.2/ Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của KT NQD.
2/ Các nhân tố ảnh hưởng tới sự mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân
hàng đối với KT NQD.
2.1/ Môi trường kinh tế.
2.2/ Nhân tố pháp luật.
2.3/ Những quy định của Nhà nước và Ngân hàng Trung ương.
2.4/ Năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng.
2.5/ Yếu tố chủ quan của Ngân hàng.
III/ Khái quát cơ chế tín dụng đối với KT NQD.
1/ Cho vay ngắn hạn.
Ngoại thương Quảng ninh với KT NQD.
Chương III Gi
ảI pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng
đ
ối
với KT NQD tạI chi nhánh ngân hàng ngoại thương Quảng ninh.
I/ Định hướng về mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với KT NQD tại
chi nhánh NHNT Quảng ninh.
II/ Những giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng
đối với KT NQD tại chi nhánh NGNT Quảng ninh.
1/ Đa dạng hoá các hình thức tín dụng đối với KT NQD.
2/ Thực hiện biện pháp thẩm định kỹ trước khi cho vay và tăng cường kiểm
tra trong và sau khi cho vay.
3/Thực hiện các biện pháp bảo đảm trong kinh doanh tín dụng.
4/ Chủ động tìm khách hàng và chú ý đầu tư vốn cho các doanh nghiệp viên
doanh hợp tác đầu tư với nước ngoài có kỹ thuật công nghệ hiện đại.
5/ Chi nhánh cần tích cức giải quyết các vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi và
bảo toàn vốn.
6/ Công tác cán bộ.
Chương I:
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển
kinh tế ngoàI quốc doanh ở nước ta
I/ Kinh tế ngoài quốc doanh và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế ở Việt nam.
1/ Đặc điểm và vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta :
1.1/ Sự phân chia kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế quốc doanh, kinh tế
ngoài quốc doanh:
Phát triển kinh tế nhiều thành phần không phải là đặc điểm riêng có ở nước ta mà nó
đã trở thành một qui luật phổ biến trong sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Tuy nhiên,
mỗi nước có những đặc điểm riêng của nó. Phát triển kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta là
đường lối chiến lược quan trọng, nhất quán và lâu dài trong giai đoạn đầu chuyển sang kinh
tế thị trường. ở đó, người ta có thể phân chia thành kinh tế nhà nước hay kinh tế tư nhân,
kinh tế quốc doanh hay kinh tế ngoài quốc doanh. Dù cho các cách phân chia như thế nào thì
tựu chung vẫn có hai khu vực kinh tế, đó là khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư
nhân dựa trên hai hình thức sở hữu chính đó là: Sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân. Ngoài
ra còn có loại hình thức kinh tế hợp doanh được hình thành do sự kết hợp giữa hai hình thức
sở hữu này. ở nước ta, đại hội VII của Đảng cộng sản Việt nam khẳng định nước ta có các thành
phần kinh tế sau: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân
và kinh tế tư bản nhà nước. Trong đó kinh tế quốc doanh thực hiện tốt vai trò chủ đạo cùng
với kinh tế tập thể để trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế quốc doanh: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về tư liệu
sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ vốn thuộc về nhà nước hoặc phần
của nhà nước chiếm tỷ trọng khống chế. Đại diện của thành phần kinh tế này là các doanh
nghiệp nhà nước, đó là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lí
hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do
nhà nước giao.(Luật DNNN -Điều 1).
Kinh tế hợp tác: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm những đơn vị
đặc điểm của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta.
1.2.1/ Khả năng tài chính nhỏ bé nghèo nàn:
Đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các yếu tố của quá trình tái sản xuất
chỉ thuộc phạm vi sở hữu của một hoặc một số cá nhân, do đó đặc điểm đầu tiên của kinh tế
ngoài quốc doanh là sự hạn chế về qui mô nguồn vốn. So với kinh tế quốc doanh được sự hỗ
trợ của nhà nước về vốn thì kinh tế ngoài quốc doanh có một lượng vốn tiền tệ nhỏ hơn rất
nhiều. Đây là một hạn chế rất lớn cho kinh tế ngoài quốc doanh trong quá trình cạnh tranh
bởi vì đối với bất cứ một doanh nghiệp thuộc loại hình kinh tế nào, hoạt động trên lĩnh vực
nào của nền kinh tế thì vốn vẫn luôn luôn là một yếu tố quan trọng hàng đầu.
Với một khối lượng vốn lớn, chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện đầu tư đổi
mới dây truyền công nghệ, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả của quá trình sản xuất và
khi cần thiết có thể nhanh chóng chuyển hướng sản xuất kinh doanh. Đây là một trong
những điều kiện giúp doanh nghiệp đứng vững trong quá trình cạnh tranh khốc liệt của nền
kinh tế thị trường. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển cùng với các thành phần kinh tế
khác, kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta rất cần có sự trợ giúp về vốn từ phía các tổ chức
tín dụng mà cụ thể là từ các Ngân hàng thương mại. 1.2.2/Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu:
Trình độ công nghệ quyết định năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường. Nhưng do qui mô nguồn vốn của kinh tế ngoài quốc doanh nhỏ, nên
dẫn đến sự hạn chế đáng kể trong việc tăng cường trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản
xuất kinh doanh. Hiện tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có công nghệ tiên tiến, hiện
đại không nhiều chỉ có một số xí nghiệp liên doanh, công ty có vốn đầu tư nước ngoài mới
được trang bị máy móc dây chuyền mới, còn hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong
nước còn sử dụng công nghệ thủ công, dây chuyền thiết bị chắp vá, thiếu đồng bộ. Theo số
liệu điều tra năm 1998 chỉ có 25% số doanh nghiệp và 20,5% số công ty tư nhân sử dụng
công nghệ hiện đại , 33,5% số doanh nghiệp và 18,7% số công ty tư nhân sử dụng công nghệ
truyền thống, 38,5% số doanh nghiệp và 60,5% số công ty tư nhân kết hợp cả công nghệ
truyền thống và công nghệ hiện đại.
phương hướng sản xuất kinh doanh không ổn định.
1.2.5/ Năng động và nhạy bén trong cơ chế thị trường:
Do quá trình ra đời, hoạt động và phát triển luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường
nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhanh chóng nắm bắt và thích nghi với những biến
động của nền kinh tế, có những biện pháp điều chỉnh kịp thời để chuyển hướng sản xuất
kinh doanh. Mặt khác ở thành phần kinh tế này tính tự chủ và khả năng quyết đoán cao là
những điều kiện thuận lợi cho họ trong việc chủ động khai thác nguồn nguyên vật liệu và
tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hoá, tất cả đều hướng tới một phương án sản xuất kinh
doanh tối ưu nhất với chi phí đầu vào tối thiểu và thu nhập đầu ra tối đa nhằm tối đa hoá lợi
nhuận bằng cách thoả mãn kịp thời và đầy đủ mọi nhu cầu của thị trường.
Tuy nhiên, do tính năng động và tự chủ cao, trong quá trình cạnh tranh dễ đẫn đến
mạo hiểm và gây ra rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Nếu thiếu sự điều tiết, hướng
dẫn của các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp này có thể sẽ dễ dàng bỏ qua những qui định, nguyên tắc do nhà nước đặt ra để chạy theo lợi nhuận trước mắt, gây hậu quả xấu cho
nền kinh tế và xã hội của đất nước.
1.3/ Vai Trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
Chính sách và chủ trương mới của Đảng và nhà nước trong việc chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường đã tạo tiền đề khách
quan cho sự khôi phục và phát triển nhanh chóng của kinh tế ngoài quốc doanh ở nước
ta. Trong nền kinh tế thị trường, mọi chủ thể tham gia cho dù là kinh tế quốc doanh hay
là kinh tế ngoài quốc doanh đều chịu sự chi phối, điều tiết bởi hàng loạt các qui luật của
sản xuất và lưu thông hàng hoá. Cơ chế thị trường đánh giá và chấp nhận các thành viên
tham gia thị trường không phải căn cứ vào tính chất sở hữu về tư liệu sản xuất mà căn
cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của các thành viên, các thành viên đều bình đẳng
trong sự sàng lọc của cơ chế thị trường. Trong môi trường kinh doanh đó, kinh tế ngoài
quốc doanh có tính tự chủ, năng động và sáng tạo đã nhanh chóng thích nghi với những
biến đổi thường xuyên của thị trường và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu
được của mình trong nền kinh tế.
1.Kinh tế tập thể
5.237 5.246 4.968 4.376
2.Kinh tế tư nhân
1.035 848 934 910
3.Kinh tế cá thể
46.847 45.639 42.206 36.36
4.Kinh tế hỗn hợp
10.488 11.892 14.694 12.806
1.3.2/ Kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp một khối lượng lớn hàng hoá dịch vụ phục
vụ tiêu dùng trong nưóc và xuất khẩu:
Sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh đa dạng về ngành nghề về qui mô và hình
thức kinh doanh đã thực sự bù đắp những thiếu hụt, những lỗ hỗng của nền kinh tế do sự phá
sản, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của hàng loạt các doanh nghiệp nhà nước, khơi dậy
tiềm năng to lớn và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất tạo ra sự sống động cho
nền kinh tế tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đóng góp đáng kể cho quỹ hàng
hoá tiêu dùng và một phần đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng tiểu thủ
công nghiệp. Đại bộ phận doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng
tiêu dùng và cung ứng dịch vụ hoặc trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá. Trong những năm
vừa qua, khối lượng hàng hoá và dịch vụ do kinh tế ngoài quốc doanh cung ứng cho nền
kinh tế nước ta đã chiếm một tỷ trọng đáng kể so với tổng sản phẩm của cả nước và khối
lượng đó có xu hướng ngày càng tăng lên. Hàng hoá do kinh tế ngoài quốc doanh tạo ra
không những góp phần bổ sung vào quỹ hàng hoá tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ cho
xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới. Trên lĩnh vực lưu thông hàng hoá, sự có mặt của tổ
chức thương nghiệp ngoài quốc doanh đã tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá được thông
suốt, hàng hoá trên thị trường luôn phong phú và đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của người
tiêu dùng ở mọi nơi và mọi lúc.
1.3.3/ Kinh tế quốc doanh phát triển góp phần tăng nguồn thu Ngân sách nhà nước :
nhạy bén, năng động kịp thích ứng với tình hình biến động của thị trường, bộ máy
sản xuất kinh doanh gọn nhẹ. Hiệu quả kinh tế gắn liền với lợi ích kinh tế của người
lao động cho nên họ luôn tiết giảm được những chi phí trong các khâu của quá trình
sản xuất kinh doanh, sản xuất nhiều mặt hàng mẫu mã đẹp, chất lượng cao, giá
thành hạ, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đó là những yếu tố đầy sức hấp dẫn
với quy luật cạnh tranh thị trường. Ngược lại, với nền kinh tế chỉ huy “người tìm
hàng” thì ở đó họ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không phải sản xuất ra
những gì mà họ có.
1.3.5/ Kinh tế ngoài quốc doanh là thị trường để Ngân hàng huy động vốn tín dụng
góp phần ổn định lưu thông tiền tệ:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế hiện vật tự nhiên
sang nền kinh tế hàng hoá thì khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế cũng tăng lên là
điều tất yếu. Nếu trong điều kiện nền kinh tế chỉ huy do kinh tế quốc doanh làm chủ
và chỉ đạo thị trường, tình trạng sản xuất theo mệnh lệnh, mua bán theo khuôn giá
cứng nhắc làm cho sản xuất tách khỏi thị trường, phần lớn thu nhập của người lao
động được trả bằng hiện vật, do đó làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã trở thành căn cứ trực tiếp của kế
hoạch, giữ vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Khối lượng vật tư hàng hoá tăng nhanh đòi hỏi phải có sự tăng lên của tiền tệ để đáp
ứng nhu cầu của lưu thông hàng hoá và cung ứng dịch vụ. Trong nền kinh tế thị
trường kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng,
đặc biệt là thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể.
Hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động dưới hình thức là doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn đều mở tài khoản tiền gửi tại các Ngân hàng
thương mại. Kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển nếu các Ngân hàng
thương mại tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt, thay đổi phong
nghiệp nhà nước. Vì vậy một bộ phận lớn người lao động có trình độ, tay nghề đã chuyển từ
doanh nghiệp nhà nước sang làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân, do khu vực này đang làm
ăn có hiệu quả.
Nhưng một hạn chế lớn nhất đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta là
vốn cho đầu tư mở rộng sản xuất. Với nguồn vốn tự có chủ yếu dưới dạng nhà xưởng, máy
móc thiết bị do vậy sau một thời gian hoạt động sản xuất trang thiết bị trở nên lỗi thời không
còn thích ứng được với nhu cầu thị trường. Để tồn tại và phát triển thì phải đổi mới dây
chuyền thiết bị, trang bị công nghệ hiện đại. Trong khi đó nguồn vốn tự có lại có hạn, nguồn
vốn đi vay cũng bị hạn chế bởi quy mô và tài sản đó. Như vậy trong tương lai không xa một
xu hướng tất yếu xảy ra đối với các doanh nghiệp này là sự sát nhập cùng chung vốn vào sản
xuất kinh doanh. Đó là tiền đề cho sự phát triển của các công ty cổ phần, ưu điểm của công
ty cổ phần là có thể tự huy động vốn trên
thị trường thông qua phát hành cổ phiếu.
Nhưng tốc độ phát triển của công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển
của các Ngân hàng. Khi các Ngân hàng phát triển đến một mức nhất định thì các
ngân hàng không chỉ là người bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu công ty mà
còn có thể mua luôn các cổ phiếu, trái phiếu đó để công ty có đủ nguồn vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Loại hình không phải doanh nghiệp ( kinh tế hộ gia đình ): Là khu vực sản
xuất kinh doanh nhỏ bao gồm tất cả các hoạt động của tư nhân nằm ngoài khu vực
doanh nghiệp như: sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
mại vận tải và các dịch vụ khác. Theo thống kê hiện nay có khoảng 1,1 triệu hộ kinh
doanh đang hoạt động. Trong giai đoạn đầu của cơ chế quản lý mới khu vực kinh tế
này phát triển rất nhanh, thu hút mọi đối tượng tham gia, tận dụng triệt để các nguồn
lực sản xuất của xã hội nhằm tăng thêm thu nhập cho người lao động. Đối với nước
ta hiện nay ngành nông lâm nghiệp giữ vai trò quan trọng thì sự phát triển của khu
vực này hiện nay là tất yếu. Trong tương lai với công cuộc công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nước thì khu vực này sẽ từng bước giảm dần chuyển sang lao động trong
phần giảm sút so với các năm trước, đây đang là vấn đề được sự quan tâm chú ý của
nhiều nhà kinh tế. Phải thừa nhận rằng đầu tư nước ngoài giảm sút trong mấy năm
qua có nhiều nguyên nhân như ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở
châu á, môi trường đầu tư chưa hấp dẫn, thủ tục hành chính rườm rà, chính sách
thuế thiếu ổn định. Nhưng với lợi thế ở nước ta có nguồn lao động dồi dào, có trình
độ tay nghề cao, chịu khó, có nguồn nguyên liệu dẻ, cùng với thực hiện các biện
pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài của chính phủ như cải cách thủ tục hành
chính, chính sách thuế, giảm giá cho thuê đất. Chắc chắn trong tương lai khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ phát triển một cách nhanh chóng, sẽ có ngày
càng nhiều những dự án kinh doanh có hiệu quả tạo công ăn việc làm cho người lao
động.
II /Tín
dụng ngân hàng đối với kinh tế ngoàI quốc doanh.
1/Tín dụng ngân hàng và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế ngoài quốc
doanh ở nước ta:
1.1/Tín dụng Ngân hàng
: Tín dụng Ngân hàng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua nhiều hình thức xã
hội khác nhau. Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau ta có những cách hiểu khác
nhau. Theo quan niệm truyền thống tín dụng là mối quan hệ kinh tế trong đó một
người chuyển giao cho người khác, tổ chức kinh tế khác quyền sử dụng một lượng
giá trị hoặc hiện vật nào đó với những điều kiện được hai bên thoả thuận trước,
những điều kiện đó thường là về số lượng, chất lượng, thời gian hoàn trả và lượng
giá trị tăng thêm. Hay nói cách khác tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một
lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi
được một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo luật các tổ chức tín dụng: Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả
Vốn có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngay từ khi mới thành lập một doanh nghiệp, một công ty hay bất kỳ một loại hình
kinh tế nào khác cũng cần phải có một số vốn nhất định. Vốn ở đây có thể hiểu bao
gồm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kiến thức kỹ năng của người lao động, tiền bạc,
tiếp đến khi doanh nghiệp có yêu cầu mở rộng qui mô sản xuất thì yêu cầu đầu tiên
đặt ra là phải có vốn. Từ đó cho thấy vốn là một yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ
giai đoạn sản xuất kinh doanh nào, nó quyết định sự xuất hiện, tồn tại và phát triển
của một loại hình doanh nghiệp.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tình trạng thừa thiếu vốn luôn là điều
không thể tránh khỏi đối với một doanh nghiệp. Để giải quyết sự thiếu hụt vốn trước
mắt và lâu dài thì doanh nghiệp đứng trước ba con đường lựa chọn: Tự bản thân
doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường thông qua con đường phát hành cổ
phiếu, trái phiếu; vay vốn các Ngân hàng thương mại; vay vốn từ người thân bạn bè
hoặc vay nặng lãi ngoài thị trường “ Chợ đen ”.
Tự bản thân doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường thông qua con đường
phát hành cổ phiếu, trái phiếu đòi hỏi doanh nghiệp phải có qui mô lớn, sản xuất
kinh doanh có hiệu quả và có uy tín trên thị trường, hơn nữa phải có một thị trường vốn hoàn chỉnh với một hệ thống tổ chức tài chính trung gian đủ mạnh có khả năng
đảm đương việc bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu của công ty và nó còn phụ
thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí và sự sôi động của thị trường thứ cấp.
ở nước ta hiện nay hình thức này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi mà vẫn chỉ
dừng lại ở việc phát hành cổ phiếu trong nội bộ một số công ty cổ phần. Vì thị
trường chứng khoán chưa được thành lập do còn hạn chế ở hệ thống pháp luật, hệ
thống Ngân hàng còn non yếu, trình độ dân trí thấp. Kinh tế ngoài quốc doanh với
qui mô nhỏ mới được hình thành, chưa có uy tín trên thị trường, chưa có quá trình
tích luỹ.
Chính vì lẽ đó, đối với kinh tế ngoài quốc doanh tín dụng Ngân hàng luôn
được coi là một điểm tựa vững chắc về vốn. Nhờ có tín dụng ngân hàng kinh tế
đối với kinh tế ngoài quốc doanh:
Hoạt động tín dụng Ngân hàng nói chung và tín dụng Ngân hàng đối với kinh
tế ngoài quốc doanh nói riêng là những hoạt động liên quan đến các dịch vụ về tiền
tệ, vì vậy đây là lĩnh vực rất nhạy cảm, nó trực tiếp tác động đến sự ổn định, cũng
như tình hình an ninh, chính trị quốc gia, chính vì lí do đó mà nó luôn được đặt dưới
sự kiểm soát khắt khe của nhà nước mà trực tiếp là Ngân hàng nhà nước Việt nam
thông qua hệ thống pháp luật và những cơ chế chính sách của nhà nước. Bên cạnh
đó còn có sự tác động ngược trở lại của môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn
tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng từ đó dẫn tới việc mở rộng
hay thu hẹp tín dụng Ngân hàng.
Chính vì vậy, khi xem xét hoạt động Ngân hàng chúng ta phải đặt nó trong
mối quan hệ với những qui định của pháp luật và điều kiện kinh tế xã hội từng giai
đoạn cụ thể. Dưới đây là một số nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới việc
mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc
doanh:
2.1/ Môi trường kinh tế:
Mọi hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế đều chịu sự chi
phối của môi trường kinh tế. Bất kỳ một sự biến động nhỏ nào của môi trường kinh
tế cũng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và do đó ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Trong một nền
kinh tế ổn định và tăng trưởng, các doanh nghiệp sẽ có điều kiện để mở rộng sản
xuất kinh doanh, người đầu tư sẽ yên tâm hơn khi vay vốn Ngân hàng để tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và bản thân các Ngân hàng thương mại
cũng sẵn sàng và yên tâm hơn khi cho vay trong một môi trường kinh tế ít biến
động. Sự ổn định ở đây bao hàm cả yếu tố chính trị, an ninh và xã hội.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á bắt đầu từ tháng 7/1997 đã cho
chúng ta thấy một thực tế rằng khi một nền kinh tế bị mất ổn định cả về kinh