Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt nam
tháng 12 năm 1986 và nghị quyết 16/BCT ngày 15 tháng 08 năm
1988 của Bộ chính trị đã đề ra chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Đây là một bớc ngoặt lịch sử
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở nớc ta, sau hơn 10 năm
đổi mới đất nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ: Tốc độ
tăng trởng kinh tế trung bình 8.2%/năm, đời sống nhân dân từng bớc đợc
cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh đợc chấn chỉnh và đi vào nề
nếp, các nguồn tiền tệ tích tụ trong nền kinh tế đã đợc động viên khai
thác bằng nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu huy động vốn
cho đầu t phát triển ...
Đ
Từ những kết quả trên cho thấy chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Từ chỗ thấy đ-
ợc vai trò quan trọng của kinh tế ngoài quốc doanh đối với sự phát triển
kinh tế của đất nớc, Đảng và nhà nớc ta bằng nhiều chính sách, biện
pháp khuyến khích tạo điều kiện giải phóng sức sản xuất, động viên tối
đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nớc. Hiện nay ở nớc ta có trên 25.000 doanh nghiệp
ngoài quốc doanh hàng năm đóng góp khoảng 51% GDP của cả nớc.
Mặc dù đợc khuyến khích và hỗ trợ nhng cho đến nay kinh tế ngoài
quốc doanh vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, nhng vấn đề nan giải nhất
là thiếu vốn. Vì kinh tế ngoài quốc doanh phần lớn có qui mô nhỏ, mới
đợc hình thành không có khả năng tự mình huy động vốn để mở rộng
sản xuất kinh doanh. Trong khi đó hiện nay các Ngân hàng thơng mại
đang bị ứ đọng vốn tín dụng và nợ quá hạn của thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh chiếm tỷ lệ cao. Do đó, việc mở rộng và nâng cao hiệu quả
hoạt động tín dụng đối với một Ngân hàng thơng mại là vấn đề đợc quan
tâm nhất hiện nay, đặc biệt đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ch ơng I:
Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển KTNQD ở nớc ta.
I/ Kinh tế ngoài quốc doanh và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế
ở Việt nam
1/ Đặc điểm và vai trò của KT ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay.
1.1/ Sự phân chia KT nhà nớc, KT t nhân và KTQD, KTND.
1.2/ Đặc điểm KTNQD ở nớc ta.
1.2.1/ Khả năng tài chính nhỏ bé, nghèo nàn.
1.2.2/ Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu.
1.2.3/ Trình độ quản lý kinh doanh yếu kém, kỹ năng của ngời lao
động thấp.
1.2.4/ Môi trờng sản xuất kinh doanh cha ổn định.
1.2.5/ Năng động và nhạy bén trong cơ chế thị trờng.
1.3/ Vai trò của KT ngoài quốc doanh.
1.3.1/ Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao động
góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội.
1.3.2/ Kinh tế NQD đóng góp một khối lợng lớn hàng hoá dịch vụ tiêu
dùng trong nớc và xuất khẩu.
1.3.3/ Kinh tế NQD phát triển góp phần tăng nguồn thu ngân sách
Nhà nớc.
1.3.4/ Kinh tế NQD là đối tác cạnh tranh đối với thành phần kinh tế Nhà
nớc giúp cho sự phát triển của nền kinh tế ngày càng sôi động.
1.3.5/ Kinh tế NQD là thị trờng để Ngân hàng huy động vốn vốn tín dụng
góp phần ổn định lu thông tiền tệ.
2/ Xu hớng phát triển của KT NQD ở Việt nam.
2.1/ Khu vực KT NQD có vốn đầu t trong nớc.
2.2/ Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài.
II/ Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh.
1.2/ Quá trình phát triển.
2/ Một số đặc điểm kinh tế xã hội của Quảng ninh.
II/ Thực trạng quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng Ngoại thơng
Quảng ninh với thành phần KT NQD trong thời gian qua.
1/ Tình hình cho vay KT NQD tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thơng
Quảng ninh thời gian qua.
1.1/ Phân tích sự mất cân bằng giữa cho vay KTQD và KT NQD.
1.2/ Phân tích tình hình thu nợ.
2/ Những tồn tại rút râ trong quan hệ tín dụng giữa chi nhánh Ngân hàng
Ngoại thơng Quảng ninh với KT NQD.
Ch ơng III
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
GiảI pháp và kiến nghị nhằm mở rộng và nâng cao hiệu
quả tín dụng đối với KT NQD tạI chi nhánh ngân hàng
ngoại thơng Quảng ninh.
I/ Định hớng về mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng đối với KT NQD
tại chi nhánh NHNT Quảng ninh.
II/ Những giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân
hàng đối với KT NQD tại chi nhánh NGNT Quảng ninh.
1/ Đa dạng hoá các hình thức tín dụng đối với KT NQD.
2/ Thực hiện biện pháp thẩm định kỹ trớc khi cho vay và tăng cờng kiểm
tra trong và sau khi cho vay.
3/Thực hiện các biện pháp bảo đảm trong kinh doanh tín dụng.
4/ Chủ động tìm khách hàng và chú ý đầu t vốn cho các doanh nghiệp
viên doanh hợp tác đầu t với nớc ngoài có kỹ thuật công nghệ hiện đại.
5/ Chi nhánh cần tích cức giải quyết các vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi và
bảo toàn vốn.
6/ Công tác cán bộ.
7/ Đổi mới chính sách khách hàng, quảng cáo sâu rộng về chính sách chế
Phát triển kinh tế nhiều thành phần không phải là đặc điểm riêng có ở nớc
ta mà nó đã trở thành một qui luật phổ biến trong sự phát triển kinh tế trên toàn
thế giới. Tuy nhiên, mỗi nớc có những đặc điểm riêng của nó. Phát triển kinh tế
ngoài quốc doanh ở nớc ta là đờng lối chiến lợc quan trọng, nhất quán và lâu dài
trong giai đoạn đầu chuyển sang kinh tế thị trờng. ở đó, ngời ta có thể phân chia
thành kinh tế nhà nớc hay kinh tế t nhân, kinh tế quốc doanh hay kinh tế ngoài
quốc doanh. Dù cho các cách phân chia nh thế nào thì tựu chung vẫn có hai khu
vực kinh tế, đó là khu vực kinh tế nhà nớc và khu vực kinh tế t nhân dựa trên hai
hình thức sở hữu chính đó là: Sở hữu nhà nớc và sở hữu t nhân. Ngoài ra còn có
loại hình thức kinh tế hợp doanh đợc hình thành do sự kết hợp giữa hai hình thức
sở hữu này.
ở nớc ta, đại hội VII của Đảng cộng sản Việt nam khẳng định nớc ta có
các thành phần kinh tế sau: Kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể,
kinh tế t bản t nhân và kinh tế t bản nhà nớc. Trong đó kinh tế quốc doanh thực
hiện tốt vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể để trở thành nền tảng của nền
kinh tế quốc dân.
Kinh tế quốc doanh: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà n-
ớc về t liệu sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn bộ vốn thuộc về
nhà nớc hoặc phần của nhà nớc chiếm tỷ trọng khống chế. Đại diện của thành
phần kinh tế này là các doanh nghiệp nhà nớc, đó là tổ chức kinh tế do nhà nớc
đầu t vốn thành lập và tổ chức quản lí hoạt động kinh doanh hay hoạt động công
ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nớc giao.(Luật DNNN
-Điều 1).
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kinh tế hợp tác: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm
những đơn vị kinh tế do ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh
theo nguyên tắc tự nguyện dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Nòng cốt của loại
hình này là các HTX. Đây là các tổ chức kinh tế tự chủ do những ngời lao động
có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo qui định
Đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các yếu tố của quá trình tái
sản xuất chỉ thuộc phạm vi sở hữu của một hoặc một số cá nhân, do đó đặc điểm
đầu tiên của kinh tế ngoài quốc doanh là sự hạn chế về qui mô nguồn vốn. So
với kinh tế quốc doanh đợc sự hỗ trợ của nhà nớc về vốn thì kinh tế ngoài quốc
doanh có một lợng vốn tiền tệ nhỏ hơn rất nhiều. Đây là một hạn chế rất lớn
cho kinh tế ngoài quốc doanh trong quá trình cạnh tranh bởi vì đối với bất cứ
một doanh nghiệp thuộc loại hình kinh tế nào, hoạt động trên lĩnh vực nào của
nền kinh tế thì vốn vẫn luôn luôn là một yếu tố quan trọng hàng đầu.
Với một khối lợng vốn lớn, chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng thực hiện đầu
t đổi mới dây truyền công nghệ, tăng năng suất, chất lợng và hiệu quả của quá
trình sản xuất và khi cần thiết có thể nhanh chóng chuyển hớng sản xuất kinh
doanh. Đây là một trong những điều kiện giúp doanh nghiệp đứng vững trong
quá trình cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trờng. Do vậy, để có thể tồn tại
và phát triển cùng với các thành phần kinh tế khác, kinh tế ngoài quốc doanh ở
nớc ta rất cần có sự trợ giúp về vốn từ phía các tổ chức tín dụng mà cụ thể là từ
các Ngân hàng thơng mại.
1.2.2/Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu:
Trình độ công nghệ quyết định năng suất chất lợng và khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trờng. Nhng do qui mô nguồn vốn của kinh tế ngoài
quốc doanh nhỏ, nên dẫn đến sự hạn chế đáng kể trong việc tăng cờng trang bị
cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh. Hiện tại các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có công nghệ tiên tiến, hiện đại không nhiều chỉ có một số xí
nghiệp liên doanh, công ty có vốn đầu t nớc ngoài mới đợc trang bị máy móc
dây chuyền mới, còn hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu t trong nớc còn sử
dụng công nghệ thủ công, dây chuyền thiết bị chắp vá, thiếu đồng bộ. Theo số
liệu điều tra năm 1998 chỉ có 25% số doanh nghiệp và 20,5% số công ty t nhân
sử dụng công nghệ hiện đại , 33,5% số doanh nghiệp và 18,7% số công ty t nhân
sử dụng công nghệ truyền thống, 38,5% số doanh nghiệp và 60,5% số công ty t
nhân kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại.
Hơn nữa, trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, lại bị Mỹ cấm vận trong
chiếm trên 2/3 tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chỉ gần 1/3 là lĩnh vực
sản xuất. Đây là một cơ cấu cha cân đối, đặc điểm này gây trở ngại rất lớn cho
các Ngân hàng trong việc mở rộng cho vay vốn vì các Ngân hàng không muốn
đầu t vốn đối với các khách hàng có phơng hớng sản xuất kinh doanh không ổn
định.
1.2.5/ Năng động và nhạy bén trong cơ chế thị tr ờng:
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do quá trình ra đời, hoạt động và phát triển luôn gắn liền với nền kinh tế
thị trờng nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhanh chóng nắm bắt và thích
nghi với những biến động của nền kinh tế, có những biện pháp điều chỉnh kịp
thời để chuyển hớng sản xuất kinh doanh. Mặt khác ở thành phần kinh tế này
tính tự chủ và khả năng quyết đoán cao là những điều kiện thuận lợi cho họ
trong việc chủ động khai thác nguồn nguyên vật liệu và tìm kiếm thị trờng tiêu
thụ hàng hoá, tất cả đều hớng tới một phơng án sản xuất kinh doanh tối u nhất
với chi phí đầu vào tối thiểu và thu nhập đầu ra tối đa nhằm tối đa hoá lợi nhuận
bằng cách thoả mãn kịp thời và đầy đủ mọi nhu cầu của thị trờng.
Tuy nhiên, do tính năng động và tự chủ cao, trong quá trình cạnh tranh dễ
đẫn đến mạo hiểm và gây ra rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Nếu
thiếu sự điều tiết, hớng dẫn của các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp này có
thể sẽ dễ dàng bỏ qua những qui định, nguyên tắc do nhà nớc đặt ra để chạy
theo lợi nhuận trớc mắt, gây hậu quả xấu cho nền kinh tế và xã hội của đất nớc.
1.3/ Vai Trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
Chính sách và chủ trơng mới của Đảng và nhà nớc trong việc chuyển
đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng đã tạo
tiền đề khách quan cho sự khôi phục và phát triển nhanh chóng của kinh tế
ngoài quốc doanh ở nớc ta. Trong nền kinh tế thị trờng, mọi chủ thể tham
gia cho dù là kinh tế quốc doanh hay là kinh tế ngoài quốc doanh đều chịu
sự chi phối, điều tiết bởi hàng loạt các qui luật của sản xuất và lu thông hàng
hoá. Cơ chế thị trờng đánh giá và chấp nhận các thành viên tham gia thị tr-
khu vực kinh tế này.
BảngI: Số lao động đợc sử dụng trong ngành công nghiệp của
Kinh tế ngoài quốc doanh
Đơn vị : ngời
Thời kỳ
1995 1996 1997 1998
Tổng
63.604 63.625 62.807 54.452
1.Kinh tế tập thể
5.237 5.246 4.968 4.376
2.Kinh tế t nhân
1.035 848 934 910
3.Kinh tế cá thể
46.847 45.639 42.206 36.36
4.Kinh tế hỗn hợp
10.488 11.892 14.694 12.806
1.3.2/ Kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp một khối l ợng lớn hàng hoá dịch
vụ phục vụ tiêu dùng trong n óc và xuất khẩu :
Sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh đa dạng về ngành nghề về qui
mô và hình thức kinh doanh đã thực sự bù đắp những thiếu hụt, những lỗ hỗng
của nền kinh tế do sự phá sản, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của hàng loạt
các doanh nghiệp nhà nớc, khơi dậy tiềm năng to lớn và sức sáng tạo của nhân
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dân để phát triển sản xuất tạo ra sự sống động cho nền kinh tế tạo điều kiện thu
hút vốn đầu t nớc ngoài và đóng góp đáng kể cho quỹ hàng hoá tiêu dùng và một
phần đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng tiểu thủ công
nghiệp.
Đại bộ phận doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất hàng tiêu dùng và cung ứng dịch vụ hoặc trong lĩnh vực lu thông hàng hoá.
ngợc lại thúc đẩy kinh tế quốc doanh phát triển mạnh hơn. Kinh tế
ngoài quốc doanh đóng vai trò hỗ trợ cho kinh tế quốc doanh phát triển,
giải quyết những yêu cầu của nền kinh tế đặt ra mà khu vực kinh tế quốc
doanh không đảm nhận và nếu có đảm nhận thì hiệu quả không cao,
thậm chí không có hiệu quả.
Thực tế ở các nớc XHCN trớc đây cũng đã chứng minh rằng mặc
dù các nớc này có chiến lợc và mục tiêu kinh tế đúng đắn, song lại có sự
độc quyền của nhà nớc về kinh tế nên đã trở thành lực cản kìm hãm sự
phát triển, nền kinh tế trở nên xơ cứng, kém năng động và không có hiệu
quả. Kết quả là dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt khi hoà nhập vào nền kinh tế
thế giới mà ở đó khu vực kinh tế t nhân phát triển rất mạnh. Điều đó
cũng chứng tỏ rằng không có một khu vực kinh tế nhà nớc lớn mạnh nếu
sự phát triển của nó biệt lập với khu vực kinh tế t nhân. Đặc điểm của
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
là nhạy bén, năng động kịp thích ứng với tình hình biến động của thị tr-
ờng, bộ máy sản xuất kinh doanh gọn nhẹ. Hiệu quả kinh tế gắn liền với
lợi ích kinh tế của ngời lao động cho nên họ luôn tiết giảm đợc những chi
phí trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, sản xuất nhiều mặt
hàng mẫu mã đẹp, chất lợng cao, giá thành hạ, phù hợp với thị hiếu ngời
tiêu dùng, đó là những yếu tố đầy sức hấp dẫn với quy luật cạnh tranh thị
trờng. Ngợc lại, với nền kinh tế chỉ huy ngời tìm hàng thì ở đó họ sản
xuất ra những gì mà thị trờng cần chứ không phải sản xuất ra những gì
mà họ có.
1.3.5/ Kinh tế ngoài quốc doanh là thị tr ờng để Ngân hàng huy động vốn
tín dụng góp phần ổn định l u thông tiền tệ:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế nớc ta từ nền kinh tế hiện
vật tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá thì khối lợng tiền tệ trong nền
kinh tế cũng tăng lên là điều tất yếu. Nếu trong điều kiện nền kinh tế chỉ
huy do kinh tế quốc doanh làm chủ và chỉ đạo thị trờng, tình trạng sản
lực trong nền kinh tế. Các chủ thể kinh tế đợc tự do kinh doanh theo qui định
của pháp luật. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu t trong nớc đã
phát huy đợc thế mạnh của nó, khu vực này bao gồm hai loại hình: Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh và kinh tế hộ gia đình.
Loại hình doanh nghiệp: Bao gồm những công ty đăng ký với số vốn
không thấp hơn mức vốn pháp định do nhà nớc quy định, hoạt động theo luật
doanh nghiệp. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động dới nhiều hình thức:
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Doanh nghiệp t nhân do một t nhân làm chủ, Công ty trách nhiệm hữu hạn do
một số sáng lập viên lập nên và làm chủ, công ty cổ phần do những ngơì nắm
giữ cổ phiếu làm chủ, hoặc tham gia dới hình thức hợp tác xã. Trong điều kiện
nớc ta hiện nay phổ biến nhất là hai loại hình công ty t nhân và công ty trách
nhiệm hữu hạn bởi nhiều lí do, trong đó lý do quan trọng nhất là số vốn cần thiết
cho việc thành lập và hoạt động nhỏ, còn sự phát triển của công ty cổ phần vẫn
còn tơng đối mới mẻ ở Việt nam.
Trong những năm qua số lợng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng lên
khá nhanh, theo ớc tính hiện nay có khoảng 25.000 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đang hoạt động. Trong khi đó số doanh nghiệp quốc doanh lại có xu hớng
giảm xuống do tiến hành cổ phần hoá hoặc do kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến
giải thể, phá sản của một loạt các doanh nghiệp nhà nớc. Vì vậy một bộ phận
lớn ngời lao động có trình độ, tay nghề đã chuyển từ doanh nghiệp nhà nớc sang
làm việc ở khu vực kinh tế t nhân, do khu vực này đang làm ăn có hiệu quả.
Nhng một hạn chế lớn nhất đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở
nớc ta là vốn cho đầu t mở rộng sản xuất. Với nguồn vốn tự có chủ yếu dới dạng
nhà xởng, máy móc thiết bị do vậy sau một thời gian hoạt động sản xuất trang
thiết bị trở nên lỗi thời không còn thích ứng đợc với nhu cầu thị trờng. Để tồn tại
và phát triển thì phải đổi mới dây chuyền thiết bị, trang bị công nghệ hiện đại.
Trong khi đó nguồn vốn tự có lại có hạn, nguồn vốn đi vay cũng bị hạn chế bởi
quy mô và tài sản đó. Nh vậy trong tơng lai không xa một xu hớng tất yếu xảy ra
ngoài quốc doanh 90%. Trong đó thành phần kinh tế t bản nhà nớc
không quá 30%, kinh tế t nhân 20%, kinh tế tập thể 20%, kinh tế cá thể
và gia đình 30%. Mô hình kinh tế hộ gia đình, các xí nghiệp vừa và nhỏ
là phù hợp với đặc điểm kinh tế ngoài quốc doanh. Sẽ xuất hiện những
tập đoàn kinh tế t bản t nhân bên cạnh những tập đoàn kinh tế nhà nớc
trong môi trờng cạnh tranh tự do, bình đẳng cùng tham gia quá trình
phân công lao động trong nớc và hợp tác quốc tế.
2.2/ khu vực kinh tế có vốn đầu t n ớc ngoài :
Kể từ khi Nhà nớc thực hiện chính sách mở cửa, tham gia vào các
quan hệ kinh tế quốc tế, đã xuất hiện nhiều tổ chức nớc ngoài đầu t vào
Việt nam, hàng năm khu vực này đóng góp một tỷ lệ lớn vào GDP, góp
phần chuyển giao công nghệ, khoa học quản lý hiện đại, thu hút lao động
trong nớc với mức lơng cao, đào tạo công nhân kỹ thuật, rèn luyện phong
cách lao động công nghiệp hoá.
Trong những năm gần đây, hoạt động đầu t nớc ngoài đang đợc
nhiều ngời quan tâm và trên thực tế hoạt động đầu t nớc ngoài đã và đang
đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng trởng kinh tế đất nớc mở rộng
và thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế từng bớc hội nhập vào nền kinh
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế thế giới. Hoạt động đầu t nớc ngoài vào Việt nam đợc bắt đầu từ cuối
năm 1987 và đợc đánh dấu bằng sự ra đời luật đầu t nớc ngoài. Từ đó tới
nay hoạt động đầu t nớc ngoài ngày một tăng lên cả về tổng số vốn đầu t,
số lợng dự án đầu t, số nớc tham gia và các lĩnh vực đầu t. Tuy vậy, từ
năm 1997 đến nay hoạt động đầu t nớc ngoài có phần giảm sút so với các
năm trớc, đây đang là vấn đề đợc sự quan tâm chú ý của nhiều nhà kinh
tế. Phải thừa nhận rằng đầu t nớc ngoài giảm sút trong mấy năm qua có
nhiều nguyên nhân nh ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở
châu á, môi trờng đầu t cha hấp dẫn, thủ tục hành chính rờm rà, chính
sách thuế thiếu ổn định. Nhng với lợi thế ở nớc ta có nguồn lao động dồi
của hình thức tín dụng này là lãi suất cho vay rất cao từ vài chục đến
hàng trăm %.
Tín dụng nặng lãi không thúc đẩy nền sản xuất mà nó chỉ nhằm
mục đích phục vụ những nhu cầu tối thiểu của con ngời.
Nền sản xuất kinh doanh hàng hoá ngày càng phát triển, các nhà
kinh doanh t bản hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu, họ phải
xem xét tới chi phí vay vốn của mình, để có lãi trong kinh doanh nhà t
bản không vay vốn với lãi suất cao hơn tỷ suất lợi nhuận. Do đó, xuất
hiện một hình thức tín dụng phù hợp hơn đó là tín dụng thơng mại. Tín
dụng thơng mại là hình thức mua bán chịu lẫn nhau giữa các nhà sản
xuất hàng hoá, giữa các thơng nhân với nhau, giữa các nhà sản xuất với
các thơng nhân. Theo C. Mác Tín dụng thơng mại không phải cho vay
bằng hàng hoá mà cho vay bằng tiền của hàng hoá đem bán chịu . Quan
hệ mua bán chịu này chỉ diễn ra trong một phạm vi nhỏ của nền kinh tế,
chỉ giữa các đơn vị có liên quan trực tiếp với nhau, có thông tin đầy đủ
về nhau. Vì vậy hình thức tín dụng này cũng không đáp ứng đợc nhu cầu
ngày càng phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Từ những hạn chế của tín dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng ra
đời. Hoạt động tín dụng này có liên quan đến một chủ thể rất quan trọng
đó là Ngân hàng. Khi nói về vấn đề này C.Mác nhận xét Ngân hàng ra
đời với vai trò môi giới tài chính trung gian và tập trung các khoản tiền
nhàn rỗi trong nền kinh tế đem cho các nhà doanh nghiệp và công chúng
vay. Bằng cách đó tạo ra sức mua cho họ mà không làm giảm sức mua
của bất kỳ ai. Đó chính là nét nổi bật trong vai trò của Ngân hàng tạo
điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ .
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2/Vai trò của tín dụng Ngân hàng với sự phát triển của kinh tế ngoài
quốc doanh:
Vốn có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh
ngân hàng kinh tế ngoài quốc doanh sẽ có một lợng vốn đủ lớn để đáp
ứng các yêu cầu đầu t cho sản xuất kinh doanh, có điều kiện cần thiết để
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác và phát huy vai trò của mình
đối với nền kinh tế quốc dân.
Thông qua quan hệ cho vay vốn, để đảm bảo tiền vay đợc sử dụng
đúng mục đích và có hiệu quả ngân hàng đi sâu nghiên cứu phơng án sản
suất kinh doanh, các dự án về kinh tế kỹ thuật và tài chính của doanh
nghiệp để cùng với doanh nghiệp xác định những hớng đi đúng đắn,
nghiên cứu nhu cầu vốn cần thiết, hiệu quả của quá trình sử dụng vốn
cũng nh khả năng hoàn trả của ngời vay qua đó đóng góp cho doanh
nghiệp những ý kiến đúng đắn và thích hợp. Khi đó, vì lợi ích kinh tế và
xã hội của cả hai bên ngân hàng đóng vai trò là một cơ quan t vấn cho
các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với Ngân hàng.
Bên cạnh đó tín dụng Ngân hàng còn có tác dụng điều tiết, hớng
dẫn các doanh nghiệp hoạt động theo một định hớng chung của nhà nớc,
hạn chế tính tự phát chạy theo lợi nhuận của kinh tế ngoài quốc doanh,
đảm bảo một nền kinh tế phát triển lành mạnh và đồng đều, không có
những mất cân đối nghiêm trọng xảy ra.
Trên đây là toàn bộ vai trò kinh tế quan trọng của tín dụng ngân
hàng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và đối với khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh nói riêng. Tuy nhiên, tất cả các vai trò đó vẫn còn
nhiều tiềm ẩn, trong thực tế hiện nay không ít những hộ sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải trang trải sự thiếu vốn của
mình thông qua hình thức tín dụng không chính thức, sự nhanh chóng
trong thủ tục vay vốn, chủ yếu thông qua hình thức tín chấp, đã làm cho
các ông chủ doanh nghiệp t nhân sẵn sàng chấp nhận một mức lãi suất
cao hơn để khỏi làm mất cơ hội kinh doanh. Trong khi đó các Ngân hàng
thơng mại vẫn còn quá thận trọng trong cho vay đối với thành phần kinh
kinh doanh của mình và bản thân các Ngân hàng thơng mại cũng sẵn
sàng và yên tâm hơn khi cho vay trong một môi trờng kinh tế ít biến
động. Sự ổn định ở đây bao hàm cả yếu tố chính trị, an ninh và xã hội.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á bắt đầu từ tháng 7/1997
đã cho chúng ta thấy một thực tế rằng khi một nền kinh tế bị mất
ổn định cả về kinh tế và chính trị sẽ dẫn đến sự suy giảm lòng tin của các
nhà đầu t trong nớc và quốc tế, số lợng những doanh nghiệp bị phá sản
tăng lên, chất lợng tín dụng trong các Ngân hàng thơng mại giảm đi,
nhiều Ngân hàng rơi vào tình thế hoặc phải sát nhập hoặc phải tuyên bố
phá sản.
2.2/ Nhân tố luật pháp:
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhân tố luật pháp có vị trí hết sức quan trọng đối với chất lợng
hoạt động của Ngân hàng và đặc biệt là hoạt động tín dụng, tạo môi tr-
ờng hành lang pháp lí cho mọi hoạt động của Ngân hàng. Nhân tố luật
pháp ở đây bao gồm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ và
thống nhất của các văn bản dới luật đồng thời gắn liền với nó là quá trình
chấp hành luật pháp và trình độ dân trí trong xã hội. Nếu không có một
môi trờng pháp lí kinh doanh rõ ràng, sòng phẳng để tất cả các doanh
nghiệp thực hiện. khung pháp luật điều chỉnh kinh doanh không có tính
hệ thống, lùng bùng và đặc biệt là không phải là một khối trong suốt.
Thì việc mở rộng và nâng cao chất lợng tín dụng Ngân hàng, đặc biệt là
đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh khó có thể thực hiện đợc.
2.3/ Những qui định của nhà n ớc và Ngân hàng Trung ơng :
Với mục tiêu đảm bảo hoạt động của các tổ chức tín dụng đợc lành mạnh,
an toàn và có hiệu quả, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đồng
thời phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự
quản lí của nhà nớc theo định hớng XHCN, luật các tổ chức tín dụng, chính phủ
và Ngân hàng nhà nớc Việt nam có những qui định buộc các tổ chức tín dụng
tín dụng ( trừ chi nhánh Ngân hàng nớc ngoài ) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu
là 8% giữa vốn tự có so với tài sản có, kể cả các cam kết ngoại bảng đợc
điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Qui định giới hạn này nhằm đảm bảo an
toàn trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thơng mại.
- Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn đợc sử dụng cho vay trung
dài hạn đối với các tổ chức tín dụng nhà nớc, tổ chức tín dụng liên doanh
và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài là 25%.
- Ngoài ra những quy định về lãi suất trần, lãi suất sàn và mức chênh
lệch bình quân giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay cũng ảnh
hởng rất lớn tới việc mở rộng cho vay của Ngân hàng.
2.4/ Năng lực, chất lợng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách
hàng
Các yếu tố của khách hàng có ảnh hởng tới việc mở rộng và nâng
cao hiệu quả tín dụng của Ngân hàng:
- Năng lực pháp lí của khách hàng:
Khách hàng vay vốn là doanh nghiệp phải có t cách pháp nhân, đối
với cá nhân phải là những ngời có đầy đủ năng lực pháp lí và năng lực
hành vi, có hộ khẩu thờng trú trên cùng địa bàn với ngân hàng cho vay.
Năng lực pháp lí là điều kiện tiên quyết để Ngân hàng xem xét cho vay
nhằm xác định trớc pháp luật về việc trả nợ vay cho ngân hàng.
-Uy tín của khách hàng:
Đây là yếu tố hết sức quan trọng mà Ngân hàng cần phải đánh
giá. Phần lớn các thông tin của khách hàng đều đã đợc Ngân hàng biết
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đến. Đối với một khách hàng cũ, những giao dịch trớc đó của Ngân hàng
với họ sẽ đa lại một lợng lớn thông tin về tính trung thực, các nguồn tài
chính và năng lực của khách hàng, thông tin về tính nghiêm túc trong
việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tính ổn định trong sản xuất kinh doanh.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng. Muốn vậy, chính sách tín dụng phải đợc xây dựng một cách đúng
đắn trên cơ sở khoa học. Đối với Ngân hàng thơng mại phải đảm bảo khả
năng sinh lời của hoạt
động tín dụng trên cơ sở tuân thủ những quy định của
pháp luật và đờng lối chính sách của Đảng và nhà nớc. Mặt khác đối với khách
hàng phải đảm bảo lãi suất tiền vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân mà họ
thu đợc, nhu cầu vay vốn đợc giải quyết nhanh chóng, thuận lợi đúng qui định.
- Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lí tín dụng của Ngân hàng.
Nhờ có thông tin tín dụng ngời quản lý có thể đa ra những quyết định nhanh
chóng, chính xác trong hoạt động tín dụng. Thông tin tín dụng càng nhanh nhạy,
chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng càng lớn. Trong tơng lai khi cơ cấu tổ chức và các hình
thức hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng đợc hoàn thiện thì việc thu thập
phân tích các báo cáo về tình hình tài chính của doanh nghiệp và tổ chức kinh tế
sẽ đầy đủ hơn và chính xác hơn.
- Nhân tố con ngời:
Con ngời là nhân tố quyết định đến sự thành bại hoạt động Ngân hàng nói
chung và công tác tín dụng nói riêng. Nghiệp vụ Ngân hàng ngày càng phát
triển đòi trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng ngày càng cao để có thể sử dụng
đợc các phơng tiện làm việc hiện đại. Đặc biệt đối với cán bộ tín dụng ngân
hàng phải có phẩm chất đạo đức tốt, có các nghiệp vụ về tiếp cận với khách
hàng và giỏi về nghiệp vụ phân tích tín dụng, phân tích tài sản thế chấp, kiểm tra
tín dụng, thẩm định các dự án cho vay, xây dựng hợp đồng tín dụng, giải quyết
vấn đề nợ khó đòi, phải am hiểu kiến thức và qui luật trong nền kinh tế thị tr-
ờng, kiến thức về luật pháp. Thực tế đã chứng minh rằng Ngân hàng có cán bộ
tín dụng có trình độ đại học và trên đại học cao thì tỷ lệ nợ quá hạn ở Ngân hàng
đó luôn ở mức thấp. Do đó có thể khẳng định rằng trình độ và phẩm chất cán